Ủy ban nhân dân tỉnh vĩnh phúC


PHẦN III GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH



tải về 1.3 Mb.
trang8/10
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích1.3 Mb.
#2063
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

PHẦN III

GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH

Các giải pháp chủ yếu để phát triển làng nghề trong thời gian tới.

  1. PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG

Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn là một nội dung quan trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, xoá bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Việc xây dựng và phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng sẽ có tác dụng kích thích sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp làng nghề. Trên cơ sở thúc đẩy nhanh kinh tế hàng hoá, mở rộng giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các vùng và các địa phương, góp phần giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập và điều kiện sống của người dân khu vực nông thôn.

Trong những năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng tại khu vực nông thôn đã có những bước phát triển nhất định. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì hệ thống hạ tầng này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân; gây những khó khăn trong việc khôi phục và phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiêp, làm ảnh hưởng tới tốc độ phát triển sản xuất hàng hoá ở làng nghề. Vì vậy cần phải có các chính sách và giải pháp tổng thể, để phát triển kết cấu hạ tầng ở nông thôn nói chung và các làng nghề tiểu thủ công nghiệp nói riêng. Có thể xem xét một số giải pháp sau:

Mấy năm qua, Vĩnh Phúc đã có sự đầu tư cải tạo và xây dựng mới đường giao thông nông thôn nhưng vì nhiều lý do, công việc triển khai còn bị chậm trễ, kéo dài, thiếu đồng bộ. Công tác quản lý và đánh giá hiệu quả vốn đầu tư cho giao thông nông thôn từ các nguồn vốn còn bất cập. Một số địa phương làng nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển, có lượng vận tải nhiều nhưng không kiểm soát được tải trọng của các xe qua lại đồng thời ý thức của những người điều khiển phương tiện vận tải còn thấp nên nhanh chóng làm hỏng đường xá, giảm chất lượng của hệ thống giao thông kết nối làng nghề với các trục giao thông chính. Do đó bên cạnh việc quy hoạch phát triển hệ thống giao thông trong và ngoài làng nghề nhằm đảm bảo sự lưu thông hàng hoá giữa các địa phương, cần kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với việc quản lý, cải tạo, duy trì và bảo dưỡng hệ thống đường xá hiện có. Nâng cấp chất lượng đường giao thông liên huyện, liên xã và các đường nối với các tụ điểm kinh tế, dịch vụ và thương mại. Bê tông hoá, nhựa hoá hệ thống đường xá trong làng nghề để đảm bảo độ bền vững, khả dụng.

Tăng cường nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và địa phương cùng với việc huy động đóng góp trực tiếp, tại chỗ của dân cư và các doanh nghiệp, huy động sự đóng góp của các thành phần kinh tế….theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm. Tiến hành phân cấp trong quản lý và khai thác đường giao thông, tăng cường vai trò quản lý và khai thác đường giao thông, của chính quyền các cấp từ tỉnh, huyện đến xã, thôn, thực hiện quy chế dân chủ, công khai trong đóng góp và chi tiêu trong việc nâng cấp và xây dựng đường giao thông.

Hệ thống điện nông thôn những năm gần đây đã được đầu tư và phát triển khá nhanh về phạm vi, đối tượng và lĩnh vực phục vụ cũng như lượng điện cung ứng. Sự phát triển này đã tạo ra những bước tiến mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại như:

- Mạng lưới điện được xây dựng chắp vá, không đảm bảo các yêu cầu về kinh tế - kỹ thuật, gây tổn thất điện năng và thiếu an toàn cho hệ thống.

- Vốn xây dựng và cải tạo lưới điện còn nhỏ, không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển.

- Giá bán điện còn thể hiện sự bất hợp lý về mặt chính sách, giá bán điện ở nông thôn cao hơn thành thị, hạn chế phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp.

- Mạng lưới điện chưa đủ đáp ứng nhu cầu phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân nông thôn

Do đó cần tiếp tục hoàn thiện và mở rộng hệ thống đưa điện đến các cụm công nghiệp – TTCN – làng nghề. Trong những năm tới, vấn đề chủ yếu là ổn định nguồn điện bằng các biện pháp kỹ thuật và quản lý. Về kỹ thuật cần hoàn thiện hệ thống các trạm hạ thế, đường dây tải điện, đảm bảo cung cấp điện ổn định và có chất lượng đến các hộ sản xuất và các doanh nghiệp. Để hoàn thiện hệ thống này cần có sự hỗ trợ từ phía nhà nước và cần sự kết hợp quản lý giữa tư nhân và ngành điện. Tư nhân có thể quản lý và bán điện theo giá quy định của nhà nước. Giá điện bán cho các hộ sản xuất, các doanh nghiệp cần xem xét, điều chỉnh cho thích hợp để kích thích sản xuất và khuyến khích sử dụng điện thay thế các nguồn năng lượng khác để tăng hiệu quả đầu tư, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Đặc điểm của hệ thống thông tin liên lạc là vốn đầu tư lớn và chủ yếu là đầu tư trong nước. Những năm qua hệ thống thông tin liên lạc đã phát triển nhanh chóng đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Cước phí sử dụng đang giảm dần giúp người dân và nhiều hộ sản xuất nhanh chóng trao đổi thông tin qua điện thoại, fax thuận lợi cho giao dịch mua bán đặt hàng. Để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống văn hoá của nhân dân hệ thống này cũng đang áp dụng các tiến bộ về kỹ thuật để cải thiện và nâng cao chất lượng phục vụ. Trước mắt cần tăng cường đầu tư cho việc nâng cấp công trình, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật của các trung tâm bưu điện, trạm khu vực.... Ưu tiên phát triển thuê bao điện thoại tới tận các vùng sâu, vùng xa, có thể cung cấp thiết bị thông tin cho các doanh nghiệp và hộ sản xuất dưới hình thức đầu tư trả góp với lãi suất thấp, tăng cường mạng lưới sửa chữa, bảo hành, đảm bảo thông tin thông suốt với tốc độ nhanh. Chính quyền địa phương và các hiệp hội ngành nghề cần hỗ trợ các doanh nghiệp và các hộ sản xuất nắm bắt kịp thời những thông tin nâng cao kiến thức về kinh tế, thị trường, kỹ thuật, công nghệ,,, để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn.

Hệ thống cấp, thoát nước khu vực nông thôn nói chung còn phổ biến ở dạng tự phát. Tình trạng yếu kém và xuống cấp của hệ thống thoát nước là một thực tế trong các làng nghề. Hầu hết các địa phương chưa có biện pháp xử lý nào với nước thải gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy cần tiến hành quy hoạch và xây dựng các hệ thống công trình kết cấu hạ tầng về cấp, thoát nước, xử lý chất thải để bảo vệ môi trường. Để thực hiện cần tuyên truyền, giáo dục ý thức của người dân và doanh nghiệp về sự cần thiết của hệ thống công trình, quyền lợi và nghĩa vụ bảo vệ môi trường, qua đó vận động đóng góp đầu tư và quy định trách nhiệm, nghiã vụ đóng góp kinh phí xây dựng công trình. Cần có chính sách và biện pháp cụ thể về tổ chức, quản lý môi trường. Vấn đề ô nhiễm môi trường ở các làng nghề đang là vấn đề bức xúc nhất, nhưng công tác quản lý nhà nước về môi trường lại chưa được đặt ra một cách cụ thể, nghiêm túc, chưa có người chuyên trách về vấn đề này. Vì vậy, cần có bộ phận chuyên trách kiểm tra việc thực thi công tác bảo vệ môi trường, có những quy định xử phạt nghiêm minh đối với những doanh nghiệp và hộ sản xuất vi phạm luật bảo vệ môi trường. Nhà nước và chính quyền địa phương cần hỗ trợ đầu tư hệ thống thoát nước chung cho cả khu vực, vùng nông thôn để đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ và có thể tập trung xử lý nước thải ngay từ các nguồn nguy hại trước khi đổ vào hệ thống theo quy định hiện hành.

Hệ thống y tế giáo dục cần được đầu tư thích đáng nhằm nâng cao năng lực, chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển làng nghề. Cần chú trọng đầu tư phát triển và nâng cao năng lực khám chữa bệnh thông qua việc củng cố và xây dựng hệ thống trạm xá xã, các cơ sở y tế nông thôn để phục vụ tốt việc kiểm tra, chăm sóc sức khoẻ cho người dân các làng nghề tiềm ẩn nhiều nguy cơ độc hại.

Về quản lý đã giao UBND cấp huyện, xã làm chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng (10 cụm) và doanh nghiệp đầu tư (4 cụm), cần đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư để nâng cao hiệu quả đầu tư và khai thác các cụm công nghiệp.

Để giải quyết các vướng mắc về bồi thường giải phóng mặt bằng, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút các doanh nghiệp đầu tư, xây dựng và kinh doanh hạ tầng các cụm công nghiệp, ngày 4-10-2010 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 28/2010/QĐ-UBND quy định về hỗ trợ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2010-2015, tập trung vào một số nội dung như: khâu chuẩn bị đầu tư được hỗ trợ 100% chi phí lập quy hoạch chi tiết xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng hạ tầng, báo cáo đánh giá tác động môi trường. Đầu tư xây dựng hạ tầng được hỗ trợ cho hạng mục hệ thống thu gom rác thải và xử lý nước thải tập trung theo quy mô cụm (không quá 5 tỷ đồng đối với cụm nhỏ hơn 10ha, không quá 7 tỷ đồng đối với cụm từ 10-20ha và không quá 10 tỷ đồng đối với cụm từ 20-75ha).


  1. GIẢI PHÁP VỀ ĐẦU TƯ

Hội đồng Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã thông qua Nghị quyết số 12/2010/NQ-HĐND ngày 22/7/2010 về hỗ trợ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh để khuyến khích phát triển theo quy hoạch phù hợp với quy hoạch chung của phát triển kinh tế xã hội, phát triển các ngành... UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Quyết định số 28/2010/QĐ-UBND ngày 04/10/2010: Quy định về hỗ trợ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp giai đoạn 2011-2015.

Trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nhu cầu về vốn không thật lớn như một số ngành nghề sản xuất khác, song nó vẫn có một vai trò hết sức quan trọng vì đó là yếu tố vật chất có ý nghĩa quyết định của quá trình sản xuất. Thực tế hiện nay các nguồn vốn để cung cấp cho làng nghề còn rất hạn chế. Sự thiếu vốn thường diễn ra do khả năng tích lũy để đầu tư phát triển sản xuất của các cơ sở còn thấp, đồng thời khả năng tiếp cận các nguồn vốn chính thức hay bán chính thức còn hạn hẹp. Mặt khác, sự liên kết kinh tế với các đơn vị kinh tế khác, nhất là với các doanh nghiệp công nghiệp, thương mại ở các đô thị trong và ngoài vùng để khai thác nguồn đầu tư còn yếu chưa đáp ứng được yêu cầu. Môi trường sản xuất kinh doanh, môi trường đầu tư cho khu vực kinh tế làng nghề chưa đủ sức hấp dẫn thu hút các nguồn vốn cho nhu cầu phát triển. Sự khó khăn về vốn đối với làng nghề đang đặt ra một thách thức. Để giải quyết có thể tập trung vào một số giải pháp sau: Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, các nguồn vốn như vốn tự có trong dân, từ hệ thống ngân hàng, từ ngân sách nhà nước Trung ương và địa phương, từ thị trường tài chính phi chính thức…Trong điều kiện hiện nay, nguồn vốn ngân sách và nguồn vốn từ bên ngoài còn rất hạn chế, do vậy nguồn vốn tự có và huy động từ trong dân là rất quan trọng. Tuy nhiên việc huy động vốn từ trong dân là chưa được nhiều. Vì vậy, ngoài việc thực hiện mức lãi suất hợp lý cần cải tiến nâng cao chất lượng và uy tín của hệ thống ngân hàng để tăng lòng tin của người gửi tiền, áp dụng các hình thức khuyến khích thoả đáng đối với tiền gửi dài hạn. Bên cạnh đó tăng cường nguồn vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng thông qua việc phát triển thị trường vốn tín dụng ở nông thôn. Để đáp ứng yêu cầu này nhà nước cần ban hành chính sách lãi suất phù hợp với quan hệ cung cầu về vốn ở từng khu vực để thu hút nhiều tổ chức tín dụng tham gia cạnh tranh trong cung ứng phát triển vốn.

Một hình thức huy động vốn khác cần được khuyến khích, đó là hình thức liên kết kinh tế, phát triển trên cơ sở phân công hiệp tác lao động và chuyên môn hoá sản xuất. Đây là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề vốn thông qua việc cung ứng ngưyên, vật liệu, ứng vốn trước cho người sản xuất làm hàng gia công…đồng thời khai thác hiệu quả các tiềm năng sẵn có giữa các bên tham gia liên kết.

Vốn vay phải có lãi suất, thời gian vay, số lượng vốn vay phù hợp với nhu cầu sản xuất và kinh doanh thì mới hiệu quả. Đa số các hộ và cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp thường có ít vốn, chủ yếu là khai thác lao động tại khu vực nông thôn nên không có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn vì không có tài sản thế chấp, mặt khác lợi nhuận không cao nên cần thành lập quỹ cho vay với lãi suất thấp hoặc có chính sách ưu đãi hơn nữa đối với phát triển làng nghề. Đặc biệt đối với vốn vay đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, hiện đại hoá trang thiết bị máy móc, đầu tư xử lý môi trường cần được ưu tiên hàng đầu trong chính sách cho vay vốn. Một trong những giải pháp thực tế nhất là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Cần có kế hoạch và hợp lý hoá cơ cấu vốn đầu tư cho phát triển các làng nghề bằng nguồn vốn từ ngân sách các cấp. Tập trung đầu tư cho việc phục hồi và phát triển các làng nghề sản xuất mặt hàng truyền thống được nhà nước khuyến khích phát triển, tránh sự đầu tư tràn lan gây tình trạng dàn trải vốn.



II.1. Về hỗ trợ đầu tư

Đối với các cơ sở tiểu thủ công nghiệp làng nghề, yêu cầu cấp bách nhất hiện nay là cần có đất đai làm mặt bằng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu và quy mô sản xuất. Theo các quy định hiện hành, phần lớn diện tích đất đai ở vị trí thuận lợi được giao cho các dự án, lập các khu, cụm công nghiệp, giá đất cao, chi phí san lấp, xây dựng kết cấu hạ tầng lớn.... Để giải quyết mặt bằng cho các cơ sở sản xuất hiện nay, cần có chính sách trợ giúp về kết cấu hạ tầng và xử lý chất thải bảo vệ môi trường, cho các cơ sở thuê với giá thấp nhất để đưa sản xuất tách khỏi khu dân cư, vừa dễ quản lý vừa tập trung xử lý chất thải đảm bảo tiêu chuẩn nhà nước về môi trường..

Nhân lực là tài sản quý giá nhất, là nguồn vốn đặc biệt, là yếu tố bảo đảm việc triển khai thực hiện phát triển tiểu thủ công nghiệp làng nghề. Sự thiếu hụt lao động có tay nghề cũng đang tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường lao động. Hiện nay đang có tình trạng lao động địa phương không thiết tha gắn bó với nghề, thanh niên làng nghề không muốn theo nghề của cha ông, còn nghệ nhân thì nhiều cụ tuổi đã cao, thiếu điều kiện để sáng tác và truyền nghề... Chính vì vậy, cần coi trọng việc bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, đào tạo nghệ nhân trẻ, phát huy vốn quý của các nghệ nhân nhiều tuổi, hình thành nhiều lớp nghệ nhân trong làng nghề tiểu thủ công nghiệp, qua đó xây dựng lực lượng kế thừa, lưu giữ được những tinh hoa truyền thống làng nghề.

Để khuyến khích, thu hút đầu tư vào phát triển tiểu thủ công nghiệp làng nghề, việc tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt như hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính, tiến hành công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, đào tạo nhân lực, xúc tiến thương mại; trợ giúp ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường... .Khuyến khích thành lập quỹ hỗ trợ đầu tư dưới nhiều hình thức như quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, quỹ hỗ trợ xúc tiến việc làm, quỹ trợ giúp áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, quỹ khuyến công…Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng để tạo điều kiện cho hộ và các cơ sở sản xuất của làng nghề vay vốn phát triển sản xuất và giải quyết một phần những khó khăn khi thế chấp để vay vốn.

Theo đề nghị hỗ trợ đầu tư Cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2010 – 2015 của Sở Công Thương, nhà đầu tư sẽ được giới thiệu vay vốn sản xuất, kinh doanh thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của tỉnh. Cần phát huy vai trò của ngân hàng trong việc tư vấn, hỗ trợ việc xây dựng các dự án khả thi có hiệu quả và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện dự án. Để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay, các chủ doanh nghiệp cần được nâng cao kiến thức về quản lý, sản xuất, kinh doanh cung cấp các thông tin về thị trường, công nghệ, kỹ thuật và các nhu cầu, xu hướng phát triển ngành nghề trong vùng, trong nước và thế giới để các doanh nghiệp có cơ sở tin cậy trong việc xây dựng phương án phát triển.

II.2. Về mặt bằng sản xuất và đầu tư kết cấu hạ tầng các cụm tiểu thủ công nghiệp, làng nghề

Xu hướng phát triển của các làng nghề tiểu thủ công nghiệp là công nghiệp hoá, hiện đại hoá áp dụng công nghệ mới vào sản xuất và thích ứng với những thay đổi của nền kinh tế thị trường. Do đó cần phải có quy hoạch tổng thể và đồng bộ để chuẩn bị mặt bằng và hạ tầng cơ sở cho phát triển.

Hiện nay, các cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn làng nghề chủ yếu tồn tại dưới hình thức hộ kinh tế gia đình, sản xuất kinh doanh ngay tại nơi ở của hộ gia đình nên nhà xưởng chật hẹp, kết cấu hạ tầng cho sản xuất - kinh doanh không đảm bảo, môi trường bị ô nhiễm, không có khả năng mở rộng sản xuất. Do đó cần phải tách khu vực sản xuất ra khỏi khu dân cư, xây dựng nhà xưởng cho sản xuất , kết cấu hạ tầng cơ sở đảm bảo các tiêu chuẩn nhà nước về môi trường. Đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp- TTCN- làng nghề là giải pháp hữu hiệu để giải quyết các vấn đề trên.

Việc hình thành các cụm, khu sản xuất tập trung của làng nghề là một giải pháp quan trọng để tổ chức lại các làng nghề theo hướng hiện đại hoá từng bước, nhằm khai thác triệt để tiềm năng và thế mạnh của nghề truyền thống, tạo điều kiện thực hiện chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp-TTCN và các ngành nghề khác, nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Việc tập trung các cơ sở sản xuất vào cụm sẽ tạo thuận lợi cho sự chuyên môn hoá và hiệp tác hoá giữa các cơ sở sản xuất với nhau, giữa các cơ sở sản xuất với các cơ sở dịch vụ; tạo điều kiện đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ và tiếp cận trình độ tiên tiến về quản lý, kỹ thuật, đồng thời cho phép xây dựng cơ sở xử lý chất thải tập trung và áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường. Phát triển khu sản xuất tập trung tách sản xuất ra khỏi khu dân cư sẽ làm đổi mới bộ mặt nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.

Trước mắt những làng nghề cần thành lập khu sản xuất tập trung là những làng nghề sản phẩm có nhu cầu lớn, ổn định trên thị trường, có tốc độ tăng trưởng nhanh, có nhu cầu đổi mới công nghệ, cần kiểm soát và xử lý phát thải độc hại ra môi trường…Hướng tới phấn đấu mỗi xã có 1-2 cụm sản xuất tập trung gắn liền với hạ tầng đồng bộ làm nòng cốt phát triển kinh tế nông thôn. Việc thành lập cụm sản xuất tập trung có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo vệ môi trường sinh thái và đời sống sức khoẻ của người dân, từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá làng nghề, phù hợp với kinh tế thị trường thời hội nhập.

Tuỳ thuộc điều kiện và khả năng phát triển của từng làng nghề, từng địa phương, quy hoạch cụm sản xuất tập trung cần đảm bảo tính hợp lý về quy mô, sự phù hợp với quy hoạch chung về các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật và mô hình hoạt động không chỉ trong ngắn hạn mà còn phải thích hợp với sự biến đổi thường xuyên của thị trường.

Xây dựng tốt và đồng bộ kết cấu hạ tầng là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các khu sản xuất tập trung của làng nghề phát trỉên có hiệu quả. Trước hết cần phải giải quyết khâu quan trọng đầu tiên là xây dựng đường giao thông, nối liền từ khu sản xuất tập trung của làng nghề tới các thị trấn, huyện, tỉnh và các trung tâm thương mại trong vùng đảm bảo lưu thông thông suốt trong việc vận chuyển nguyên vật liệu, sản phẩm, trao đổi hàng hoá. Xây dựng hệ thống điện, cấp thoát nước, các hệ thống dịch vụ, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông…phục vụ cụm sản xuất tập trung gắn liền với các khu dân cư lân cận để đảm bảo nguồn cung ứng đầu vào.

Về nguồn vốn: Bên cạnh các cơ chế chính sách hỗ trợ của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương, cần xã hội hoá nguồn vốn đầu tư từ các cơ sở, các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và hoạt động trong khu sản xuất tập trung. Huy động mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân trong việc góp vốn, tạo cơ sở vật chất ban đầu. Có thể góp vốn theo từng giai đoạn khác nhau, góp vốn theo cách sẽ tham gia sản xuất kinh doanh trong khu đó hoặc góp vốn kinh doanh hạ tầng thu hồi có hưởng lãi khi các khu sản xuất đó đi vào hoạt động.

Về tổ chức quản lý: Có thể thành lập ban quản lý khu sản xuất tập trung để giải quyết các vấn đề chung của toàn khu vực như bảo vệ môi trường, quản lý các công trình công cộng, đảm bảo an ninh…hoạt động theo quy chế xã hội hoá quản lý khu cụm điểm công nghiệp địa phương.

Theo Nghị quyết 12/2010/NQ-HĐND ngày 22/7/2010, nhà đầu tư hạ tầng sẽ được ngân sách tỉnh hỗ trợ 100% kinh phí lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, kinh phí lập bản đồ quy hoạch cụm tỷ lệ 1/500, kinh phí rà, phá bom mìn trong cụm; hỗ trợ một số hạng mục trong hàng rào như: hệ thống thu gom rác thải, xử lý nước thải tập trung đảm bảo tiêu chuẩn quy định; mức hỗ trợ tuỳ thuộc quy mô diện tích cụm và không quá 10 tỷ đồng/cụm. Đối với các cơ sở đầu tư vào cụm được hỗ trợ đào tạo nghề 700 ngàn đồng/người và hỗ trợ chi phí di dời không quá 10 triệu đồng/cơ sở sản xuất vào cụm.



II.3. Về thành lập doanh nghiệp

Hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến trong các làng nghề ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay là kinh tế hộ gia đình, chiếm khoảng 96%; Hiện đây cũng là hình thức phổ biến của tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Hộ kinh tế gia đình có ưu điểm tận dụng được thời gian và các loại lao động vào sản xuất, huy động được vốn nhàn rỗi trong dân, tạo động lực phát triển, nhưng lại có nhiều hạn chế về quy mô, vốn đổi mới công nghệ, thiết bị và mở rộng sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường....

Để các làng nghề TTCN đi vào sản xuất hàng hoá, cần phát triển mạnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trên địa bàn nông thôn. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ này được hình thành theo 2 cách: từ các hộ kinh tế gia đình tích tụ và tập trung thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ (đây là cách chủ yếu) hoặc lập mới một số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn bằng cách gọi vốn đầu tư từ những người sống ở thành thị và tỉnh khác.

Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa như Nghị định 90/2001/NĐ-CP; Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nghị định 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn... tuy nhiên theo Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa, ý tưởng tốt đẹp trên của Nghị định khi triển khai còn nhiều khó khăn để trở thành hiện thực, các doanh nghiệp khó tiếp cận chính sách cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ, 6 biện pháp lớn hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được quy định rõ tại Nghị quyết 22/NQ-CP bao gồm:


  • Hướng dẫn xây dựng kế hoạch, chương trình trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

  • Tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng và huy động các nguồn lực hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

  • Tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sản xuất.

  • Hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

  • Đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

  • Xây dựng và củng cố hệ thống trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hy vọng rằng khi các văn bản pháp quy được hoàn thiện sẽ hỗ trợ tích cực cho các cơ sở sản xuất TTCN chuyển đổi sang hình thức tổ chức kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường.

II.4. Về chính sách thuế, tài chính

Theo Nghị quyết 22/NQ-CP, ngày 05/5/2010 về việc triển khai Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo quỹ đất mới cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê hoặc dành quỹ đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hàng năm, các địa phương phải thông báo công khai diện tích đất và các khu, cụm công nghiệp dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ chủ trì xây dựng bản tin quy hoạch sử dụng đất nhằm cung cấp thông tin, công khai quy hoạch sử dụng đất đến các địa phương và hỗ trợ doanh nghiệp. Ngân hàng Nhà nước chủ trì việc tiếp tục thực hiện các biện pháp điều chỉnh chính sách tiền tệ, kiểm soát hoạt động tín dụng theo hướng tập trung phục vụ các nhu cầu vốn đối với các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngân hàng Nhà nước đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa như bao thanh toán, cho thuê tài chính...; Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng đề án thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì nghiên cứu, mở rộng đối tượng cho vay vốn, tăng mức vốn vay đối với mỗi dự án đem lại hiệu quả cao về tạo việc làm của doanh nghiệp, chú trọng đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa theo chương trình quốc gia về giải quyết việc làm, nghiên cứu mở rộng đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, xây dựng chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011-2015, tập trung vào các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn và làng nghề truyền thống, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa gắn liền với địa bàn nông thôn, miền núi, miền biển, vùng sâu, vùng xa.

Để góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, mới đây, UBND tỉnh đã gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập, tiền sử dụng đất, giảm tiền thuê đất... đối với một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn .



tải về 1.3 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương