Ủy ban nhân dân tỉnh vĩnh phúC



tải về 1.3 Mb.
trang4/10
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích1.3 Mb.
#2063
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

Nguồn: dự báo của nhóm nghiên cứu

Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp theo giá thực tế (triệu đồng) và cơ cấu GTSXTTCN giai đoạn 2010 đến 2020:



Danh môc

 

GTSXTTCN (TriÖu §)

 

 

So víi GTSXCN (%)

 

2010

2015

2020

2010

2015

2020

1. C«ng nghiÖp khai th¸c

40.257

33.237

35.221

34,60%

32,19%

28,57%

2. C«ng nghiÖp chÕ biÕn

3.271.333

7.304.774

10.235.406

4,03%

3,16%

2,98%

2.1. N«ng l©m s¶n, thùc phÈm

1.644.275

3.990.394

5.817.499

39,89%

69,69%

68,54%

2.2. DÖt may - Da giÇy

150.155

218.521

270.330

8,85%

8,62%

8,75%

2.3. C¬ khÝ, chÕ t¹o, s¾t thÐp

531.527

1.030.252

1.401.986

0,77%

0,83%

0,78%

2.4. S¶n xuÊt vËt liÖu x©y dùng

927.316

2.022.647

2.680.729

20,42%

20,68%

18,53%

2.5. Ho¸ chÊt

-

2.763

3.819

-

0,44%

0,50%

2.6. §iÖn, ®iÖn tö

-

-

-

-

-

-

2.7. SX c«ng nghiÖp kh¸c

18.060

40.198

61.042

9,85%

4,10%

4,01%

3. SX vµ ph©n phèi ®iÖn, nưíc

-

-

-

-

-

-

Tæng céng

3.311.590

7.338.011

10.270.627

4,07%

3,17%

2,98%

Nguồn: dự báo của nhóm nghiên cứu

Phương án 3 : Theo phương án này, kinh tế thế giới sớm hồi phục, khả năng huy động vốn và tiến độ triển khai nhanh. Cơ cấu hạ tầng được đẩy nhanh tiến độ thuận lợi cho phát triển. TTCN cũng tìm kiếm thêm được các khách hàng trong và ngoài nước, nhờ đầu tư nước ngoài và du lịch dịch vụ phát triển. Các chỉ tiêu cơ bản dự báo như sau:

Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp theo giá so sánh và tốc độ tăng trung bình hàng năm giai đoạn 2010 đến 2020:



Danh môc

 

GTSXTTCN (TriÖu §)

 

Tèc ®é t¨ng t/b (%/n¨m)

2010

2015

2020

2011-2015

2016-2020

1. C«ng nghiÖp khai th¸c

10.408

12.017

13.485

2,92%

2,33%

2. C«ng nghiÖp chÕ biÕn

1.372.869

3.171.086

4.759.124

18,23%

8,46%

2.1. N«ng l©m s¶n, thùc phÈm

643.328

1.531.539

2.449.746

18,94%

9,85%

2.2. DÖt may - Da giÇy

90.192

185.681

222.241

15,54%

3,66%

2.3. C¬ khÝ, chÕ t¹o, s¾t thÐp

195.015

463.088

772.084

18,88%

10,76%

2.4. S¶n xuÊt vËt liÖu x©y dùng

439.093

978.674

1.297.093

17,39%

5,80%

2.5. Ho¸ chÊt

-

1.233

1.704

-

6,68%

2.6. §iÖn, ®iÖn tö

-

-

-

-

-

2.7. SX c«ng nghiÖp kh¸c

5.241

10.872

16.257

15,71%

8,38%

3. SX, ph©n phèi ®iÖn, nưíc

-

-

-

-

-

Tæng céng

1.383.277

3.183.103

4.772.610

18,14%

8,44%

Nguồn: dự báo của nhóm nghiên cứu

Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp theo giá thực tế (triệu đồng) và cơ cấu GTSXTTCN giai đoạn 2010 đến 2020:



Danh môc

 

GTSXTTCN (TriÖu §)

 

 

So víi GTSXCN (%)

 

2010

2015

2020

2010

2015

2020

1. C«ng nghiÖp khai th¸c

40.257

33.237

37.299

34,60%

32,19%

30,25%

2. C«ng nghiÖp chÕ biÕn

3.271.333

7.525.183

10.969.508

4,03%

3,25%

3,19%

2.1. N«ng l©m s¶n, thùc phÈm

1.644.275

4.142.155

6.315.966

39,89%

72,34%

74,41%

2.2. DÖt may - Da giÇy

150.155

210.588

252.052

8,85%

8,31%

8,16%

2.3. C¬ khÝ, chÕ t¹o, s¾t thÐp

531.527

1.009.006

1.528.040

0,77%

0,81%

0,85%

2.4. S¶n xuÊt vËt liÖu x©y dùng

927.316

2.125.533

2.817.089

20,42%

21,73%

19,47%

2.5. Ho¸ chÊt

-

2.763

3.819

-

0,44%

0,50%

2.6. §iÖn, ®iÖn tö

-

-

-

-

-

-

2.7. SX c«ng nghiÖp kh¸c

18.060

35.137

52.542

9,85%

3,59%

3,45%

3. SX, ph©n phèi ®iÖn, nưíc

-

-

-

-

-

-

Tæng céng

3.311.590

7.558.420

11.006.807

4,07%

3,26%

3,20%

Nguồn: dự báo của nhóm nghiên cứu

Phương án 2 được lựa chọn vì mặc dù kinh tế thế giới có dấu hiệu hồi phục nhưng vẫn chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn khó lường. UBND tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã quyết định dành 210 tỷ đồng nguồn vốn hỗ trợ nhằm phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng tại các cụm công nghiệp (cụm CN) và 20 tỷ cho công tác khuyến công giai đoạn 2010-2015; với nguồn vốn này, Vĩnh Phúc sẽ đầu tư hoàn chỉnh 20 cụm CN, xây dựng hệ thống thu gom rác thải xử lý nước thải tập trung di dời các cơ sở sản xuất vào cụm và hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động.



  1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

V.1. Những ngành nghề truyền thống cần khôi phục và phát triển

1. Gốm mỹ nghệ

Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng trong khi gốm sứ xây dựng phát triển mạnh mẽ, thì gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp nhiều khó khăn. Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm, sứ của Việt Nam năm 2009 đạt 267,2 triệu USD, giảm 22,4% so với năm 2008. Hầu hết kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm, sứ của Việt Nam năm 2009 sang các thị trường đều giảm mạnh. Năm 2010, xuất khẩu mặt hàng gốm sứ đạt 316,9 triệu USD chiếm 4,3% kim ngạch của cả nước, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2009 nhưng chưa thể hồi phục như mấy năm trước đây. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ của cả nước 9 tháng đầu năm 2011 đạt 253,4 triệu USD tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước.

Nói đến sản xuất gốm, trước hết phải nói đến nguyên liệu và nhiên liệu. Vĩnh Phúc có nguồn đất sét rất phong phú, chất lượng tốt ở Quất Lưu, Bá Hiến, đầm Vạc và bờ sông Lô.... Vĩnh Phúc cũng là một tỉnh giàu cao lanh phân bố ở Lập Thạch, Tam Dương và Vĩnh Yên. Mỏ cao lanh Định Trung có trữ lượng và chất lượng cao hơn cả, có thể dùng để sản xuất đồ gốm sứ và gạch chịu lửa. Vĩnh Phúc còn có than nâu ở Lập Thạch, than bùn ở Hoàng Đan, Hoàng Lâu huyện Tam Dương... Có nguồn nguyên liệu, nhiên liệu dồi dào, có sẵn những người thợ có tay nghề cao nhưng chưa đủ để phát triển nếu thiếu thị trường; Các đồ sành gia dụng tuy vẫn còn nhu cầu song không nhiều và giá trị thấp nên cần phải tìm kiếm và nắm bắt được nhu cầu của thị trường để tổ chức sản xuất và cung ứng thích hợp.

Nghề gốm Vĩnh Phúc không thể chỉ chuyên sản xuất một mặt hàng sành như trước đây, và cũng không thể đua nhau sản xuất gạch ngói thủ công như vài năm gần đây được. Có thể tham khảo cách làm của Bát Tràng để vượt qua sự cạnh tranh khốc liệt của đồ gốm sứ Trung Quốc và Hải Dương đã nghiên cứu thị trường trong ngoài nước; đầu tư công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, kể cả lò sấy bằng gas; đầu tư nâng cao tay nghề về cả kỹ thuật lẫn mỹ thuật, cử người đi đào tạo ở các trường đại học Mỹ thuật công nghiệp, đại học Bách khoa.... Kết quả là Bát Tràng vừa sản xuất hàng gia dụng đáp ứng nhu cầu của người dân trong nước, vừa sản xuất hàng xuất khẩu theo yêu cầu của nước ngoài, tạo ra những sản phẩm gốm mang đậm tính dân tộc. Chỉ sau vài năm làng gốm Bát Tràng đã trở thành một trung tâm sản xuất gốm sứ sầm uất của cả nước, được nhiều khách hàng trong và ngoài nước tìm đến tham quan, đặt hàng.         

Nếu Bát Tràng là hàng gốm tráng men, không giống với gốm Hương Canh và Hiển Lễ, thì Thổ Hà và Phù Lãng có sản phẩm gần với gốm truyền thống Vĩnh Phúc hơn. Thổ Hà và đặc biệt là Phù Lãng đã cải tiến công nghệ sản xuất và đa dạng hoá sản phẩm. Một mặt họ vẫn sản xuất đồ sành và sành tráng men gia dụng như trước đây, mặc khác họ đã đầu tư vào sản xuất đồ gốm mỹ nghệ chất lượng cao và làm hàng xuất khẩu. Làng gốm Hương Canh, trong quá trình mầy mò tìm lối thoát cũng đã có những kết quả tốt đẹp bước đầu rất đáng khích lệ. Đó là sự hợp tác của vợ chồng ông Nguyễn Thanh với hoạ sĩ Lê Duy Ngoạn đã sản xuất thành công một số hàng trang trí nội thất và một số hàng mỹ nghệ độc đáo được người tiêu dùng đánh giá cao. Một số sản phẩm từ lò gốm Nguyễn Thanh của họa sĩ Lê Duy Ngoạn đã nhận được giải thưởng tại các cuộc triển lãm trong nước và được gửi đi dự triển lãm mỹ thuật tại Nhật Bản là những thử nghiệm có thể mở ra một hướng đi mới cho làng nghề gốm truyền thống nơi đây.

      Trong các di tích Đồng Đậu và Thành Dền đã phát hiện được khoảng chục tượng trâu, bò, gà nhỏ xíu sinh động, thể hiện theo mảng khối khá hiện thực được xem là những tác phẩm nghệ thuật tạo hình sớm nhất được phát hiện trên đất nước ta cũng rất đáng được mô phỏng làm đồ lưu niệm. Hướng sản xuất những đồ gốm giả cổ làm mặt hàng lưu niệm rất đáng được lưu ý vì Vĩnh Phúc có tiềm năng lớn về du lịch. Các làng nghề đều nằm gần hoặc trên các trục đường đến các khu du lịch như Tam Đảo, Tây Thiên, Đại Lải... Hướng sản xuất đồ gốm giả cổ này nhiều làng nghề nước ta đã làm và cũng rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới vì vừa giúp bảo tồn làng nghề thủ công truyền thống, vừa phục vụ cho du lịch, dịch vụ phát triển.

Như một chuyên gia trong lĩnh vực gốm đã nói, “tìm hướng đi cho sự thành công của một vài lò gốm đã khó thì việc tìm hướng phát triển cho cả một làng nghề càng khó gấp bội”. Sự phát triển của đồ gốm cho thấy, một số đã và sẽ được đồ nhôm, đồ nhựa, đồ inox... thay thế, nhưng đồ gốm vẫn chiếm ưu thế trong gốm gia dụng và gốm mỹ nghệ như tượng đất nung, phù điêu gốm, đĩa gốm trang trí, tranh gốm, đồ trang trí nội thất… Tại các nước tiên tiến gốm còn được ứng dụng thay thế một số bộ phận kỹ thuật chịu nhiệt và chịu mài mòn tốt...

Đầu tháng 1/2010, công ty nghiên cứu thị trường phi lợi nhuận Kearny Alliance (Mỹ) đã công bố báo cáo về nguồn hàng gốm sứ của thị trường Việt Nam, nhằm cung cấp cho khách mua hàng trên toàn thế giới những nguồn cung ứng chất lượng. Báo cáo này đã thu thập dữ liệu của 35 nhà sản xuất giàu kinh nghiệm và 117 sản phẩm xuất khẩu đang bán chạy nhất, được mô tả đầy đủ, chi tiết về giá cả, bao bì, gồm các mặt hàng lọ, bình, chậu trồng cây, bình cắm hoa, đồ trang trí sân vườn, tượng nhỏ, đèn, đĩa, chén, ca, bộ bình trà, bình đựng nước, khay… Khảo sát cũng cho thấy xu hướng chuyển dịch về sản phẩm trong ngành gốm tập trung vào những sản phẩm mang tính ứng dụng cao như ấm, chén, ly, tách, đẩy mạnh sản xuất dòng sản phẩm tiêu dùng, thay vì chỉ sản xuất gốm mỹ nghệ như trước đây.

Để tồn tại và phát triển, các làng nghề gốm truyền thống cần phải chuyển hướng sang sản xuất đa năng, đa dạng như bên cạnh đồ sành truyền thống, có thể phát triển sản xuất đồ gốm thường; đồ gốm gia dụng, đồ gốm mỹ thuật, đồ gốm tráng men, đồ gốm trang trí nội thất, và thậm chí có thể sản xuất cả đồ sứ vì Vĩnh Phúc là một tỉnh giàu đất cao lanh. Các lò gốm tự phát của các hộ gia đình không thể làm được vì tính chất thủ công và tiềm lực tài chính yếu. Để làm được việc đó cần có sự hỗ trợ của Nhà nước, hiệp hội, nghiên cứu tìm kiếm thị trường, xây dựng phương án sản xuất tổng hợp với các kế hoạch ngắn hạn, dài hạn... Cần huy động mọi nguồn vốn để đổi mới trang thiết bị, hiện đại hoá công nghệ sản xuất, đào tạo cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề tạo ra những sản phẩm chất lượng cao đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, không gây tác động xấu tới môi trường. Cần gắn kết việc khôi phục phát triển làng nghề với việc phát triển du lịch, “xuất khẩu tại chỗ” trên địa bàn tỉnh đảm bảo đầu ra cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm.




tải về 1.3 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương