Ủy ban nhân dân xã chiềng đÔNG



tải về 102.02 Kb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu24.07.2018
Kích102.02 Kb.
#27829
  1   2   3   4   5   6   7

ỦY BAN NHÂN DÂN

XÃ CHIỀNG ĐÔNG

Số: /BC-UBND



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Chiềng Đông, ngày 14 tháng 11 năm 2014



BÁO O
ĐÁNH GIÁ RI RO THIÊN TAI DỰA VÀO CNG ĐNG

XÃ CHIỀNG ĐÔNG, HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
I. GIỚI THIỆU CHUNG:

Xã Chiềng Đông nằm ở dọc theo dòng suối Vạt, Suối Hịt; có tổng diện tích tự nhiên 7.244,00 ha; trong đó đất sản xuất nông nghiệp: 2.145,23 ha, đất lâm nghiệp 3.754,3 ha, còn lại là núi đá và đất khác; địa bàn được chia làm 14 bản; có 1.769 hộ với 7.949 nhân khẩu, gồm có 4 dân tộc cùng sinh sống, dân tộc Thái chiếm 93%; dân tộc Kinh chiếm 2,5%; dân tộc Mông 4,0%; dân tộc Khơ Mú 0,5 %. Cơ cấu kinh tế chủ yếu là sản xuất Nông – Lâm nghiệp – Dịch vụ.

Đảng bộ xã có 21 Chi bộ với 330 đảng viên, các tổ chức đoàn thể cùng hoạt động thống nhất theo đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Xã có trục đường Quốc lộ 6 chạy qua 9 km, có 35,9 Km đường giao thông nông thôn. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2013 đạt 6.820,0 tấn; hộ nghèo năm 2014 còn 489 hộ chiếm 28,58%, công tác an ninh – quốc phòng đảm bảo ổn định và giữ vững.
II-KT QU ĐÁNH GIÁ RI RO THIÊN TAI

A-THÔNG TIN CƠ BN

1.Đặc đim đa lý:

Vị trí địa lý: Xã Chiềng Đông là xã nằm ở phía bắc của huyện Yên Châu chạy dọc theo dòng suối Vạt và Suối Hịt, cách Trung tâm huyện 13 km, tiếp giáp theo các hướng:



  • Phía Đông giáp xã Sạp Vạt – huyện Yên Châu.

    • Phía Tây giáp với xã Nà Bó, Cò Nòi – huyện Mai Sơn.

    • Phía Nam giáp xã Chiềng Sàng, Chiềng Pằn – huyện Yên Châu.

    • Phía Bắc giáp xã Hua Nhàn– huyện Bắc Yên.



2. Tình hình dân số:

Toàn xã hiện có 1.769 hộ với 7.949 nhân khẩu. Trong đó: Nam giới có 4.064 người, chiếm 51,12%. Nữ giới có 3.885 người, chiếm 48.8848,87%. Trẻ em dưới 18 tuổi có 2.005 người chiếm 25,2%. Thanh niên và trung niên (có độ tuổi từ 18-60) có 5.389 người( Nam 2.394, nữ 2.995) chiếm 67,8%; Phụ nữ có thai và nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi có 167 người chiếm 2,1%. Người già có 555 người ( nam 222, nữ 333) chiếm 7,0% . Người khuyết tật có 43 người chiếm 0,54%. Người bị bệnh hiểm nghèo có 14 người chiếm 0,18%.



3. Vic s dụng đt, nưc, rng (tài nguyên thiên nhiên):

Với tổng diện tích tự nhiên là 7.244 ha, việc sử dụng đất của xã nhằm phục vụ cho mục đích: đất ở, đất sản xuất nông nghiêp. Cụ thể: Đất thổ cư: 41,73 ha; Đất nông nghiệp 2.145,23 ha; (Trong đó: đất lúa nước 163 ha, Đất trồng cây hàng năm 1.883,55 ha, Đất trồng cây lâu năm 79,55 ha, Đất nuôi trồng thuỷ sản 19,13 ha); Đất rừng 3.754,3 ha; Đất phi nông nghiệp 203,11 ha; Đất Khác 1.100,16 ha.


4. Các hot đng sn xut, kinh doanh:

- Ngành nghề của người dân xã Chiềng Đông chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chỉ có một tỷ lệ nhỏ là hộ buôn bán, kinh doanh dịch vụ.

- Sản lượng nông nghiệp đạt: 6.820,0 tấn; Sản lượng bình quân đạt 72,1 kg/người/năm.

Trong đó:

- Cây lương thực : Lúa xuân diện tích gieo cấy 83,1 ha, năng suất bình quân 67,9 tạ/ha, sản lượng 564,3 tấn. Lúa mùa diện tích gieo cấy 163,2 ha, năng suất bình quân đạt 58,4 tạ/ha, sản lượng 953,8 tấn. Ngô diện tích gieo trồng 812,9 ha, năng suất bình quân đạt 58,5 tạ/ha, sản lượng 4.755,8 tấn.

- Các loại cây trồng khác: Lạc 5,0 ha, năng suất đạt 15 tạ/ha, sản lượng đạt 7,5 tấn; Sắn 02 ha; Diện tích trồng rau các loại 83,0 ha như Tỏi, hành, rau, cà chua; cây ăn quả các loại 115,0 ha, cây xoài, cây bưởi, cây nhãn;

- Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc: 10.862 con, gia cầm hiện có: 54.420 con.



5. Cơ sở hạ tầng:

- Công trình thủy lợi: Có 4 phai đập kiên cố, có 46,8 km kênh mương, đã kiên cố được 18,4 km đạt 39,31 %.

- Trường lớp học: có 05 trường (Mầm non 02 trường, Tiểu học 02 trường, Trung học cơ sở 01 trường), trong đó có trường Tiểu học Chiềng Đông B công nhận đạt chuẩn Quốc gia.

- Đường giao thông chủ yếu là đường đất gồm: 35,9 km, chủ yếu là đường đất chưa được bê tông hóa.

- Hệ thống lưới điện dân dụng có 04 trạm biến áp, với 21,0 km đường dây điện.

- Xã có 04 trạm phát thanh, có 08 loa phóng thanh tại 04 08 bản, Bản Thèn Luông, Luông Mé, Bản Chai, Na Pản, Bản Hượn, Bản Chủm, Bản Huổi Pù, Bản Nhôm.



6. Nhà ở:

Toàn xã hiện có 1.8769 ngôi nhà. Trong đó: Nhà kiên cố: 315 nhà; nhà bán kiên cố: 1.500 nhà, Nhà ven suối: 34 nhà, nhà ven núi, sườn đồi 30 nhà.



7. Nưc sch, v sinh và i trưng:

- Xã có 04 công trình nước sạch, có 637 hộ tại Bản Thèn Luông, Nặm Ún, Huổi Pù, Bản Na Pản, được sử dụng = 36,0 % . Có 133 giếng nước 158 hộ được sử dụng.

- Người dân chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, chưa biết cách thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, các bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng còn vứt rác bừa bãi; chưa có công trình hố rác tập trung tại các bản . 80% số hộ chưa có nhà vệ sinh hợp vệ sinh, 20% số hộ có nhà vệ sinh kiên cố.
8. Y tế:

01 trạm y tế, gồm 01 Bác sỹ, 02 Y sỹ, 02 y tá, 01 nữ hộ sinh, 01 điều dưỡng, trạm y tế xã chưa đạt chuẩn quốc gia, do đã xuống cấp.



9. Công tác phòng, chống thiên tai

Đảng uỷ, HĐND, UBND xã đã xác định công tác PCTT là một trong những công tác trọng tâm hàng đầu trong mùa mưa lũ. Vì vậy hàng năm, xã đã xây dựng kế hoạch và phương án PCTT tìm kiếm cứu nạn với phương châm “chủ động phòng tránh, ứng phó kịp thời, khắc phục nhanh chóng và hiệu quả ” nhằm giảm tới mức thấp nhất về người, tài sản, môi trường do thiên tai gây ra, chính quyền xã đã tích cực chủ động trong công tác tuyên truyền đến người dân trong xã thông qua các buổi họp thôn.

Xã đã thành lập ban chỉ huy PCTT gồm 38 người gồm các ban, ngành đoàn thể trong đó: có 6 nữ; đội xung kích xã với số lượng 15 người; lực lượng cứu hộ cứu nạn 155 người, lực lượng dự bị động viên gồm 186 người; lực lượng dân quân 112 người, tại 14 /14 bản.

Sau mỗi lần thiên tai, Ban chỉ huy thưc hiện nghiêm túc việc đánh giá thiệt hại, đánh giá nhu cầu và rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác PCTT, đồng thời có biện pháp khắc phục, báo cáo cấp trên kịp thời theo quy định.


B. THÔNG TIN ĐÁNH GIÁ V THN TAI, NH TRẠNG D B TN THƯƠNG VÀ NĂNG LC PHÒNG, CHNG THN TAI

I. Thông tin đánh giá v thiên tai địa phương

* Nhn xét chung:

Là một xã trung du miền núi, có dòng suối Vạt và suối Hịt chảy qua, lại có nhiều khe lạch chảy về, vì vậy hàng năm vào mùa mưa bão thường bị mưa to, lũ, lũ quét kèm theo sạt lở đất, làm thiệt hại lớn đến tài sản, hoa màu của nhân dân và của Nhà nước, ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng phát triển kinh tế của địa phương.



* Các thiên tai thường xuyên xảy ra trên địa bàn xã:

1. Lũ quét: Xu hướng mưa to kéo dài, lũ trên thượng nguồn đổ về nhanh cục bộ, mạnh, thất thường, càng ngày càng nhiều hơn.

Tháng 4/2003, xảy ra lũ quét Khe suối cạn bản Nặm Ún đã làm 4 người chết (03 nam, 01 nữ), vùi lấp 20 ha ngô mới trồng, 20 ha ao cá bị vùi lấp, 01 con trâu bị chết. Nguyên nhân do người dân chủ quan, phá rừng đầu nguồn.Người dân ngủ ở khe suối cạn. Lũ đến bất người dẫn đến thiệt hại về người và tài sản, ao cá ở vùng thấp. UBND xã đã huy động lực lượng tìm kiếm người bị nạn. Quyên góp ủng hộ các gia đình bị nạn. Tăng cường tuyên truyền đến người dân về PCTT.

- Năm 2008, lũ quét mưa lớn cục bộ kéo dài, tại địa bàn xã khu vực ven suối Vạt, suối Hịt đã bị cuốn trôi, vùi lấp thiệt hại 35 ha lúa mùa, 27 ha ngô, 8 ha ao cá, 05 con trâu và 05 nhà dân. Bị thương 02 người dân = là 02 nữ tại Bản Cung Giao Thông và Na Pản do bị sạp lở đất.

2. Sạt lở đất: Do điều kiện về địa hình đồi dốc, một số hộ dân trong bản thường làm nhà ở sát chân dốc, vì vậy khi mưa to kéo dài nhiều ngày dẫn đến gây sạt lở đất. Sạt lở đất thường xảy ra nhanh, cục bộ khó dự đoán .

Tháng 9/2008, cơn bão số 6 làm sạt lở đất tại bản Huổi Pù, Bản Luông Mé, gây thiệt hại: 02 hộ gia đình phải di dời nhà ở, uớc tính thiệt hai khoảng 120 triệu đồng.



3. Lốc xoáy: Thường xảy ra nhanh, do thay đổi mùa, cục bộ, bất ngờ, khó dự đoán, trong những năm gần đây lốc xoáy thường xảy ra nhiều hơn.

- Năm 2010, lốc xoáy bất ngờ cường độ mạnh tại bản Púng Khoai đã làm tốc mái 20 ngôi nhà và 25 ha ngô bị đổ gẫy làm giảm năng 30%, thu nhập thấp dẫn đến đói nghèo. Do người dân thiếu kiến thức phòng chống thiên tai, chủ quan. Ban quản lý thôn bản đã báo cáo lên UBND xã đề nghị hỗ trợ, UBND xã đã báo cáo UBND huyện và vận động nhân dân quyên góp ủng hộ giúp đỡ. Uớc tính giá trị thiệt hại khoảng 200 triệu đồng.



4. Rét hại: Xu hướng càng ngày, càng nhiều, nhiệt độ xuống thấp hơn, độ ẩm thấp, đôi khi kèm sương muối, có những trận rét kéo dài hơn 01 tháng xuống đến 3o C.

- Cuối năm 2008 rét đậm, rét hại nhiệt độ thấp kéo dài hơn 01 tháng, kèm theo sương muối, toàn xã có 1.800 người già và trẻ em bị ảnh hưởng sức khoẻ, học sinh nghỉ học 2 tuần; làm ảnh hưởng đến gia súc, gia cầm, làm chết 32 con trâu, 22 con bò, 60 con dê, 92 con lợn và 1.032 con gia cầm, 2,5 tấn giống mạ bị chết. 83,1 ha lúa bị chết, 02 tấn cá các loại bị chết rét và thiệt hại 0,5 ha hoa màu. Môi Trường bị ô nhiễm, nguồn nước sạch bị ảnh hưởng. Do người dân thiếu kiến thức về kỹ thuật chăn nuôi. Chuồng trại chưa đảm bảo che chắn kịp thời. Một số hộ dân kinh tế còn khó khăn, chưa có điều kiện giữ ấm cho người và gia súc. Một số hộ còn thả rông gia súc, gia cầm. Do vậy cần tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân. Tập trung chăm sóc người già và trẻ em khi có các đợt rét xảy ra, xây dựng chuồng trại chăn nuôi đảm bảo. Sử dụng giống mới trong sản xuất nông nghiệp có tính năng chịu rét cao. Không thả rông gia súc, gia cầm.



5. Mưa đá: Tháng 6 năm 2007, mưa đá xảy ra bất ngờ tại Bản Kéo Bó, Púng Khoai, Luông Mé, Bản Hượn đã làm tốc mái 20 ngôi nhà, 15 ha hoa màu và diện tích ngô bị dập nát và mất mùa, đường giao thông bị hư hỏng. Ban chỉ huy PCLB xã đã huy động, quyên góp ủng hộ các gia đình bị hư hỏng 35 hộ = 35.700.000 đ, cần tăng cường tuyên truyền đến người dân về phòng chống thiên tai.

II. Thông tin đánh giá v tình trạng dễ bị tổn thương (TTDBTT)

1. Nhn xét chung:

Với tổng dân số 7.949 nhân khẩu, trong đó Người già có 555 người, Trẻ em có 2005 người. Phụ nữ có thai và nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi có 167 người, người khuyết tật có 43 người, người bị bệnh hiểm nghèo có 14 người. Các hộ dân làm nhà bán kiên cố, 835 nhà ven suối, 71 nhà ở ven núi. Với những đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình đồi núi dốc, đường giao thông liên xã bằng đường đất, đi lại rất khó khăn cùng với những diễn biến ngày càng phức tạp của thiên tai đã ảnh hưởng đến đời sống người dân trong xã, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp thuần túy, phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, ít ngành nghề phụ, bên cạnh đó do nhận thức về rủi ro thiên tai của người dân còn hạn chế, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên trên địa bàn toàn xã, tình trạng dễ bị tổn thương còn nhiều.



2. Tình trạng dễ bị tổn thương toàn xã:

2.1 An toàn cộng đồng

*Vật chất:

- Có 835 hộ dân sống ven đồi dốc, ven suối, nhà ở chủ yếu là nhà sàn bán kiên cố (420 hộ), thiếu trang thiết bị ứng cứu khi có thiên tai xảy ra.

- Trụ sở UBND, Trạm y tế chưa kiên cố, xuống cấp; 02 bản chưa có Nhà văn hóa, hệ thống loa truyền thanh từ xã đến các bản để dự báo, cảnh báo, tuyên truyền chưa có và chưa được phủ sóng truyền thanh, truyền hình của huyện Yên Châu.

- Hệ thống đường GTNT tuy đã có nhưng chủ yếu là đường đất (100%) đi lại khó khăn, chưa được bê tông hoá, còn nhiều đoạn đường xuống cấp, do mưu lũ xói mòn, sạp lở dễ bị chia cắt khi có thiên tai xảy ra, chưa có biển cảnh báo ở những vùng có nguy cơ cao; 8 km đường giao thông đi lại khó khăn từ trung tâm xã lên Bản Huổi Siểu; 27 km từ trung tâm lên bản Kéo Bó, Púng Khoai.

- Hệ thống mương phai thuỷ lợi bị xuống cấp, ao cá ở vùng trũng, vùng ven suối, 4 bản Đông Tấu, Na Pản, Luông Mé, Nặm Ún thường xuyên bị lũ quét, thiếu trang thiết bị ứng cứu, 03 cầu đi liên bản bị xuống cấp nghiêm trọng.

- 60 ha lúa, 280 ha ngô nằm ở ven suối, thung lũng; ao cá ở vùng trũng, ven suối. 85% chuồng trại chưa kiên cố; 100% chưa có hỗ rác tập trung, 01 bản chưa có điện lưới quốc gia.



- 90% hộ dùng dụng cụ thô sơ để sản xuất; 70% gia súc, gia cầm còn thả rông; 80% chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh; 5% hộ chưa có phương tiện đi lại; 10% hộ chưa có phương tiện nghe nhìn; 30% hộ chưa có nước tự chảy.

- 5% chưa có thẻ BHYT; toàn xã có 2.560 người già và trẻ em;

* Tổ chức xã hội.

Do thiếu hệ thống loa truyền thanh nên việc tuyên truyền chưa sâu sát đến tận các bản. Các ban ngành đoàn thể của xã, BCH PCTT, cứu nạn đã có phương án PCTT, tuy nhiên chưa được trang bị kiến thức về phòng chống thiên tai và sơ cấp cứu ban đầu, thiếu trang thiết bị PCTT, tìm kiếm cứu nạn như nhà bạt, áo phao, phao cứu sinh, đặc biệt lực lượng làm công tác PCTT chưa được tổ chức diễn tập công tác về công tác cứu hộ, cứu nạn hàng năm do thiếu nguồn kinh phí. Việc tham gia của phụ nữ vào công tác PCTT còn hạn chế, tỷ lệ nữ trong các tổ chức, ban chỉ huy PCTT còn ít ( Ban chỉ huy PCTT với số người là 38 người, trong đó có 9 nữ chiếm 40,9%) ;

Chưa có đội xung kích từ xã đến bản, thiếu kiến thức PCTT; chưa được tập huấn, chưa tuyên truyền tốt việc chăm sóc sức khỏe, vệ sinh môi trường, công tác tuyên truyền còn hạn chế, sự phối hợp giữa các ban, ngành đoàn thể chưa đồng bộ. Trạm y tế xã chưa có đủ Bác sỹ; trình độ chuyên môn y tế bản còn thấp.

Chưa tổ chức vùng sản xuất chuyên canh tập trung, chưa áp dụng KHKT vào sản xuất, thiếu trang thiết bị, thiếu vốn, chưa bố trí sản xuất thu mua đầu ra cho SP để tăng thu nhập cho người dân.



* Thái độ động cơ:

Một số người dân sống ở ven đồi núi cao, suối, vùng có nguy cơ cao còn chủ quan, chưa chủ động trong công tác phòng tránh thiên tai; chưa có ý thức cao trong khám chữa bệnh định kỳ; còn sử dụng thuốc trừ cỏ bừa bãi, vứt rác bừa bãi; thiếu kiến thức KHKT trong sản xuất chăn nuôi, chưa có nghề phụ khi nông nhàn,

Chính quyền địa phương tuy đã quan tâm đến công tác PCTT nhưng nhiều khi chưa sâu sát, chưa phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, nhận thức về PCTT của một số cán bộ Xã, Bản chưa đầy đủ, cho đây là công việc của cấp trên.

Chị em phụ nữ còn thiếu kiến thức về rủi ro thiên tai, ít tham gia vào các hoạt động xã hội.


2.2 Sản xuất, kinh doanh:

- Trên 35 ha lúa, 18 ha rau màu nằm ở vùng trũng gần sông suối dễ bị ngập lụt, ngập úng dễ bị mất mùa, giảm năng suất khi có rét hại, năng nóng. có Có 21 ha diện tích ao cá là những ao hồ ven suối, cá có nguy cơ bị trôi, bị chết rét.

- Đàn gia súc 10.862 con, gia cầm các loại 54.420 con tiêm phòng chưa đầy đủ, chuồng trại chưa đảm bảo, có một số hộ vẫn còn thả rông nên dễ bị chết rét, cũng có thể bị dịch bệnh do chuồng trại không đảm bảo, ô nhiễm môi trường

- Ngành nghề chủ yếu của người dân là trồng lúa, trồng ngô, trồng màu, phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, nên dễ bị ảnh hưởng sâu bệnh, năng suất thấp.

- Diện tích ngô và cây ăn quả nhỏ lẻ chưa có đầu ra cho sản phẩm, thường bị tư thương ép giá nên thu nhập thấp, đời sống người dân còn khó khăn.

- Phương tiện sản xuất còn thiếu, thô sơ, 85% hộ dân vẫn sử dụng sức kéo trâu bò. Do địa hình đồi dốc cao.

- Nhiều diện tích đất sản xuất ở ven suối thường bị ngập lụt gây sạt lở đất dễ bị mất đất sản xuất.Địa hình của xã chủ yếu là đồi núi nên thiếu đất sản xuất, người dân phải đi làm thuê vì cón nhiều ngày nông nhàn.

- 85% hộ gia đình Chăn nuôi gia súc nhỏ lẻ, gia cầm còn thả rông, chuồng trại chưa đảm bảo:

- Người dân thiếu kiến thức về chăn nuôi, sản xuất, ý thức về chăm sóc, vệ sinh cho gia súc chưa cao, một số hộ còn thả rông trâu bò.

- Dịch vụ kinh doanh, buôn bán nhỏ lẻ thiếu hàng, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, giá cả không ổn định, bị tư thương ép giá.



2.3. Sức khỏe, vệ sinh môi trường:

- Do vị trí nằm ở thượng hạ lưu suối Vạt, suối Hịt thường xuyên bị ngâp lụt, mùa mưa lũ đất, đá, từ đầu nguồn đổ về. Mà xã chưa có khu rác thải tập trung, người dân còn vứt rác bừa bãi. Xác gia súc, gia cầm chết trong lũ lụt chưa thu gom kịp thời; có 35 % hộ chưa có nhà vệ sinh kiên cố nên nguy cơ ô nhiễm môi trường.

- Người dân vẫn thả rông trâu bò và gia súc, gia cầm. 50% người dân sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, thuốc bảo vệ thực vật không theo quy định, vứt bao bì bị nhiễm hóa chất bừa bãi, nên có nguy cơ bị ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt ở đầu nguồn (trên đầu nguồn dẫn về) khi có thiên tai xảy ra gây xói lở, sạt lở đất làm vùi lấp, hư hỏng hệ thống đường ống dẫn nước nên thiếu nước sinh hoạt; dẫn đến nhiều bệnh tật như bệnh đau mắt đỏ, bệnh ngoài da, bệnh Phụ khoa ở phụ nữ.

- Có 555 người già, 2.005 trẻ em dễ bị mắc các loại bệnh khi mùa đông đến.

- Trạm y tế chưa đạt chuẩn, y tế bản chưa đuợc đào tạo bài bản, chưa được tập huấn thường xuyên. Có 05% hộ dân chưa quan tâm đên sức khỏe bản thân, không đi khám sức khỏe theo định kỳ.

III. Thông tin đánh giá về năng lực phòng chống thiên tai (PCTT)

1. Nhn xét chung:

Với địa hình phức tạp, đồi núi cao chia cắt, thường xuyên có các thiên tai xảy ra nhưng cán bộ và nhân dân xã Chiềng Đông đã nỗ lực cố gắng để phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả để hạn chế thấp nhất thiệt hại do các loại thiên tai gây ra, vì hàng năm UBND xã đã kiện toàn Ban chỉ huy PCTT&TKCN gồm 38 người; đội thanh niên xung kích xã với số lượng 15 người, lực lượng cứu hộ cứu nạn 155 người. Chính quyền địa phương quan tâm đến công tác PCTT, hàng năm có lập kế hoạch và phương án PCTT.

Sau mỗi lần thiên tai, Ban chỉ huy thực hiện nghiêm việc đánh giá thiệt hại, đánh giá nhu cầu và rút ra bài học kinh nghiệm, đồng thời có biện pháp khắc phục, báo cáo cấp trên kịp thời..

2. Năng lực phòng chống thiên tai của toàn xã:

2.1 An toàn cộng đồng:

* Vật chất:

- 315 nhà kiên cố, trụ sở UBND xã, trạm y tế, 04 truờng học và 12 nhà văn hoá trong đó 5/12 nhà văn hóa là điểm trú an toàn khi có thiên tai xảy ra

- Có 3.754,3 ha rừng phòng hộ, 14 bản, đã có đường dẫn đến nơi trú ẩn an toàn.

- Có một số hộ gia đình đang hoạt động trong xã có các phương tiện ô tô, máy xúc, … có thể huy động để thực hiện công tác PCTT.

*Tổ chức xã hội:

Xã thành lập Ban chỉ huy PCTT để chỉ đạo ứng phó kịp thời khi có thiên tai xảy ra, đội xung kích xã nhiệt tình có sức khỏe ứng phó kịp thời khi thiên tai xảy ra với số lượng 15 người (05 nữ), tại 14/14 bản; lực lượng cứu hộ, cứu nạn 155 người, lực lượng dự bị động viên 186 người, lực lượng dân quân 112 người năng động nhiệt tình, dễ huy động, tiếp cận nhanh khi có thiên tai, các tổ chức đoàn thể và hệ thống chính trị rất quan tâm trong công tác PCTT- TKCN.



*Nhận thức, kinh nghiệm, thái độ động cơ:

Người dân đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong công tác PCTT, bảo vệ môi trường. Biết sử dụng giọ thép để xếp đá, trồng cây tre và một số loại cây khác chống sạt lở.




tải về 102.02 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5   6   7




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương