Ủy ban nhân dân tỉnh vĩnh phúC



tải về 1.3 Mb.
trang7/10
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích1.3 Mb.
#2063
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

Theo quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được phê duyệt, nhu cầu vốn đầu tư phát triển theo các phân kỳ như sau:

Danh mục

Đơn vị

2011-2015

2016-2020

Nhu cầu vốn đầu t­ư

tỷ.đồng

144.208

308.775

Quy ra USD

tr.USD

9.136

19.561

Trong đó : NLN nghiệp

tỷ.đồng

1.581

2.890

TM và DVụ

tỷ.đồng

66.796

186.514

CN+XD

tỷ.đồng

75.832

119.371

+ Công nghiệp

tỷ.đồng

68.276

110.380

+ Xây dựng

tỷ.đồng

7.556

8.992

Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư và nguồn huy động vốn cho TTCN theo các phân kỳ như sau:

Vốn và nguồn vốn dự kiến

Đơn vị

2011-2015

2016-2020

Nhu cầu vốn cho Công nghiệp

tỷ.đồng

68.276

110.380

Nhu cầu vốn cho TTC Nghiệp

tỷ.đồng

3.319

2.550

Tỷ lệ vốn cho TTCN/Cnghiệp

%

4,86%

2,31%

Nguồn vốn dự kiến










Vốn NN đầu tư­ trên địa bàn

tỷ.đồng

230

200

Tỷ lệ/vốn đầu tư cho TTCN

%

6,9%

7,8%

Đầu tư­ từ các doanh nghiệp

tỷ.đồng

996

765

Tỷ lệ/vốn đầu tư cho TTCN

%

30,0%

30,0%

Tích luỹ từ dân c­ư

tỷ.đồng

1.327

1.020

Tỷ lệ/vốn đầu tư cho TTCN

%

40,0%

40,0%

Vốn vay và hợp tác bên ngoài

tỷ.đồng

766

565

Tỷ lệ/vốn đầu tư cho TTCN

%

23,1%

22,2%

Ngày 19/8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg quy định về quy hoạch, bổ sung quy hoạch, thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp; đầu tư sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trong cụm công nghiệp và quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp trên phạm vi cả nước. Theo quyết định, cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - TTCN, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - TTCN; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh. Để khuyến khích phát triển TTCN trên địa bàn, cần giải quyết nhu cầu về mặt bằng cho sản xuất, kinh doanh; mở các lớp đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển; cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ các cơ sở sản xuất tháo gỡ khó khăn nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Việc đầu tiên cần thực hiện là xây dựng  kết cấu hạ tầng, phát triển hệ thống giao thông vận tải, nguồn cung ứng năng lượng, điện, nước, thông tin liên lạc, xây dựng hệ thống thu gom xử lý các chất thải, nước thải... tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án, tiết kiệm cả về thời gian và tiền bạc, nhanh chóng đưa dự án vào hoạt động đúng tiến độ.

Về phần mình, các doanh nghiệp, các cơ sở cần đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Bên cạnh việc khôi phục và phát triển các nghề truyền thống, hình thành các làng nghề mới ở nông thôn gắn với điều kiện phát triển nguyên liệu và sử dụng lao động tại chỗ. Các cơ sở cần tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị của sản phẩm, tăng cường liên kết từ khâu nguyên liệu, sản xuất đến khâu phân phối lưu thông để tạo ra sản phẩm tốt, đưa đến tận tay người tiêu dùng, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã phê duyệt Ðề án xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ giai đoạn 2010 – 2015, mục tiêu phấn đấu đến hết năm 2015, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt 1,6 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu nhóm ngành mây tre lá đạt 530 triệu USD, chiếm tỷ trọng 33%; nhóm ngành gốm sứ đạt 480 triệu USD, chiếm tỷ trọng 30%; nhóm ngành dệt thủ công đạt 270 triệu USD, chiếm tỷ trọng 17%; nhóm ngành gỗ chạm khảm và gia dụng đạt 130 triệu USD, chiếm 8% và các nhóm khác đạt 190 triệu USD, chiếm 12%. Để đạt được mục tiêu trên, cần thực hiện các giải pháp:


  • Tập trung xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu ổn định và bền vững, theo hướng ưu tiên phát triển các vùng chuyên canh tập trung kết hợp với phát triển kinh tế hộ gia đình nhằm giải quyết hài hòa giữa ổn định vùng nguyên liệu và tăng thu nhập cho các hộ gia đình ở vùng nông thôn.

  • Chú trọng phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống với công nghệ có vốn đầu tư thấp, thu hồi nhanh, tiết kiệm nguyên liệu và có khả năng tạo thêm nhiều việc làm.

  • Về nguồn nhân lực, cần đào tạo nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị gia tăng cao, sản phẩm có tính sáng tạo. Có cơ chế chính sách khuyến khích nghệ nhân đào tạo nghề và truyền nghề; chú trọng phát triển đội ngũ thợ giỏi.

  • Về xúc tiến thương mại, chú trọng phát triển thị trường xuất khẩu, nâng cao chất lượng và hiệu quả tổ chức các đoàn xúc tiến thương mại ở nước ngoài nhất là đối với các thịị trường lớn và nhiều tiềm năng đối với hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Nga, Úc, các nước Nam Mỹ và Bắc Âu.

Quy hoạch theo không gian lãnh thổ

Thành phố Vĩnh Yên

Vĩnh Yên hiện có Khu công nghiệp Khai Quang với tổng diện tích quy hoạch là 197 ha, thu hút các loại hình công nghiệp như sản xuất lắp ráp điện tử, may xuất khẩu, sản xuất phụ liệu cho nhà máy Honda, Toyota, dây cáp điện, má phanh, nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng…Cụm công nghiệp Lai Sơn nằm ở phía tây bắc thành phố thuộc địa phận phường Đồng tâm có diện tích quy hoạch là 63,92 ha, dự kiến thu hút các ngành công nghiệp nhẹ và chế biến lương thực thực phẩm. Tuy nhiên thời gian qua cụm công nghiệp Lai Sơn mới chỉ thu hút được 2 doanh nghiệp, UBND phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên đã đề nghị UBND tỉnh Vĩnh phúc cho phép chuyển thành Cụm KTXH để thu hút nhiều loại hình doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh, phục vụ cho các dự án quy mô vừa và nhỏ như cơ khí, lắp ráp, may mặc, chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành nghề truyền thống....

Tính đến 2010, địa bàn thành phố Vĩnh Yên đã thu hút được 47 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký với tổng vốn đầu tư 277,5 triệu USD, thu hút trên 15.000 lao động; 12 dự án vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư là 352,32 tỷ đồng, thu hút trên 3.000 lao động. Các cụm sản xuất tập trung đã thu hút hơn 20 doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ tiểu thủ công nghiệp với số vốn đầu tư trên 22,9 tỷ đồng. Trên địa bàn thành phố tồn tại nhiều nghề thủ công như cơ khí, mộc, chế biến lương thực thực phẩm… phân bố rải rác trên địa bàn các xã, phường. Chỉ có duy nhất nghề sản xuất gạch ngói tại Thanh Trù là tập trung tại 1 xã, nhưng nghề này đã có chủ trương xoá bỏ do gây ô nhiễm môi trường. Thành phố cũng đã phối hợp với Sở Công nghiệp trước đây tổ chức các lớp dạy nghề mây tre đan cho bà con nông dân tại Thanh Trù, Đồng Tâm và Hội Hợp nhưng không thành công do thành phố có nhiều việc làm và thu nhập cao hơn nhiều nên nghề mây tre đan không phát triển được. Đến nay tỷ trọng công nghiệp - xây dựng của thành phố chiếm 56,44% và tổng giá trị gia tăng bình quân hàng năm của ngành công nghiệp - xây dựng là 23,98%. Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng có nhịp độ tăng bình quân hàng năm đạt 28,58%, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 31,78%. Tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp - xây dựng liên tục tăng, năm 2007 đạt 3.698,51 tỷ đồng, năm 2008 đạt 4.119,20 tỷ đồng, đạt 87,38% so kế hoạch, tăng 23,35% so cùng kỳ, trong đó tổng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 3.863,56 tỷ đồng, đạt 99,68% so với kế hoạch, tăng 24,55% so với cùng kỳ. Giá trị gia tăng của ngành CN-XD tăng từ 760,6 tỷ đồng năm 2007 lên 911,55 tỷ đồng năm 2008. Năm 2010, trên địa bàn thành phố có 1.241 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng 184 cơ sở so với cùng kỳ năm 2008. Các doanh nghiệp nhỏ và các hộ sản xuất cá thể ít bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, số cơ sở tăng, nhiều cơ sở mở rộng quy mô sản xuất và giữ được mức tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 đạt 4.335,8 tỷ đồng bằng 112,81% so với cùng kỳ năm trước.

TP Vĩnh Yên phấn đấu phát triển công nghiệp theo hư­ớng lựa chọn các ngành hàng, sản phẩm sử dụng công nghệ tiến tiến, kỹ thuật hiện đại, có hàm lượng công nghệ cao, ít gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Ư­u tiên phát triển một số sản phẩm mũi nhọn: cơ khí chế tạo, điện, điện tử - tin học, công nghiệp phần mềm.... Ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh nhằm phát huy nội lực, thu hút nguồn lực trong và ngoài thành phố. Ưu tiên các ngành công nghiệp có khả năng tạo việc làm cho nhiều lao động và đóng góp cao cho ngân sách thành phố. Thực hiện kiên quyết và đồng bộ các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện môi trường nhất là ở các khu, cụm công nghiệp.

Định hướng phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp thành phố Vĩnh Yên đến năm 2020: Tốc độ tăng trưởng Giá trị sản xuất (GTSX) bình quân giai đoạn 2011-2015 khoảng 15-16%/năm; giai đoạn 2016-2020, khoảng 14-15%/năm. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế để đến năm 2015 tỷ trọng các ngành dịch vụ chiếm khoảng 54%; công nghiệp - xây dựng chiếm khoảng 44,6% và khu vực nông lâm nghiệp thủy sản chiếm khoảng 1,4%. Đến năm 2020 các tỷ lệ tương ứng là 60,0%; 39,3%; 0,7%. Khu vực dịch vụ trở thành ngành đóng góp lớn vào kinh tế thành phố, hình thành các lĩnh vực dịch vụ hiện đại, các khu du lịch nghỉ dưỡng và các điểm tham quan được đông đảo du khách quan tâm. Phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề theo hướng thân thiện môi trường, phục vụ du lịch, sinh hoạt và hướng tới xuất khẩu.

Thị xã Phúc Yên :

Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Phúc Yên năm 2008 đạt 26.423 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994), tăng 21,1% so với cùng kỳ năm 2007.Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 2009 đạt 26.077 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994), giảm 1,3% so với cùng kỳ, bằng 76% giá trị SX CN trên địa bàn Tỉnh. Trong đó: Công nghiệp trong nước đạt 1.200 tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ, Công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 24.877 tỷ đồng giảm 1,7% so với cùng kỳ. Phúc Yên phấn đấu giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế của thị xã giai đoạn 2011-2020 ít nhất đạt trên mức bình quân chung của tỉnh ; gấp 1,5-1,6 lần mức bình quân chung của cả nước (từ 12% trở lên), trong đó: công nghiệp tăng 10%/năm; Giá trị sản xuất ngành CN, xây dựng tăng 11-12% so với năm 2009. Giải quyết được việc làm cho 2500 - 3000 lao động. Giá trị tăng thêm (GDP) theo giá hiện hành bình quân/người của thị xã đến năm 2010 gấp hơn 3 lần mức bình quân chung của tỉnh và đến năm 2020 gấp 2,5-3 lần mức bình quân chung của tỉnh. Hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng 2000-3000 lao động. Đến năm 2010 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%; lao động phi nông nghiệp chiếm 75%. Phát triển các khu, cụm công nghiệp đưa các dự án vào hoạt động tại các khu, cụm công nghiệp hiện có, đồng thời kết hợp hình thành các khu đô thị mới, sẽ tiến hành quy hoạch các khu, cụm công nghiệp tại Phúc Thắng, Nam Viêm và Xuân Hoà – Cao Minh.

Định hướng phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thị xã Phúc Yên đến năm 2020: Tạo ra sự chuyển dịch mạnh hơn nữa về cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nhanh khu vực dịch vụ và công nghiệp; phát triển các ngành có chất lượng hàng hóa cao, công nghệ hiện đại và năng suất lao động cao. Tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp; giảm nông nghiệp; Đến năm 2030 tỷ trọng nông nghiệp còn rất nhỏ, các ngành dịch vụ chiếm 45-50% trong tổng số, tạo ra một cơ cấu kinh tế bền vững và phù hợp với tiềm năng của thị xã và tỉnh. Giá trị tăng thêm bình quân đầu người đạt 89,7 triệu đồng/người/năm vào năm 2015, khoảng 167,2 triệu đồng năm 2020 và đạt 571,6 triệu đồng vào năm 2030. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 36,6 triệu đồng/người/năm vào năm 2015, khoảng 69,7 triệu đồng năm 2020 và đạt 248 triệu đồng vào năm 2030. Xây dựng các khu, cụm công nghiệp phụ trợ, làng nghề, thu hút các ngành công nghiệp - TTCN sạch, công nghiệp chế biến có sử dụng nhiều lao động. Phát triển các ngành công nghiệp cơ khí, lắp ráp ôtô, xe máy, lắp ráp sản phẩm điện tử gia dụng và văn phòng, thiết bị viễn thông, sản xuất phụ tùng thay thế, dệt may da giày, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp sản xuất đồ dân dụng, gia công xuất khẩu...

Huyện Bình Xuyên

Tổng giá trị sản xuất năm 2009 (theo giá thực tế) của huyện Bình Xuyên đạt: 6.624,3 tỷ đồng, tăng 19,8% so với năm 2008. Cơ cấu kinh tế: Giá trị sản xuất CN-TTCN-XDCB: 83,7%; Số lao động được giải quyết việc làm: 2.602 lao động, đạt 104,7% so với kế hoạch năm, bằng 99,4% so với năm 2008. Giá trị sản xuất CN-TTCN-XDCB ước đạt: 5.547,5tỷ đồng (Theo giá thực tế), tăng 22% so với năm 2008. Sản phẩm mộc dân dụng ước đạt: 6.000m3 gỗ thành phẩm, đạt 118% so với năm 2008. Bình Xuyên phấn đấu tốc độ phát triển (theo giá trị sản xuất trên địa bàn) là 20% để đạt tốc độ phát triển kinh tế bình quân giai đoạn 2005 - 2010 là 22,7%, vượt 2,7 % so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII đề ra. Giá trị sản xuất trên địa bàn năm 2010 đạt 7.949 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2009; trong đó: Giá trị sản xuất công nghiệp-TTCN đạt: 6.730 tỷ đồng, tăng 21,3 %.

Đến nay, trên địa bàn huyện có 7 khu, cụm công nghiệp tập trung với tổng diện tích 2.114,9ha, đã giải phóng mặt bằng được 562,5ha. Trong đó, cụm công nghiệp Hương Canh 27ha, cơ bản đã được lấp đầy. KCN Bình Xuyên 277ha đã giao đất được 80%. KCN Bá Thiện 327ha đang xây dựng hạ tầng và nhà máy lắp ráp máy tính xách tay. KCN Bình Xuyên II (Hồng Hải) 485,1ha đã giải phóng mặt bằng được 80ha. KCN Bá Thiện II diện tích 308,8ha, KCN Sơn Lôi 300ha đang trong quá trình giải phóng mặt bằng. Đã quy hoạch 22,4ha để phát triển làng nghề mộc Thanh Lãng, gốm Hương Canh.

Định hướng phát triển công nghiệp huyện Bình Xuyên đến năm 2020 trở thành trung tâm công nghiệp của Tỉnh, tạo sự lan toả phát triển tới các huyện thị khác. Phát triển các ngành công nghiệp cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng, điện tử tin học, chế biến nông sản thực phẩm, phát triển các làng nghề truyền thống như gốm Hương Canh, mộc Thanh Lãng và phát triển thêm một số ngành phù hợp với điều kiện của địa phương như may thêu, mây tre đan.



Huyện Tam Dương

Quy mô và hiệu quả sản xuất công nghiệp- xây dựng huyện Tam Dương tiếp tục được mở rộng và phát triển. Giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng (giá cố định) năm 2009 đạt 321,526 tỷ đồng tăng 30,7% so cùng kỳ, chiếm 40,15% giá trị SX toàn địa bàn, trong đó ngoài quốc doanh tăng 30,7% so cùng kỳ. Đối với công nghiệp đạt 265,276 tỷ đồng tăng 19,8% so cùng kỳ, trong đó ngoài quốc doanh tăng 19,8% so cùng kỳ. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp chủ yếu vẫn là các mặt hàng truyền thống như mây tre đan, khai thác cát sỏi. Công tác khuyến công được quan tâm chú trọng nên tiểu thủ công nghiệp phát triển. Thu nhập bình quân đầu người/năm đạt 16,7 triệu đồng. Năm 2010 tiếp tục đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đạt trên 17,8% để ổn định và tiếp tục phát triển. Hoàn thành quy hoạch Khu công nghiệp Tam Dương, Cụm công nghiệp Hợp Thịnh, Hợp Hoà, Hoàng Đan, Thanh Vân, Đạo Tú tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đi vào sản xuất ổn định. Huyện Tam Dương đang đề nghị UBND tỉnh xem xét điều chỉnh cơ cấu hỗ trợ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp; tách riêng quy hoạch cụm công nghiệp ra khỏi cụm kinh tế - xã hội Hợp Thịnh… Cụm kinh tế - xã hội Hợp Thịnh được phê duyệt với diện tích trên 82 ha, trong đó có 70,2 ha thuộc xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương; số còn lại thuộc xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc. Trên cơ sở Quy hoạch chi tiết điều chỉnh được UBND tỉnh phê duyệt, đến tháng 5/2012, đã có 43 doanh nghiệp (DN) được đầu tư với diện tích trên 28 ha, trong đó có 27 DN đang sản xuất kinh doanh, 2 DN đang đầu tư xây dựng, 14 DN chưa bồi thường giải phóng mặt bằng.

Định hướng phát triển công nghiệp-TTCN huyện Tam Dương đến 2020: Thu hút mạnh mẽ đầu tư phát triển công nghiệp vào địa bàn huyện, xây dựng một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung thu hút đầu tư phát triển mạnh các ngành công nghiệp điện tử, cơ khí chế tạo, vật liệu xây dựng chất lượng cao, cấu kiện bê tông đúc sẵn, chế biến nông sản thực phẩm, sản phẩm linh kiện phụ trợ, tiểu thủ công nghiệp truyền thống và một số ngành nghề mới. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 22%/năm; Giai đoạn 2016-2020 đạt 17,5%/năm.

Huyện Tam Đảo

Hiện nay, trên địa bàn huyện Tam Đảo có 3 làng nghề: mây tre đan ở các thôn Nga Hoàng, Cửu Yên xã Hợp Châu có khoảng 100 hộ chuyên sản xuất thúng, mủng, nong nia, lẵng hoa...; mây tre xiên ở các thôn Minh Tân, Minh Hồng xã Minh Quang với khoảng 200 hộ, sản phẩm phục vụ nông nghiệp, tiêu thụ ngay tại địa phương là chính. Ở thôn Sơn Đình, Đồng Lính xã Đại Đình có khoảng 100 hộ gia đình chuyên sản xuất sáo trúc, đàn tre, đồ lưu niệm cho khách du lịch phục vụ lễ hội Tây Thiên, khu di tích Đền Hùng và Yên Tử... do chất lượng thấp, mẫu mã nghèo nàn, thu nhập từ nghề các nghề thủ công này còn hạn chế.

Theo định hướng phát triển KT - XH của huyện Tam Đảo giai đoạn 2005-2010 và tầm nhìn đến 2020, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dịch mạnh theo hướng du lịch-dịch vụ, theo đó việc chuyển đổi cơ cấu lao động được đặt ra với mục tiêu: giảm trên 80% lao động nông nghiệp hiện nay xuống còn 55-57% vào năm 2010. Tam Đảo sẵn có thị trường, nguồn lao động dồi dào và tài nguyên thiên nhiên phong phú, tiểu thủ công nghiệp có ưu điểm thu hút nhiều lao động, tận dụng được lao động nông nhàn, phát triển tiểu thủ công nghiệp là một trong những giải pháp tất yếu để giải quyết việc làm cho người lao động và gắn kết phát triển dịch vụ du lịch. Tam Đảo phấn đấu GDP bình quân đầu người của huyện đạt 5 triệu đồng, năm 2020 GDP đạt 16,05 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng du lịch dịch vụ là chính nên cơ cấu công nghiệp-xây dựng năm 2010 là 15,39%; năm 2020 là 12,45%. Giá trị sản xuất khu vực công nghiệp-TTCN- xây dựng năm 2010 đạt 135,5 tỷ đồng. Phương hướng chủ yếu phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện là khai thác đá, đất sét, cao lanh cung cấp cho sản xuất công nghiệp ở các vùng khác; Xây dựng các cơ sở chế biến thực phẩm sấy nhãn, vải, chế biến nước hoa quả, đa dạng hoá sản phẩm phát triển công nghiệp chế biến nông-lâm sản, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công hiện có như sản xuất đồ gỗ, may mặc, mở rộng phát triển nghề mây tre đan với các sản phẩm phục vụ sinh hoạt và phục vụ du lịch. Quy hoạch cụm công nghiệp Tam Quan để phát triển các ngành trên…

Định hướng phát triển công nghiệp-TTCN huyện Tam Đảo đến 2020: Chủ yếu là phát triển các ngành nghề công nghiệp phục vụ tiêu dùng, khai thác vật liệu xây dựng, phát triển tiểu thủ công nghiệp phục vụ du lịch, sinh hoạt, phát triển vùng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm... tạo thêm việc làm cho người lao động;



Huyện Yên Lạc

Tính đến cuối năm 2009, trên địa bàn thị trấn Yên Lạc có 3.400 cơ sở (trong đó 90% là khu vực kinh tế ngoài nhà nước) sản xuất công nghiệp –TTCN các loại, thu hút 12.264 lao động (chiếm 15% tổng số lao động trên địa bàn). Giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng giai đoạn 2004-2009 là 21,6%/năm, Năm 2009 GTSX toàn huyệnYên Lạc (giá so sánh) đạt 1125,7 tỷ đồng tăng gần gấp đôi so với năm 2005; trong đó giá trị sản xuất CN-TTCN chiếm tỷ trọng 24,9 % trong tổng giá trị SX toàn huyện. Một số sản phẩm CN-TTCN chính ở trên địa bàn là ngành chế biến gỗ dân dụng và mỹ nghệ chiếm 29%, tái chế phế liệu sắt thép chiếm 31% sản xuất gạch, VLXD chiếm 20% giá trị SX CN-TTCN. Về đào tạo nghề, tổng số mở được 13 lớp cho 1582 người tham gia, kinh phí hỗ trợ là 187,3 tỷ đồng. Các lĩnh vực đào tạo: nghề mộc mỹ nghệ 4 lớp 120 người, nghề mây tre đan xiên, chế biến bông, chiếu trúc 8 lớp 650 người. Đào tạo nghề ngắn hạn 5 các nghề như: cốt thép hàn, điện toán và máy tính, may và thiết kế thời trang, điện dân dụng công nghiệp, tổng số học viên tham gia học: 812 người. Đến nay, UBND tỉnh đã công nhận tặng danh hiệu làng nghề truyền thống cho 03 làng nghề mộc truyền thống là Lũng Hạ - xã Yên Phương, Vĩnh Đoài, Vĩnh Đông - thị trấn Yên Lạc; 01 Làng chế biến tơ nhựa Tảo phú – xã Tam Hồng, 01 làng nghề chế biến bông vải sợi Thôn Gia – xã Yên Đồng. Các làng nghề chưa đủ tiêu chuẩn công nhận như đan lát, mây tre đan xiên tại xã Trung Kiên, Liên Châu; nghề mộc tại xã Trung Hà; nghề sản xuất trạc đay xã Nguyệt Đức; nghề tái chế nhựa thôn Đông Mẫu xã Yên Đồng; nghề sắt thép tại xã Đồng Văn và Tề Lỗ…

Năm 2010, tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện Yên Lạc đạt khoảng 700 tỷ đồng, tăng 29% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng với giá trị sản xuất đạt 161 tỷ đồng, tăng 35,8%; đánh dấu bước phát triển mới của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện. Các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chủ lực đều tăng: Chế biến gỗ tăng 5%; sản xuất kim loại tăng 54,5%; sản xuất sản phẩm khoáng phi kim tăng 25%, giải quyết việc làm cho 1.450 lao động ở 2 khu vực: công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ. Yên Lạc phấn đấu hết năm 2010 tỷ trọng CN-TTCN đạt 296,9 tỷ đồng chiếm 25% GTSX toàn huyện, thu hút 12.972 lao động chiếm 16% lao động trên địa bàn. Các cấp, các ngành và từng địa phương phối hợp chỉ đạo thực hiện tốt một số giải pháp vừa trước mắt, vừa có tính ổn định lâu dài. Trước hết cần hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho cụm CN Đồng Văn, Yên Đồng; triển khai lập quy hoạch các cụm CN tập trung tại các xã: Đại Tự, Nguyệt Đức, Trung Kiên, Tam Hồng, Minh Phương. Chú trọng đào tạo nghề ngắn hạn, bồi dưỡng kiến thức quản lý; khôi phục, phát triển nghề truyền thống tại các làng; du nhập nghề mới, xây dựng đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi.

Định hướng phát triển công nghiệp- TTCN huyện Yên Lạc đến năm 2020: Phát triển mạnh lĩnh vực thủ công nghiệp, lấy công nghiệp chế biến làm trọng tâm. Đẩy mạnh quá trình CNH nông nghiệp. Xây dựng các cụm công nghiệp, các làng nghề truyền thống làm động lực phát triển kinh tế và hình thành cơ cấu ngành công nghiệp huyện với nhóm sản phẩm chủ lực phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc. Đầu tư có chọn lọc các ngành công nghiệp thế mạnh của huyện như chế biến lương thực thực phẩm, tái chế sắt, sản xuất đồ gia dụng, đồ gỗ dân dụng… Phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở các xã, gắn với quảng bá và phát triển du lịch. Phấn đấu đưa mức giá trị sản xuất/đầu người (giá 1994) đạt 16,8 triệu đồng năm 2015 và 26,6 triệu đồng năm 2020.



Huyện Vĩnh Tường

Hiện toàn huyện Vĩnh Tường có 2.550 cơ sở sản xuất CN - TTCN, trong đó có 2.507 cơ sở cá thể, thu hút hơn 7.000 lao động tham gia trong đó lao động tại các làng nghề khoảng 4.500 lao động, thu nhập bình quân là 1.300.000đ/1lđ/tháng. Số làng nghề trên địa bàn huyện được UBND tỉnh công nhận là 07 làng nghề với 04 nghệ nhân và 23 thợ giỏi. Giá trị sản xuất CN-TTCN - ước đạt: GCĐ 572.850 triệu đồng, tăng 28,74% so với cùng kỳ; Khuyến công quốc gia hỗ trợ phát triển cho 07 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất Tổ chức 02 lớp đào tạo nghề mộc tại xã An Tường cho 100 học viên .

Định hướng phát triển công nghiệp huyện Vĩnh Tường đến năm 2020: Tận dụng tối đa lợi thế về vị trí địa lý của huyện để phát triển công nghiệp, dịch vụ trở thành cực phát triển công nghiệp tại khu vực Tây – Tây Nam của Tỉnh, tạo sự phát triển cân đối theo vùng lãnh thổ.Ưu tiên phát triển công nghệ cao; Phát triển công nghiệp cơ khí, công nghiệp điện tử, tin học, dệt may, chế biến nông sản thực phẩm, chế biến lâm sản, các ngành nghề tiểu thủ công.... Phấn đấu tăng trưởng GTSX bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 20,3%/năm; giai đoạn 2016 - 2020 là 21,5%/năm, giai đoạn 2021 - 2030 là 12,0%/năm. Đưa tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu GTSX chiếm 42,0% vào năm 2015; năm 2020 là 49,8%. Thu hút lao động vào sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2015: 2.500 người; năm 2020 là 3.700 người. Xây dựng khu công nghiệp Chấn Hưng với diện tích 131 ha, ưu tiên các ngành công nghiệp sản xuất chế tạo linh kiện điện tử, màn hình tinh thể lỏng, thiết bị âm thanh điện tử, cassete cho ôtô, đầu DVD cho ôtô... để phát huy lợi thế của những địa phương tiếp giáp với các tuyến đường giao thông quan trọng. Xây dựng, hoàn thiện cụm công nghiệp Lý Nhân, Vĩnh Sơn, Tân Tiến, Đồng Sóc – Vũ Di, An Tường, hoàn chỉnh quy hoạch CCN Việt Xuân, Đại Đồng ưu tiên các ngành nghề công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm đồ uống, dệt may, phụ tùng xe máy, sản xuất vật liệu xây dựng... Tăng cường công tác đào tạo thợ thủ công tại các làng nghề đảm bảo toàn bộ thợ thủ công được đào tạo tay nghề. Hướng dẫn các làng nghề đăng ký thương hiệu và bảo vệ thương hiệu. Phát triển làng nghề gắn với quy hoạch phát triển du lịch trên địa bàn huyện.

Huyện Lập Thạch

Năm 2009 là năm thực hiện Nghị định số 09/NĐ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Lập Thạch để thành lập huyện Sông Lô, Huyện Lập Thạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch 03 khu công nghiệp với diện tích 1.000 ha gồm: khu công nghiệp Lập Thạch 1 có diện tích 150 ha tại các xã Văn Quán, Xuân Lôi, Đình Chu; khu công nghiệp Lập Thạch 2 có diện tích 250 ha tại các xã Xuân Lôi, Tiên Lữ, Tử Du, Bàn Giản, Đồng ích và khu công nghiệp Thái Hoà, Liễn Sơn, Liên Hoà có diện tích 600 ha. UBND huyện đã thành lập Ban chỉ đạo GPMB và giao các cơ quan chức năng tiến hành triển khai kiểm kê, kiểm đếm tại 2 xã Bàn Giản, Đồng Ích để bàn giao cho dự án xây dựng nhà máy gạch thuộc tập đoàn Prime. Nhà máy giày da tại xã Xuân Lôi đang triển khai san lấp mặt bằng và kè đá, hàng rào. Về TTCN, tiếp tục hoàn thiện cụm CN thị trấn Lập Thạch, cụm CN xã Triệu Đề - Sơn Đông, làng nghề mây tre đan và quy hoạch cụm công nghiệp Thái Hoà- Bắc Bình do công ty TNHH Thu Công quản lý, chủ yếu sản xuất tơ tằm, chế biến bóc gỗ. Tổng số doanh nghiệp trên địa bàn huyện có 54 doanh nghiệp; ngoài ra còn có một số cơ sở sản xuất, chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng…Tổng giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng năm 2009 ước đạt: 200,22 tỷ đồng (tăng 16,188 tỷ đồng so với năm 2008). Năm 2009 toàn huyện tạo được việc làm mới cho 2.600 lao động, trong đó: 1.375 lao động thông qua các chương trình, dự án thuộc các ngành kinh tế nông nghiệp, nông thôn; 450 lao động ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng; 325 lao động ngành thương mại, dịch vụ, sửa chữa…; Thu nhập bình quân đầu người/năm đạt 12 triệu đồng, tăng 1,48 triệu đồng so với năm 2008. Lập Thạch phấn đấu Tổng giá trị sản xuất tăng: 19%. Thu nhập bình quân đầu người đạt trên 14 triệu đồng. Giải quyết việc làm 2.500 đến 3.000 lao động.

Định hướng phát triển công nghiệp- TTCN Lập Thạch đến năm 2020: Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất công nghiệp giữ vai trò động lực và nòng cốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế huyện. Phối hợp với Ban Quản lý Khu công nghiệp của tỉnh sớm hoàn thành xây dựng hạ tầng và lấp đầy các khu công nghiệp đã được phê duyệt (Lập Thạch 1, Lập Thạch 2, Thái Hòa – Liễn Sơn – Liên Hòa); nghiên cứu quy hoạch thêm một số cụm, điểm sản xuất công nghiệp tập trung; phát triển mạnh tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn; mở rộng, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các nghề truyền thống; tăng cường du nhập nghề vào nông thôn, phát triển làng nghề mới. Tốc độ tăng trưởng GTSX công nghiệp giai đoạn 2011-2015 đạt trên 26%/năm và giai đoạn 2016-2020 đạt trên 22%/năm.

Huyện Sông Lô

Năm 2009, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Sông Lô tăng 16,2%. Tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng trong cơ cấu kinh tế của huyện chiếm 24,66%; Thu nhập bình quân đầu người đạt 10,7 triệu đồng/người/năm. Để kinh tế thực sự bứt phá, huyện chủ trương khôi phục và phát triển các ngành nghề dịch vụ, khôi phục nghề chế tác đá ở xã Hải Lựu, nghề trồng cây cảnh ở xã Đức Bác. Nhiều nghề phụ như làm đậu, nấu rượu được nhân cấy; nhiều loại hình dịch vụ được khuyến khích phát triển đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho một bộ phận lớn người dân. Giá trị thương mại, dịch vụ toàn huyện năm 2009 đạt 126,900 tỷ đồng. Năm 2010, mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm là 18%/năm, trong đó tiếp tục đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường; tăng cường đầu tư hạ tầng cơ sở, nhất là giao thông nông thôn; đẩy mạnh thu hút đầu tư, khuyến khích phát triển ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nhằm huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế.

Theo quy hoạch KT-XH của tỉnh, 5-10 năm tới, kinh tế của Sông Lô vẫn chủ yếu dựa vào ngành nông nghiệp, phát huy thế mạnh chăn nuôi; đẩy mạnh tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, TTCN của địa phương; xây dựng các tuyến đường trọng điểm để thúc đẩy phát triển công nghiệp. Định hướng phát triển công nghiệp –TTCN huyện Sông Lô đến năm 2020 là đổi mới công nghệ trong ngành công nghiệp chế biến nhằm tạo sản phẩm chất lượng cao có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị trường. Gắn khai thác và chế biến nhằm nâng cao giá trị sản phẩm hàng hoá, hạn chế bán, xuất khẩu nguyên liệu thô hoặc sơ chế, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường. Đầu tư xây dựng KCN Sông Lô 1: 200 ha và KCN Sông Lô 2 với diện tích khoảng 180 ha và nghiên cứu xây dựng một số cụm công nghiệp. Giá trị tăng thêm của ngành CN -XD (giá thực tế) đến năm 2015 đạt 590,9 tỷ đồng, tăng 4 lần so với năm 2010 và đến năm 2020 dự kiến đạt 1.702,7 tỷ đồng, tăng 2, 9 lần so với năm 2015. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2020 là 25,0%.



tải về 1.3 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương