Ủy ban nhân dân tỉnh vĩnh phúC



tải về 1.3 Mb.
trang2/10
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích1.3 Mb.
#2063
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

Tỉnh Vĩnh Phúc đã quy hoạch các cụm công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp và có các đề án khôi phục hỗ trợ phát triển các làng nghề TTCN mang lại những kết quả đáng khích lệ. Một số làng nghề truyền thống đã và đang phát triển như: đá Hải Lựu (Lập Thạch), mộc Thanh Lãng, gốm Hương Canh (Bình Xuyên); đan lát Triệu Đề (Lập Thạch)... Hàng chục xã trước đây còn trắng về CN – TTCN nay đã có nghề mới như nghề thêu ở Thanh Lãng, Phú Xuân, Tân Phong (Bình Xuyên), nghề mây tre đan ở Vân Trục, Văn Quán, Cao Phong, Đồng Thịnh (Lập Thạch), nghề mộc ở Lý Nhân (Vĩnh Tường)... Nhiều làng nghề phát triển theo hướng sản xuất thủ công mỹ nghệ và làm hàng xuất khẩu như làng mộc Thủ Độ (xã An Tường, huyện Vĩnh Tường)...


II.2. Tình hình phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000-2010

II.2.1. Gốm mỹ nghệ

Lịch sử nghề gốm ở Vĩnh Phúc đã có từ lâu đời, các di chỉ khảo cổ văn hoá Phùng Nguyên cho biết nghề gốm đã tạo hình và trang trí hoa văn bằng phương pháp bàn xoay và nung gốm trong những lò gốm. Những khu lò gốm cổ ở Lũng Hoà và Thanh Lãng tập trung hàng chục lò một nơi cho thấy quy mô lớn cùng cấu trúc khá hoàn chỉnh của lò gốm lúc bấy giờ. Lò đã được cải tiến đáng kể, nhiệt độ trong lò nung được nâng cao, cho phép ra đời kỹ thuật tráng men trong giai đoạn này. Đến thời Lý -Trần, đồ gốm đã có một bước phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của đồ gốm men ngọc và đồ gốm hoa nâu. Nhiều ngọn tháp cao tầng nổi tiếng trên đất Vĩnh Phúc đã được xây dựng như tháp Bình Sơn, tháp chùa Chò, tháp chùa Vũ Di, cùng với các tượng Phật bằng đất nung đã thúc đẩy nghề gốm thời này phát triển mạnh. Đến thời Lê - Nguyễn, nhiều trung tâm sản xuất gồm có tính chất chuyên môn hoá được hình thành ở khắp nơi như Bát Tràng ở Hà Nội, Thổ Hà, Phù Lãng ở Bắc Ninh, Vân Đình ở Hà Tây, Hợp Lễ, Chu Đậu, Làng Cậy -Hải Dương.... Trên đất Vĩnh Phúc nhiều khu lò gốm cũng đã ra đời trong giai đoạn này và có tiếng như Lò Canh ở Hương Canh, Lò Hiển Lễ ở gần Xuân Hoà, khu lò gốm Làng Hoa, Làng Láp… Đồ gốm Hương Canh cũng như Hiển Lễ khá đa dạng, nhưng chủ yếu là đồ sành gia dụng như chum, vại, chĩnh, nồi đình, ấm, chõ, chảo rang, tiểu sành…. Gốm sành nâu ở đây tuy không tráng men như gốm Phù Lãng nhưng với chất đất nguyên liệu dẻo quánh lại được nung trong lò có nhiệt độ cao nên sản phẩm chắc khoẻ, chống ẩm, chống thấm tốt nên đã tồn tại và phát triển suốt mấy trăm năm, trở thành những làng nghề truyền thống. Tuy nhiên, phần lớn các hộ vẫn sử dụng phương pháp sấy thủ công đốt than, củi nên chất lượng sản phẩm không ổn định, giá sản phẩm không cao lại gây ô nhiễm môi trường. Làng Hiển Lễ, xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên vốn có nghề gốm cổ truyền. nhưng đến nay cả làng chỉ còn một vài nhà làm, nghề gốm đã không còn phát triển như trước đây nữa. Vĩnh Phúc đã quy hoạch cụm TTCN làng nghề gốm Hương Canh với diện tích 3 ha để đưa các cơ sở vào sản xuất tập trung và bảo vệ môi trường. Trung tâm khuyến công tỉnh đang chuyển giao công nghệ lò ga tự động giúp người sản xuất gốm có biện pháp nung sấy mới đảm bảo chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.

Nghề gốm Vĩnh Phúc có vị trí thuận lợi có thể giao lưu khắp mọi miền đất nước lại giàu nguồn đất sét và cao lanh nên liên tục phát triển qua các giai đoạn lịch sử cho đến tận hôm nay. Với sự phát triển nhanh chóng của đồ nhôm, đồ nhựa, đồ thuỷ tinh có thể thay thế đồ gốm gia dụng và kỹ thuật gốm sứ hiện đại dễ dàng lấn át đồ gốm thủ công cả về số lượng cũng như chất lượng nên nghề gốm truyền thống của Vĩnh Phúc cũng như nhiều làng gốm khác gặp muôn vàn khó khăn để tồn tại chưa nói đến phát triển. Hầu hết các gia đình vốn làm đồ sành chuyển hướng sang sản xuất gạch ngói. Dân Hương Canh giàu lên nhưng nghề gốm truyền thống lại sa sút nghiêm trọng. Nghề sản xuất gạch ngói thủ công cũng chỉ phát triển mạnh được vài năm lại gặp khó khăn do ô nhiễm môi trường, do thiếu đất nguyên liệu phải đi mua từ xa về, giá thành tăng cao không thể cạnh tranh được với gạch tuy nen của Liên hiệp gốm sứ Hợp Thịnh cách đó không xa. Hương Canh nay chỉ còn một vài nhà sản xuất đồ sành truyền thống quyết tâm sống chết với nghề do cha ông để lại. Hiển Lễ cũng có tình trạng tương tự, đã có thời trước đây hầu như cả làng đều sống về nghề gốm. Có gia đình trực tiếp sản xuất, có gia đình lo việc giao lưu trao đổi. Nghề làm gốm ở đây tuy là nghề phụ, nhưng lại là nguồn sống chính. Hiện nay, chỉ còn một số gia đình tiếp tục sản xuất đồ sành gia dụng cung cấp cho thị phần có thu nhập thấp.

Gốm là dạng sơ khai của sứ nên chưa kết khối hoàn toàn, các tạp chất chưa phân hủy hết, kém bền và vẫn thấm khi sử dụng. Các sản phẩm gốm được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng nhờ tính độc đáo, trang trí phù hợp với thị hiếu đương đại, nhiệt độ nung cao giúp sản phẩm không bị nứt vỡ do thời tiết thay đổi và không chứa các chất gây nguy hại cho người dùng. Nếu chỉ làm những loại chum, vại, bát, đĩa... truyền thống thì nghề gốm khó phát triển được, nhưng đa dạng hoá mặt hàng thì phải đầu tư cho nghiên cứu thị trường, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào nhiều khâu trong quá trình sản xuất giúp tăng năng suất, hạ giá thành, đảm bảo chất lượng của sản phẩm, trong khi đại đa số các cơ sở sản xuất là hộ gia đình thiếu mặt bằng, công nghệ, kỹ thuật và vốn do đó rất cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.



II.2.2. Mây tre đan lát

Công việc nhà nông luôn gắn liền với nong, nia, giần, sàng, thúng mủng, bồ cót... những đồ đan từ đơn giản đến phức tạp do chính tay những người nông dân tạo nên. Cho đến nay, mây tre đan không chỉ đi vào đời sống sinh hoạt hàng ngày mà còn đang trở thành mặt hàng mang bản sắc Việt Nam (VN) trên thị trường thế giới. Nghề mây tre đan ở Vĩnh Phúc tuy thu nhập chưa cao nhưng là một trong những nghề tiểu thủ công nghiệp có vai trò quan trọng, giải quyết việc làm cho một lực lượng lao động lớn trong nông thôn nhờ nguyên liệu là loại cây có thể phát triển trên địa hình vùng đồi gò của Vĩnh Phúc.

Để khôi phục và phát triển nghề mây tre đan, Vĩnh Phúc đã đón các nghệ nhân ở làng nghề đan lát Khả Ðào (tỉnh Hà Tây cũ) và làng nghề đan lát Ngọc Ðồng (tỉnh Hà Nam) về mở lớp dạy nghề mây tre đan xuất khẩu cho hơn 5.000 học viên ở những làng nghề đan lát Triệu Ðề, Ðồng Ích, Văn Quán, Trung Kiên, Tam Hồng, Minh Quang, Tam Ðồng... Sau thời gian học nghề, các học viên đã trở thành nòng cốt khôi phục những làng nghề đan lát của tỉnh. Trung tâm Khuyến công và TVPTCN Vĩnh Phúc cũng đã tổ chức các khóa đào nghề mây tre đan xuất khẩu do các thợ lành nghề của doanh nghiệp tư nhân Thịnh Vượng và các cán bộ kỹ thuật của Hợp tác xã Mây tre đan xuất khẩu Cao Thắng thực hiện. Các học viên được hướng dẫn các kỹ thuật cơ bản để đan một số sản phẩm mây tre đan xuất khẩu, sau 2 tháng học nghề, nguyên liệu và sản phẩm sẽ được các doanh nghiệp trên cung ứng và bao tiêu. Hợp tác xã mây tre đan xuất khẩu Cao Thắng được thành lập năm 2004 với ngành nghề sản xuất kinh doanh chính là sơ chế cây mây và đan hàng mây tre xuất khẩu. Từ nguồn vốn ban đầu 100 triệu đồng, đến nay, vốn cố định Hợp tác xã trên 1 tỷ đồng, với 2.500m2 nhà xưởng, 1 lò sấy 3 tấn nguyên liệu/ngày. Năm 2009, giá trị sản xuất kinh doanh của Hợp tác xã đạt 3,8 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động 1 triệu đồng/tháng. Hợp tác xã đã triển khai đào tạo, truyền nghề cho 22 lớp với 770 học viên các địa phương thuộc 3 huyện Sông Lô, Lập Thạch, Vĩnh Tường.

Những làng nghề đan lát nổi tiếng trên địa bàn tỉnh là: Minh Tân, Trung Kiên, Vân Giang (huyện Yên Lạc), Triệu Đề (Lập Thạch), Bích Chu (Vĩnh Tường)... Triệu Đề là xã có truyền thống làm nghề đan lát, tập trung chủ yếu ở phía nam của xã. Hiện xã có 7 thôn tham gia làm nghề, năm 2006 thôn Triệu Xá vinh dự được UBND tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống.

Hầu hết các cơ sở sản xuất nguyên liệu, mây tre trên địa bàn tỉnh vẫn chưa ứng dụng công nghệ sấy để bảo quản, chưa bảo đảm được độ bền sản phẩm, chưa tự hoàn thiện được quy trình, mới chỉ cung cấp nguyên liệu thô, gia công bán thành phẩm và chuyển cho công ty cấp 1 để hoàn thiện và xuất khẩu, nên giá trị gia tăng không cao; phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết; không chủ động được tiến độ giao hàng, do đó nghề mây tre đan trên địa bàn tỉnh chưa có bước phát triển đột phá. Phương pháp sấy và bảo quản mây tre đan hiện nay ở Vĩnh Phúc chủ yếu dùng lưu huỳnh (diêm sinh), phơi nắng hoặc bằng lò hun. Để rút ngắn thời gian sản xuất, đảm bảo yêu cầu về chất lượng cũng như tiến độ giao hàng xuất khẩu, Trung tâm Khuyến công tỉnh đã thử nghiệm và ứng dụng công nghệ sấy bảo quản nguyên liệu, sản phẩm mây tre đan tại doanh nghiệp tư nhân Tiến Đa và làng nghề sơ chế mây tre Cao Phong (Lập Thạch). Về chi phí đầu tư hết khoảng 90-100 triệu đồng, hiệu quả của mô hình sấy: về thời gian tốn ít, hết khoảng 1,5h, năng suất 2mẻ/ngày, diện tích sử dụng 18m2, chỉ cần 1-2 lao động; chi phí sản xuất cho một mẻ sấy là 65.000đồng/mẻ, khả năng thu hồi vốn khoảng 24 tháng.

Hiện nay, hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đang có thị trường tương đối lớn tại các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ... Nếu có hướng đi đúng, hàng sản xuất đạt chất lượng cao và có khách hàng nhập khẩu thường xuyên, số lượng lớn sẽ đem lại thu nhập cao, ổn định cho những người thợ làng nghề mây tre đan. Khôi phục và phát triển làng nghề ở Vĩnh Phúc theo hướng sản xuất hàng mỹ nghệ và hàng xuất khẩu không chỉ giúp cho Vĩnh Phúc phá được thế "thuần nông" mà còn góp phần từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần phát triển du lịch - dịch vụ ở Vĩnh Phúc những năm tới đây. Tuy nhiên, việc tìm thị trường ổn định cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề đang là vấn đề quan trọng đối với những người thợ thủ công và các cấp, ngành hữu quan. Có đầu ra ổn định mới đem lại sự phát triển lâu dài cho các làng nghề thủ công của cả nước nói chung và các làng nghề thủ công của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng. 



II.2.3. Chế biến gỗ gia dụng, đồ mỹ nghệ

Chế biến gỗ gia dụng và mỹ nghệ là ngành đóng góp doanh thu tiểu thủ công nghiệp lớn thứ hai sau gạch ngói thủ công. Tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều cơ chế chính sách nhằm thu hút các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và chế biến gỗ như: miễn tiền thuê đất từ 2 đến 3 năm đầu cho các cơ sở mới thành lập; các doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được dùng giá trị quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn ngân hàng. Các hộ, cơ sở đầu tư phát triển nghề mộc được miễn giảm các loại thuế từ 2 đến 3 năm; được vay vốn ngân hàng lãi suất thấp để đầu tư, đổi mới công nghệ... nhờ đó tình hình ngành chế biến gỗ gia dụng, mỹ nghệ trên địa bàn Vĩnh Phúc tại các làng nghề phát triển khá nhanh, đem lại thu nhập ổn định cho nhân dân. Điểm qua một số làng nghề tiêu biểu dưới đây có thể thấy hầu hết các hộ đều làm nghề mộc; Một số gia đình có vốn đầu tư mở xưởng lớn và thuê nhân công; Những hộ có ít vốn và chưa có nhiều mối giao hàng thì nhận hàng về gia công; Nghề mộc đã giúp cho 60-70% số hộ khá và giàu.



Đồ gỗ Thanh Lãng đã trở nên nổi tiếng với những chiếc sập gụ, tủ chè, tủ chùa, tủ tường kiểu dáng đẹp, kết hợp hài hoà với những đường nét hoa văn chạm trổ, điêu khắc tinh tế, đặc sắc, mềm mại, sinh động; ngày càng khẳng định thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước… Được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của chính quyền địa phương đã hình thành 9 doanh nghiệp kinh doanh nghề mộc. Số hộ làm nghề mộc lên tới 1.608 hộ (toàn thị trấn có 2.743 hộ) với 3.267 lao động. Thợ Thanh Lãng có thể làm ra nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng như các công trình ở đình, chùa, nhà kiểu cổ, đồ thờ, hoành phi, câu đối, cuốn thư, những đồ giả cổ như sập, tủ chè, bàn ghế mỹ nghệ hay các sản phẩm đồ gỗ gia dụng trang trí nội thất... Trên địa bàn có những mô hình hợp tác theo nhóm mang lại hiệu quả kinh tế cao như nhiều gia đình chung vốn, chung nhân vật lực đầu tư làm ăn, hoặc một hộ đứng ra tổ chức rồi thuê từng cá thể, gia đình hợp tác sản xuất. Hiện có 478 hộ trực tiếp mở xưởng sản xuất kinh doanh, thu hút 1.167 lao động với mức lương bình quân từ 1,8 đến 2 triệu đồng/người/tháng. Thu nhập từ nghề mộc hàng năm thường chiếm tỷ trọng cao, năm 2008 ngành này mang về cho địa phương 80 tỷ/157 tỷ đồng tổng sản phẩm xã hội, chiếm 51%. Nghề mộc đã làm giàu cho nhiều hộ gia đình ở Thanh Lãng; Toàn thị trấn có hơn 60% hộ khá, giàu; Năm 2009, thu từ ngành nghề đạt 95,4 tỷ đồng, bình quân thu nhập đầu người đạt 13,2 triệu đồng/năm. 5 năm qua, Thanh Lãng đã phối hợp với các ngành chức năng mở 26 lớp đào tạo, nâng cao tay nghề chạm khảm, khắc gỗ cho gần 500 thợ trẻ; tổ chức 3 cuộc thi thợ mộc giỏi. Thanh Lãng còn ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch và xây dựng cụm làng nghề với diện tích 8,2 ha. Làng mộc Minh Tân cách đó không xa tuy số thợ có tay nghề giỏi không bằng Thanh Lãng nhưng có tư duy thị trường nhạy bén nên sản phẩm của họ có mặt khắp từ Bắc vào Nam. Nhiều gia đình ở Thanh Lãng chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Minh Tân. Cụm công nghiệp làng nghề do UBND huyện Bình Xuyên quy hoạch tại thị trấn sắp hoàn thành, hy vọng thương hiệu “mộc Lãng” sẽ được nhiều người biết đến hơn tạo điểm nhấn quan trọng trong phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp huyện Bình Xuyên.

      Nằm ở vùng đất bãi bên bờ Sông Hồng, xã An Tường có làng nghề Bích Chu, Thủ Độ với hai ngôi đình làng có từ những năm cuối thế kỷ XVI thờ ông tổ đã tạo dựng làng nghề mộc, Từ rất lâu, Bích Chu nổi tiếng về kỹ thuật làm đồ gỗ, làng gồm 800 hộ và hầu hết đều làm nghề mộc. Bích Chu không chỉ làm ra đồ gỗ dân dụng bình dân như tủ, giường, bàn ghế mà còn sáng tạo ra ra những đồ gỗ có giá trị mỹ thuật cao gồm các tượng gỗ bày ở điện thờ, đình miếu, những bức đại tự sơn son thếp vàng, những mâm, quả hộp hoa văn sắc sảo mang đậm nét văn hóa truyền thống.....Làng nghề mộc Thủ Độ tuy không có tiếng bằng các làng mộc khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhưng những năm gần đây luôn đứng đầu về doanh thu, thị trường tiêu thụ; Đó là nhờ làng nghề đã nhạy bén trong cơ chế thị trường, đa dạng hoá sản phẩm, sản xuất theo nhu cầu thị trường, luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm. Nhiều mặt hàng như đồ gỗ gia dụng, đồ gỗ trang trí nội thất, đồ gỗ mỹ nghệ, đồ khảm, bàn ghế sa lông, các loại tủ, đồ thờ, câu đối, hoành phi, cuốn thư…. được sản xuất đạt trình độ tinh xảo nên đã thu hút được đông đảo khách hàng. Sản phẩm của làng mộc Thủ Độ không chỉ được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, đạt hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Toàn làng Thủ Độ có trên 1.000 hộ dân, thì có tới 70% số hộ làm nghề mộc và có tới 1/3 số hộ chuyên làm nghề mộc. Doanh thu hàng năm của làng nghề chiếm 60% tổng thu nhập của cả xã, số hộ khá giầu chiếm trên 70%. Hiện nay làng mộc Thủ Độ có 10 doanh nghiệp chuyên làm nghề mộc, với nguồn vốn hàng trăm tỷ đồng, thu hút được 400 đến 500 lao động địa phương và các vùng lân cận. Lương của công nhân bậc cao đạt từ 2 đến 2,5 triệu đồng/tháng; thấp là từ 700.000 đồng đến 900.000 đồng/tháng. Công cụ làm mộc đã được cơ khí hoá, điện khí hoá một phần nên năng suất cao, sản phẩm làm ra phong phú về chủng loại và mẫu mã giúp đồ gỗ An Tường được người tiêu dùng cả nước biết đến. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ mở rộng quy mô sản xuất, xã An Tường đã quy hoạch trên 2 ha xây dựng cụm công nghiệp - TTCN; đồng thời đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng đường giao thông, điện, nước phục vụ cụm công nghiệp.

Vĩnh Đông nằm ở phía đông nam thị trấn Yên Lạc có 4.836 nhân khẩu, 1.105 hộ chiếm 1/3 dân số toàn thị trấn. Nghề mộc của làng đã có từ nhiều năm nay với sản phẩm đặc trưng là bàn ghế, giường tủ, làm nhà… Đến nay, các hộ có vốn lớn đã đầu tư lán, xưởng, máy móc thiết bị công nghệ sản xuất trị giá đến hàng tỷ đồng. Năm 2008 làng mới có 198 lán xưởng; trung bình mỗi lán chỉ có từ 5 đến 7 lao động, thu nhập bình quân từ 1,5 đến 2 triệu đồng/người/tháng. Đến năm 2009 làng đã phát triển lên tới 376 lán xưởng, trung bình mỗi lán xưởng có từ 9 đến 15 lao động, thu nhập bình quân từ 1,5 đến 2,5 triệu đồng/người/tháng. Những đợt cao điểm các lán xưởng đã tận dụng tối đa số lao động nhàn rỗi trong và ngoài địa phương, tổng giá trị thu nhập từ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trung bình một năm đạt hơn 20 tỷ đồng, trong đó nghề mộc đạt 12,5 tỷ đồng. Nghề mộc phát triển đã giải quyết nhiều việc làm cho lao động địa phương; số hộ khá và giàu của làng hiện chiếm tới 78%. Hiện làng không còn nhà tranh tre, nứa lá. Mức thu nhập bình quân đầu người đạt 11,9 triệu đồng/người/năm. Vĩnh Đông đã được UBND tỉnh công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống năm 2009.

Làng mộc Lũng Hạ (Yên Phương, Yên Lạc) chủ yếu làm đồ mỹ nghệ như: tủ chè, trường cuốn, hoành phi, câu đối, đồ thờ… từ gỗ mít với những đường chạm khắc thủ công tinh xảo. Làng có hơn 200 hộ thường xuyên làm mộc với trên 1.200 lao động. Hầu hết các hộ đều tận dụng lao động trong nhà, thu nhập bình quân trên đầu người mỗi tháng đạt 1-1,2 triệu đồng. Các loại máy cưa xẻ lớn, nhỏ, máy bào, máy soi, máy lộng, máy chà… đã thay thế dần lao động thủ công nên năng suất lao động đã tăng gấp 3-4 lần; Nghề mộc đã đem lại cho người dân Lũng Hạ những đổi thay về đời sống vật chất và tinh thần. Làng thường tổ chức các cuộc thi tay nghề để phát hiện những thợ giỏi, những sản phẩm mới độc đáo, có chất lượng nhằm phát triển sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ. Hàng năm giá trị sản xuất từ nghề mộc của Lũng Hạ chiếm 60% giá trị sản xuất của làng. Để phát huy những giá trị của một làng nghề truyền thống, Lũng Hạ dự kiến sẽ quy hoạch một khu sản xuất tập trung.

II.2.4. Chế tác đá

Người dân miền Bắc nước ta dùng đồ đá từ lâu nhưng ít ai biết đến nơi đã chế tác ra chúng, đó là Hải Lựu thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Hải Lựu là xã có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế của huyện Sông Lô được tách ra từ huyện Lập Thạch. Tiềm năng lớn nhất của Hải Lựu là nguồn nguyên liệu đá tập trung trên dãy núi Thét có độ cao trung bình là 150-200m so với mực nước biển với trữ lượng gần 400 triệu m3. Đây là nguồn nguyên liệu lớn, phù hợp với làm đá xây dựng và mỹ nghệ. Khu Đồng Trăm có đá nổi vân màu ngũ sắc dùng làm vật liệu trang trí trong xây dựng. Khu Đồng Trổ có đá xanh. đá xám với nhiều màu sắc từ trắng ngà, gan gà, da cóc... hợp tiêu chuẩn lý hóa để làm các sản phẩm bền chắc, tồn tại song hành cùng thời gian. Chỉ với các dụng cụ đơn giản như búa, đục, choòng, vồ gỗ lim, com pa, dây dọi... làng đá Hải Lựu từ bao đời nay đã cung cấp đồ đá cho khắp mọi nơi. Nghề khai thác đá ở Hải Lựu vẫn theo lối truyền thống đục, bẩy, đẽo nên năng suất lao động thấp, ­người chế tác đá mỹ nghệ rất khó khăn trong việc lựa chọn nguyên liệu phù hợp với tác phẩm của mình.

Trong những năm gần đây, được sự hỗ trợ của chương trình khôi phục và phát triển các làng nghề của tỉnh, nghề đá tại xã Hải Lựu huyện Lập Thạch có nhiều biến chuyển tích cực. Năm 2006, Hải Lựu đã được UBND tỉnh công nhận là Làng nghề đá truyền thống, đây là động lực để nghề đá tại đây ngày càng phát triển, nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân trong xã. Trước đây các sản phẩm được sản xuất từ đá của xã Hải Lựu chỉ đơn thuần là các vật dụng đơn giản hàng ngày như cối đá, máng lợn, bậc thang… gần đây khi nền kinh tế thị trường phát triển thì nghề đá đã có nhiều khởi sắc, các sản phẩm đá đã phong phú hơn, chất lượng, giá trị cao hơn như các sản phẩm đá mỹ nghệ, vật liệu xây dựng cao cấp phục vụ các công trình trùng tu, xây dựng chùa chiền, đền thờ, miếu mạo, dân dụng trong đó có cả những sản phẩm lớn như voi đá, ngựa đá, tòa sen tượng phật chân cột đình, bia văn tự, đỉnh lư hương thắp nhang sân chùa, nhịp cầu bằng đá...không chỉ cung cấp cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu. Một số thợ đá xã Hải Lựu được truyền nghề trạm khắc đá mỹ nghệ do những nghệ nhân nổi tiếng của làng đá Non Nước-Đà Nẵng truyền dạy. Sau thời gian học nghề, các học viên đã tự tay chọn đá, pha đá, tạo hình, đục trạm những sản phẩm đá mỹ nghệ không thua kém gì so với sản phẩm đá mỹ nghệ ở Ðà Nẵng. Lớp thợ này là nòng cốt để nhân rộng và phát triển những sản phẩm tinh xảo. Nhiều công ty, doanh nghiệp dần dần được hình thành, đa số các doanh nghiệp là người dân tại xã, do đó có sự liên kết rất lớn giữa các doanh nghiệp với nhau tạo nên một thế mạnh trong phát triển làng nghề. Những doanh nghiệp này là đầu mối khai thác, sản xuất và bao tiêu sản phẩm, thu hút nhiều lao động địa phương. Năm 2007, nghề đá mới thu hút 112 hộ với 258 lao động, đến nay đã thu hút hơn 500 lao động; doanh thu của nghề đá hàng năm khoảng 20 tỷ đồng thu nhập bình quân của lao động nghề đá là 2-2,5 triệu đồng/tháng. Công ty TNHH Thanh Sơn và Tiến Thành đã đầu tư một số trang thiết bị hiện đại chuyên sản xuất đá mỹ nghệ phục vụ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu sang các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ đem về cho làng đá Hải Lựu hàng trăm triệu đồng/năm.

II.2.5. Công cụ cầm tay, (rèn)

Làng nghề rèn xã Lý Nhân là một trong các địa chỉ cung cấp các dụng cụ cầm tay, nông cụ hàng đầu của tỉnh Vĩnh Phúc. Xã Lý Nhân nằm ở phía tây bắc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc có 282,6 ha diện tích đất tự nhiên trong đó diện tích đất canh tác là 141,7ha. Phía bắc giáp Phú Thịnh, phía nam giáp An Tường, phía đông giáp Thượng Trưng, phía tây là nhánh sông con của dòng sông Hồng, giáp với xã Minh Châu thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội). Lý Nhân có 3 thôn: Bàn Mạch, Vân Giang và Văn Hà thì cả 3 thôn đều được tỉnh công nhận là các làng nghề truyền thống. Toàn xã có 1.133 hộ dân với gần 5.000 nhân khẩu thì có tới 559 hộ làm nghề truyền thống với 394 hộ làm nghề rèn và 265 hộ làm nghề mộc, chiếm tới trên 60% tổng số hộ gia đình tham gia các làng nghề. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tại địa phương đã giải quyết việc làm cho gần 1.700 lao động địa phương với mức thu nhập bình quân 1,5 triệu đồng/ người/tháng. Năm 2009, doanh thu từ các làng nghề đạt xấp xỉ 15 tỷ đồng. Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã Lý Nhân đạt 4,4 triệu đồng/tháng, trong đó riêng các hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp thu nhập bình quân trên 7 triệu đồng/tháng. Nhiều hộ gia đình có thu nhập hàng năm trên 100 triệu đồng.

Hai thôn Vân Giang và Văn Hà nằm ở ngoài đê có nghề mộc, chỉ có Bàn Mạch là nằm phía trong của đê nổi tiếng với nghề rèn. Nghề rèn ở đây đã tồn tại và phát triển rất lâu đời. Lúc đầu Bàn Mạch chỉ rèn các nông cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Khi những tinh hoa của làng rèn ra tới kinh thành thì các nghệ nhân của Bàn Mạch đã kiêm luôn cả việc rèn vũ khí. Từ đó, các sản phẩm rèn của Bàn Mạch được khắp nơi ưa thích bởi chất lượng của nó. Một con dao do chính người thôn Bàn Mạch làm ra có thể dùng mòn đến tận gáy mà vẫn còn sắc. Mỗi lò rèn lại có một bí quyết riêng của mình. Đó là những bí quyết gia truyền mà không loại sách vở nào có thể dạy được. Một thợ học nghề chỉ cần 2 năm là có thể làm ra được sản phẩm, nhưng để rèn được một sản phẩm tốt thì có thể mất cả đời mà vẫn không học được. Người dân Bàn Mạch đã mạnh dạn áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, từng bước cơ khí hóa nghề rèn truyền thống để tăng năng suất, giảm ngày công lao động. Nhiều hộ đã tự trang bị máy cán thép, búa máy, máy đột đập, máy mài… thay thế cho nhân lực, đưa nghề rèn truyền thống phát triển có quy mô lớn, tập trung, ổn định củng cố và phát huy thương hiệu nghề rèn đã có từ lâu ở Bàn Mạch. Năm 2007, có 394/680 hộ trong làng và 70% số người lao động trong độ tuổi của làng theo nghề rèn. Năm 2006, thu nhập từ nghề rèn đã chiếm 52,3% giá trị sản xuất của làng. So với nghề nông, nghề rèn tuy có vất vả nhưng lại cho thu nhập cao hơn nhiều lần. Với sự hỗ trợ của các công cụ hiện đại, thu nhập bình quân cho một lao động làm nghề là khoảng 1 triệu đồng/tháng. Hiện nay, làng nghề rèn Bàn Mạch đã xây dựng một khu sản xuất riêng, tách rời khỏi khu dân cư để tránh tiếng ồn và bảo vệ môi trường. Khu sản xuất này là nơi tập trung các loại máy móc cơ khí lớn với 7 máy cán, 33 máy búa, 10 máy đột dập các loại… của 28 hộ dân với hơn 100 lao động. Mỗi ngày nơi đây có thể làm ra hàng vạn sản phẩm có chất lượng tốt, đem lại nguồn thu nhập cao và giải quyết việc làm cho phần lớn lao động trong thôn. Các thành phẩm này không đơn thuần là sản phẩm của máy móc mà vẫn giữ được cốt lõi và tinh hoa của nghề rèn truyền thống, được người tiêu dùng tin tưởng và ngày càng tạo nên thương hiệu riêng của làng rèn Lý Nhân.

      II.2.6 Sản xuất gạch

Sản xuất vật liệu xây dựng là ngành đóng góp giá trị sản xuất công nghiệp đứng thứ hai sau ngành cơ khí chế tạo của Vĩnh Phúc. Các sản phẩm chủ yếu của ngành là gạch men ốp lát, gạch ngói xây dựng, cát sỏi, đá... Sản xuất gạch ngói xây dựng của Vĩnh Phúc đứng thứ 2 vùng Đồng bằng sông Hồng (sau Hà Tây cũ nay là Hà Nội).

Tỷ trọng sản xuất gạch xây của Vĩnh Phúc so với cả nước năm 2008




Sản phẩm

Đơn vị

Vĩnh Phúc

Cả nước

Tỷ lệ/cả nước

Gạch xây

1000 viên

739.552

18.190.000

4,07%

Nguồn tổng hợp : Niên giám thống kê 2008

Theo số liệu điều tra của Sở Xây dựng, trên địa bàn tỉnh có gần 1.000 cơ sở sản xuất gạch ngói, với 12.000 lao động, mỗi năm sản xuất trên 700 triệu viên gạch và gần 150 triệu viên ngói; Hơn 60% sản lượng gạch ngói được sản xuất từ các lò thủ công và có doanh thu lớn nhất trong các nghề TTCN. Không thể phủ nhận vai trò của các cơ sở sản xuất gạch ngói thủ công trong việc giải quyết việc làm và thu nhập cho hơn chục ngàn lao động địa phương, song các lò gạch ngói thủ công cũng đang là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Việc khai thác đất làm gạch, khói bụi trong quá trình vận chuyển, đốt và dỡ gạch lan toả trên phạm vi rộng ảnh hưởng đến sức khoẻ, mùa màng và đời sống sinh hoạt của cư dân quanh vùng.

Thực hiện chiến lược phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2010 theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, UBND tỉnh đã có nhiều cơ chế hỗ trợ, khuyến khích các cơ sở sản xuất hợp tác, đầu tư công nghệ, chuyển đổi sang phương thức lò đứng, lò nung tuy nel, khai thác hợp lý và có kế hoạch nguồn nguyên liệu, góp phần bảo vệ môi trường và sức khoẻ nhân dân cùng với việc kiên quyết giải toả, tháo dỡ và đình chỉ các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, song đến nay, nhiều địa phương vẫn thực hiện cầm chừng. Điển hình là xã Thanh Trù có gần 300 lò gạch ngói đều nằm trong khu dân cư với mật độ cao và đốt theo phương pháp thủ công, không có biện pháp xử lý đã gây ô nhiễm môi trường nặng nề cho cộng đồng dân cư nơi đây. Trong khi Hương Canh, Tam Canh hiện đã dẹp hết nghề gạch ngói thủ công thì Thanh Trù vẫn cho ra thị trường hơn 6 triệu viên gạch ngói các loại mỗi tháng. Các lò thủ công liên tục nhả khói phun bụi, hàng chục xe vận tải các loại liên tục qua lại chở đất, than, củi cho các lò và chở sản phẩm đi tiêu thụ; Hàm lượng CO2, bụi xỉ than của lò, bụi đất ở quanh các khu vực lò gạch đã vượt tiêu chuẩn cho phép tới 20 lần; Gần 200 ha đất canh tác đã bị đào phá, trong đó gần 100 ha bị đào sâu biến dạng thành thùng đào, thùng đấu, không có khả năng cải tạo lại thành ruộng. Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân đã ra Nghị quyết chuyên đề về chuyển đổi cơ cấu sản xuất, giảm dần nghề gạch ngói, cấm phá đất canh tác. UBND tỉnh cũng đã yêu cầu UBND thành phố Vĩnh Yên phối hợp với Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh xử lý các vi phạm trên nhưng chưa khắc phục được do thu nhập sản xuất gạch ngói khá cao so với nghề nông; Trung bình mỗi lò gạch công suất từ 40 đến 50 vạn viên nung từ 6 đến 8 đợt/năm, sau khi trừ các chi phí cũng lãi 70 đến 80 triệu đồng/năm. Các chủ lò có đóng góp một phần vào ngân sách địa phương đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động trên địa bàn nên chính quyền có phần lúng túng trước những bức xúc về đời sống sinh hoạt của người dân, việc làm, thu nhập, bảo vệ môi trường dẫn đến thiếu kiên quyết khi xử lý.

Ô nhiễm môi trường do sản xuất gạch, ngói thủ công vẫn đang là sự nhức nhối đối với nhân dân nhiều địa phương như Thanh Trù (Vĩnh Yên), Tân Phong (Bình Xuyên), Đồng Cương, Bình Định (Yên Lạc), Đồng Tĩnh (Tam Dương), Cao Đại (Vĩnh Tường) và một số địa phương khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc... Cử tri các địa phương này đã nhiều lần kiến nghị các cấp chính quyền giải quyết dứt điểm, nhất là đối với các lò gạch xen lẫn trong khu dân cư gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân trong vùng. Để khắc phục, các chủ lò gạch đối phó bằng cách hùn vốn cải tiến lò, xây bầu đốt và ống khói cao, tạo cửa hút gió hợp lý để đẩy khói bụi lên cao làm loãng mật độ ô nhiễm tại chỗ; Tuy nhiên, số lượng còn chưa nhiều, một số làm còn mang tính đối phó với cơ quan có thẩm quyền. Mong muốn của đông đảo nhân dân đang sống tại các vùng này là tỉnh cần có biện pháp mạnh, đủ sức răn đe, xử lý tiến tới xoá bỏ các lò thủ công; định hướng và hỗ trợ sản xuất các vật liệu thay thế gạch nung thân thiện với với môi trường giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm diễn ra nhiều năm qua tại địa bàn.



II.2.7. Chế biến nông sản thực phẩm

Mặc dù có tốc độ phát triển công nghiệp thuộc nhóm nhanh nhất miền Bắc nhưng Vĩnh Phúc vẫn còn gần 60% dân số sống bằng nghề nông lâm thuỷ sản với giá trị thu nhập chưa cao. Bình quân mỗi lao động khu vực này chỉ tạo ra 5,2 triệu đồng GTSX hàng năm; trong khi đó, sản xuất công nghiệp cao gấp 8,45 lần, làm dịch vụ gấp 3,7 lần. Do đất Vĩnh Phúc đa số bạc màu, nghèo dinh dưỡng; tuy hệ số sử dụng đất cao, bà con đã biết ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhưng giá trị thu nhập vẫn thấp, năm 2006, bình quân mỗi hecta chỉ đạt 31 triệu đồng, thấp hơn bình quân cả nước và khu vực Đồng bằng sông Hồng.

Qua thực tế đánh giá trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và một số tỉnh lân cận, nhu cầu sản xuất và chế biến nông sản xuất khẩu là rất lớn, nhưng các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực này còn ít, quy mô nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Hiện Vĩnh Phúc đã kiện toàn và mở rộng nhà máy chế biến hoa quả Tam Dương gắn với việc quy hoạch các xã lân cận thành vùng nguyên liệu cho nhà máy; xây dựng 11 lò giết mổ gia súc, gia cầm tập trung phân bố tương đối đều trong toàn tỉnh. Công ty cổ phần Japfacomfeed 100% vốn đầu tư nước ngoài đã đầu tư trên 10 tỷ đồng xây dựng nhà máy giết mổ gia cầm hiện đại với diện tích 10 ha tại xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Đây là nhà máy giết mổ gia cầm đầu tiên của Vĩnh Phúc, có công suất thiết kế 1.500 con/giờ với sản phẩm nguyên con và cắt mảnh, đảm bảo tuyệt đối an toàn vệ sinh thực phẩm nhờ hệ thống làm lạnh hiện đại và bảo đảm vệ sinh môi trường; tuy nhiện, công suất khai thác còn thấp, chưa phát huy được hiệu quả. Một số mô hình chế biến nông sản tiểu thủ công nghiệp đang được Trung tâm Khuyến công của tỉnh phối hợp trình diễn để phổ biến và nhân rộng trên địa bàn góp phần tạo thêm việc làm, thu nhập và cải thiện điều kiện sống cho người dân khu vực nông thôn được giới thiệu dưới đây:

Tại Tân An xã Ngũ Kiên huyện Vĩnh Tường, nghề chế biến thực phẩm có thời gian hình thành và phát triển trên 50 năm với những sản phẩm như bánh, bún, đậu… phục vụ cho thị trường tiêu dùng trong và ngoài xã; Số hộ tham gia làm nghề là 123/165 hộ trong thôn, giải quyết việc làm cho 146 lao động với mức thu nhập bình quân trên 1 triệu đồng/người/tháng. Doanh thu của thôn năm 2007 trên 1,2 tỷ đồng; Một số cơ sở sản xuất trong thôn đã trang bị máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất mới góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Đây có thể xem là thôn có nghề chế biến thực phẩm tiêu biểu. Trung tâm Khuyến công đã hỗ trợ mua thiết bị, máy móc sản xuất bún bánh cho 11 hộ gia đình tại thôn Hòa Loan xã Lũng Hòa huyện Vĩnh Tường thu hút 60 lao động trực tiếp và khoảng 150 lao động gián tiếp, với mức thu nhập bình quân 850 nghìn đồng/người/tháng. Năm 2007, doanh thu trung bình mỗi hộ khoảng 68 triệu đồng/hộ/năm. Đã có nhiều hộ gia đình tìm hiểu, học hỏi và đầu tư theo mô hình trên.

Chợ đầu mối Thổ Tang Vĩnh Tường có hàng trăm hộ tham gia sơ chế, bảo quản, xuất khẩu nông sản, thực phẩm. Mỗi năm các hộ này tham gia trung chuyển tiêu thụ từ 5.000 đến 7.000 tấn chè; 4000 đến 5000 tấn lạc nhân, hàng chục ngàn tấn nông sản thực phẩm khác ra thị trường nước ngoài, nhiều nhất là sang Trung Quốc, Lào. Vĩnh Phúc hiện có 12 doanh nghiệp chế biến tham gia xuất khẩu các sản phẩm chè. Các doanh nghiệp thu mua chè từ các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Phú Thọ... đem về sơ chế, phân loại, bao gói chuyển cho các đầu mối tiêu thụ. Tuy nhiên, việc xuất khẩu chè ở Vĩnh Phúc vẫn còn hạn chế do lượng xuất uỷ thác còn nhiều, chất lượng chè chưa cao, vùng nguyên liêu chưa ổn định. Để giúp các doanh nghiệp xuất khẩu chè mở rộng thị trường tiêu thụ, Vĩnh Phúc đã có cuộc tọa đàm hợp tác và phát triển giữa ngành chè Vĩnh Phúc với Hiệp hội chè-cà phê Liên bang Nga để tìm hiểu sở thích người dân Nga về các loại chè và các tiêu chuẩn nhằm tái thiết lập xuất khẩu chè sang thị trường Nga và các nước Đông Âu. Tỉnh thành lập Chi hội chè Vĩnh Phúc và trở thành Chi hội chè thứ 10 của cả nước được đăng ký hợp đồng xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm chè ra thị trường nước ngoài. Tỉnh cũng đưa ra nhiều chính sách ưu đãi thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, chế biến và kinh doanh chè, xây dựng vùng chế xuất hàng hoá có chất lượng chinh phục thị trường thế giới.

Tháng 7/2009, Trung tâm Khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp Vĩnh Phúc phối hợp với doanh nghiệp Hòa Thủy tổ chức trình diễn kỹ thuật chế biến nông sản xuất khẩu. Doanh nghiệp Hòa Thủy tại Hợp Thịnh, huyện Tam Dương đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền phân loại nguyên liệu - sấy - loại bỏ tạp chất - xử lý nấm mốc - đóng bao nông sản xuất khẩu với tổng vốn đầu tư trên 17 tỷ đồng. Nguyên liệu để sản xuất là các loại sản phẩm nông nghiệp như: ngô, lạc, sắn, chuối xanh được thu mua tại các địa phương trong tỉnh và các vùng lân cận; Công suất trung bình đạt 10.300 tấn/năm. Đây là một trong những mô hình cung cấp nguồn nguyên liệu đảm bảo các yêu cầu về bảo quản, sơ chế để tạo ra những sản phẩm có giá trị, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông sản. Dự án đi vào hoạt động ổn định giải quyết việc làm thường xuyên cho 120 lao động, với mức lương trung bình trên 1 triệu đồng/người/tháng, đồng thời, mở ra một hướng phát triển mới cho ngành chế biến nông sản cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước. 

 Nhà máy chế biến chè xuất khẩu Phương Nam được xây dựng tại khu Đồi Me, xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã thu hút tạo việc làm ổn định cho 50 lao động tại địa phương với mức lương bình quân 1,5 triệu đồng/tháng và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đơn vị sản xuất. Chè thu mua từ các  nông trường được sơ chế và tiến hành sàng phân số, phân loại và xử lý đạt tiêu chuẩn xuất khẩu để đưa đi tiêu thụ. Mô hình tiên tiến của Phương Nam hiện đang được phổ biến và nhân rộng góp phần phát triển ngành chế biến chè của tỉnh.

Công ty TNHH Hải Hoà ở xã Thanh Trù, Vĩnh Yên đã mạnh dạn vay vốn ngân hàng, tận dụng diện tích đất sẵn có xây nhà xưởng, mua thiết bị dây chuyền sản xuất tương ớt, tương bần, dấm nếp và hàng chục sản phẩm khác; Thu hút 8-10 lao động có việc làm ổn định với mức thu nhập từ 1-1,2 triệu đồng/người/tháng, không kể 20 lao động thời vụ. Ngoài các khoản thuế nghĩa vụ, Công ty còn tham gia đóng BHXH, BHYT cho công nhân lao động. Sản phẩm do công ty làm ra đã nhanh chóng tìm được thị trường, mỗi năm cơ sở chế biến Hải Hoà tiêu thụ hơn 10 tấn đậu tương, 10-15 tấn ớt, cà pháo, cà bát, măng tươi và hàng chục tấn nông sản khác từ các địa phương trong và ngoài tỉnh. Năm 2009, Công ty đã đạt doanh thu trên 1 tỷ và thu lãi hơn 80 triệu đồng. Mong muốn của Công ty là được vay thêm vốn ưu đãi để mở rộng mặt bằng sản xuất, thu mua nông sản, thu hút thêm lao động tạo điều kiện cho bà con nông dân nâng cao mức sống và thu nhập.



II.3. Đánh giá chung

Vĩnh Phúc là một địa phương nằm trong châu thổ sông Hồng có nghề thủ công tương đối sớm, nhưng không nhiều nghề, quy mô sản xuất nhỏ, tổ chức phân tán, chủ yếu dưới hình thức nghề phụ của các hộ gia đình. Trong lịch sử phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Vĩnh Phúc, giai đoạn chuyển từ sản xuất thủ công sang thủ công chuyên nghiệp chậm hơn rất nhiều so với tỉnh khác ở đồng bằng sông Hồng.

Theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn chủ yếu là hình thức hộ gia đình, mặc dù chiếm hơn 98% số cơ sở công nghiệp -TTCN trên địa bàn nhưng chỉ sử dụng gần 40% lực lượng lao động công nghiệp -TTCN và chiếm khoảng 4% GTSXCN toàn tỉnh.

Tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2010



Danh mục

2005

2006

2007

2008

2009

2010

Số cơ sở TTCN (Cơ sở)

12.316

12.814

14.273

14.497

14.402

15.339

Số Lao động TTCN (Người)

27.790

24.689

28.928

27.790

27.754

32.673

GTSXTTCN (Tỷ Đ –Gía thực tế)

566,5

671,4

843,3

1.489,8

1.763,7

3.311,6

Số cơ sở CN-TTCN (Cơ sở)

12.477

12.993

14.489

14.741

14.670

15.629

Số Lao động CN-TTCN (Người)

53.751

55.110

64.162

68.395

71.884

81.914

GTSXCN-TTCN (Tỷ Đ-giá thực tế)

21.319,1

28.093,2

39.825,2

52.900,7

58.680,1

81.281,2

So sánh số cơ sở TTCN/CN-TTCN

98,71%

98,62%

98,51%

98,34%

98,17%

98,14%

So sánh số L.động TTCN/CN-TTCN

51,70%

44,80%

45,09%

40,63%

38,61%

39,89%

GTSXTTCN/ GTSXCN-TTCN

2,66%

2,39%

2,12%

2,82%

3,01%

4,07%

Nguồn xử lý số liệu: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2009- 2011

Lãnh đạo tỉnh luôn coi việc khôi phục phát triển làng nghề là nhiệm vụ quan trọng trong kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh. Điều tra về Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) trên hàng ngàn doanh nghiệp của cả nước giai đoạn 2005-2010, Vĩnh Phúc luôn đứng trong tốp đầu về chỉ số tính năng động, tiên phong của lãnh đạo tỉnh và cơ sở hạ tầng so với các tỉnh khác trong vùng. Đó là một trong những lợi thế để khôi phục và phát triển làng nghề, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc về chương trình khuyến công giai đoạn 2006 – 2010, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp Vĩnh Phúc tăng trưởng nhanh, bình quân 28,37%/năm. Tỷ trọng giá trị SXTTCN trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc cũng tăng từ 2,66% lên 4,07%. Số cơ sở sản xuất TTCN tăng từ 12.316 cơ sở (năm 2005) lên 15.339 cơ sở (năm 2010). Một số làng nghề truyền thống đã và đang được khôi phục, phát triển như: đá Hải Lựu, rèn Lý Nhân, mộc Bích Chu, Thanh Lãng, đan lát Triệu Đề, gốm Hương Canh; nhiều làng nghề mới đang dần hình thành như: Yên Thạch, Vân Trục, Văn Quán, Đồng Thịnh, Cao Phong (huyện Lập Thạch); Yên Phương (Yên Lạc), Lý Nhân (Vĩnh Tường); Hợp Hoà, Duy Phiên (Tam Dương); Đạo Đức, Phú Xuân, Tân Phong, Thanh Lãng (Bình Xuyên)... đã giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Tỉnh đã cấp Giấy chứng nhận cho 19 làng nghề, 4 nghệ nhân và 55 thợ giỏi. Tính đến cuối năm 2009, Vĩnh Phúc đã :


  • Đào tạo nghề được 3.397 người (bình quân mỗi năm đào tạo 1.200 – 1.400 lao động); hầu hết là những nghề phù hợp với trình độ người lao động các địa phương, thời gian học nghề ngắn, có thị trường tiêu thụ sản phẩm nên số lao động đào tạo nghề đều có việc làm ngay tại địa phương.

  • Thực hiện hỗ trợ chuyển giao công nghệ thiết bị cho 28 doanh nghiệp với tổng kinh phí hỗ trợ là 1.776 triệu đồng, trong đó nguồn khuyến công quốc gia hỗ trợ 11 mô hình (tổng kinh phí 1.220 triệu đồng), nguồn kinh phí khuyến công địa phương hỗ trợ 17 mô hình (tổng kinh phí 580 triệu đồng).

  • Mở 20 lớp tập huấn cho 808 học viên là các chủ doanh nghiệp, kế toán doanh nghiệp, cá nhân, chủ hộ sản xuất được tập huấn khởi sự doanh nghiệp và nâng cao năng lực quản lý...

  • Tổ chức được 2 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ khuyến công cho 148 lượt cán bộ khuyến công và lãnh đạo UBND cấp xã.

  • Hỗ trợ đăng ký xây dựng thương hiệu cho 16 doanh nghiệp và 3 làng nghề truyền thống.

  • Hướng dẫn thành lập và được kết nạp vào Hiệp hội làng nghề Việt Nam 5 Hội làng nghề .

  • Đã đầu tư hơn 219 tỷ đồng quy hoạch 8 cụm làng nghề với 81,5 ha, trong đó có 5 cụm Thanh Lãng, TT Yên Lạc, Tề Lỗ, Vĩnh Sơn và TT Lập Thạch đã được đầu tư hạ tầng.

Sở Công Thương đã phối hợp với các cấp, các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp quy hoạch các cụm công nghiệp -TTCN, tạo điều kiện thuận lợi về hạ tầng, thu hút các cơ sở về nơi sản xuất tập trung để phát triển bền vững, hạn chế ô nhiễm môi trường; thực hiện các đề án hỗ trợ, nhân cấy, phát triển nghề, hình thành các làng nghề mới, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động địa phương.

Hằng năm, Trung tâm khuyến công Vĩnh Phúc đã tổ chức hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, thiết bị nhằm khuyến khích, giúp đỡ các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mới. Các mô hình sau khi đầu tư đã hoạt động hiệu quả, nâng cao năng suất, giảm giá thành sản phẩm, hạn chế ô nhiễm môi trường. Một số mô hình đạt kết quả tốt được tiếp tục hỗ trợ để nhân rộng như: mô hình chuyển giao công nghệ phun phủ sơn bóng công nghiệp trong sản xuất đồ gỗ tại làng nghề mộc Thanh Lãng; Mô hình sản xuất chiếu tre, trúc của Công ty TNHH Sông Hồng; Mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất dụng cụ cơ khí cầm tay của Công ty TNHH Tiến Thịnh; Mô hình trình diễn kỹ thuật sấy nguyên liệu sản phẩm mây tre đan của doanh nghiệp mây tre đan Tiến Đa...



Tuy nhiên, cũng còn một số tồn tại cần xem xét đó là :

  • Hầu hết các cơ sở tiểu thủ công nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ lẻ dưới dạng hộ gia đình, thiếu vốn, mặt bằng, phát triển theo hướng tự phát, chưa mạnh dạn đầu tư chiều sâu nên chưa có điều kiện tự tổ chức sản xuất trực tiếp và bao tiêu sản phẩm, sức cạnh tranh chưa cao.

  • Do phát triển theo kiểu phân tán, chưa được đầu tư cơ sở hạ tầng, mặt bằng chật hẹp, xen lẫn với khu dân cư, chưa có các biện pháp giảm thiểu phát thải tại nguồn, khó xử lý chất thải dẫn đến môi trường làng nghề có nguy cơ ô nhiễm cao;

  • Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp thường gặp khó khăn khi tiếp cận các nguồn vốn đầu tư đổi mới công nghệ, kỹ thuật, thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm... Năm 2009, khi có nhu cầu về tái cơ cấu do tác động của suy thoái kinh tế, các hạn chế này càng bộc lộ rõ: do quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, giá trị tài sản thế chấp chưa đảm bảo nên vốn vay không thể đáp ứng được nhu cầu thực tế.

  • Các doanh nghiệp hạt nhân ở các làng nghề có thể tạo động lực phát triển và khai thác các nguồn lực địa phương chưa hình thành, do đó công tác xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ đổi mới cho các cơ sở sản xuất tại các làng nghề còn hạn chế;

  • Chi phí đầu tư di dời các cơ sở ra khu sản xuất tập chung còn bất cập so với thu nhập của các hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp;

  • Một số nghề TTCN du nhập từ các tỉnh khác nên thường bị động trong nguồn cung nguyên liệu và thị trường tiêu thụ; thiếu các trung tâm trưng bày và giới thiệu sản phẩm để xây dựng thương hiệu của mình;

  • Các chính sách tạo điều kiện cho quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp làng nghề như đất đai, ưu đãi đầu tư, tín dụng, thông tin thị trường, khoa học công nghệ... còn đang xây dựng và chưa hoàn thiện.

  • Việc tìm đầu ra ổn định cho các sản phẩm đem lại sự phát triển lâu dài cho các làng nghề TTCN của cả nước nói chung và các làng nghề thủ công của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng đang là vấn đề được các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất đặt lên hàng đầu. Các cơ sở TTCN chưa đủ tiềm lực đầu tư nghiên cứu thị trường, nhiều cơ sở làm hàng không có định hướng phát triển rõ rệt và chưa hướng vào một thị trường cụ thể; Chưa nắm bắt được nhu cầu thị trường, để tạo ra sản phẩm vừa mang bản sắc văn hóa dân tộc, vừa đạt yêu cầu chất lượng và phù hợp với thị hiếu, văn hóa của khách hàng.

  • Đội ngũ cán bộ khuyến công cơ sở còn thiếu và yếu, công tác hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn, đổi mới công nghệ cho các cơ sở sản xuất làng nghề còn ít...

Thời gian tới, Vĩnh Phúc sẽ xác định các nhiệm vụ ưu tiên cho từng năm, nâng cao nhận thức tự chuyển đổi nghề cũng như khắc phục ô nhiễm môi trường các làng nghề; tiếp tục hỗ trợ các địa phương xây dựng vùng nguyên liệu, tổ chức đào tạo nhân rộng nghề mới, gắn với giải quyết việc làm cho nhân dân các địa phương dành đất phát triển công nghiệp, đô thị; hỗ trợ thiết thực cho các cơ sở công nghiệp nông thôn xúc tiến thương mại, tìm thị trường; đào tạo nâng cao tay nghề cho lao động.

Các cơ sở TTCN cần chủ động liên kết lại, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng làng nghề hoặc cụm sản xuất tập trung; tận dụng và phát huy tối đa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng suất máy móc thiết bị tại các đơn vị; cộng tác, chia sẻ phân công các hợp đồng lớn theo chuyên môn hoá hoặc phân khúc thị trường, ổn định việc làm cho lực lượng lao động. Thông qua cụm sản xuất hoặc làng nghề các cơ sở mới quảng bá được nghề, đa dạng hóa sản phẩm, thu hút sự quan tâm và lòng tin của khách hàng xây dựng thương hiệu để phát triển bền vững, .



PHẦN II

QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP CỦA VĨNH PHÚC

ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2030

  1. VAI TRÒ CỦA TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

    • TTCN là một bộ phận hợp thành của công nghiệp nông thôn, được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho khu vực này;

    • Các làng nghề TTCN truyền thống là một bộ phận của di sản văn hoá của Việt Nam;

    • Phát triển TTCN là góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế từ khu vực có năng suất lao động thấp sang khu vực có năng suất lao động cao hơn, cho phép khai thác tốt hơn các nguồn lực ở địa phương như nguồn lao động, vốn, tay nghề, sự liên kết truyền thống....góp phần phát triển nông thôn và kinh tế địa phương;

    • Phát triển TTCN là góp phần xoá bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, hạn chế di dân tự do làm nảy sinh các vấn đề xã hội phức tạp tại các đô thị.

Theo Cục Công nghiệp địa phương - Bộ Công Thương, hiện cả nước có khoảng 100 nghề thủ công với hơn 2.000 làng nghề, tạo việc làm cho 30% lao động công nghiệp tại nông thôn với thu nhập bình quân cao gấp 2-4 lần so với làm nông nghiệp. Để phát triển các ngành nghề của địa phương, tận dụng, khai thác hiệu quả nguồn nhân lực, nguyên liệu sẵn có trong thiên nhiên sản xuất các sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế, thì không thể thiếu vai trò của TTCN. Vĩnh Phúc là vùng đất đa dạng về địa hình, hơn 77% dân số sống ở nông thôn, có nhiều lợi thế để xây dựng vùng nguyên liệu, phát triển các ngành nghề TTCN trên địa bàn.

TTCN với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN) có giá trị ngoại tệ thực thu cao nhất. TCMN là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt Nam, được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác và đã đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đồng thời có vai trò quan trọng trong giải quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội tại nông thôn. Trong những năm qua, các mặt hàng TCMN có mức độ tăng trưởng khá cao bình quân khoảng 20%/năm với kim ngạch xuất khẩu tăng từ 300 triệu USD trong năm 2004 lên hơn 750 triệu USD vào năm 2007. Năm 2008, 2009 mặc dù bị tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng kim ngạch xuất khẩu cũng đạt gần 1 tỉ USD. Thị trường xuất khẩu hàng TCMN Việt Nam ngày càng được mở rộng, ngoài các nước như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan... hiện hàng TCMN Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đây cũng là mặt hàng có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu rất lớn. Kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN trong những năm qua tuy không lớn nhưng có vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, thu hút nhiều lao động tham gia làm hàng xuất khẩu, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn. Ngoài ra, mặt hàng này còn mang lại giá trị gia tăng lớn, có thể coi là ngành hàng mũi nhọn để tập trung phát triển xuất khẩu trong các năm tới. Một số mặt hàng khác như may mặc, gỗ và da giày phần lớn nguyên liệu đều phải nhập khẩu từ nước ngoài, giá trị gia tăng của các ngành này chủ yếu là chi phí nhân công nên giá trị thực thu ngoại tệ mang về cho đất nước chỉ chiếm tỷ trọng từ 5-20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đối với hàng TCMN, do sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước, đặc biệt là các nguồn nguyên vật liệu được thu lượm từ nông lâm sản mang lại hiệu quả thực thu giá trị ngoại tệ rất cao có thể đạt 80%-90% giá trị xuất khẩu. Hàng TCMN xuất khẩu sử dụng nguyên liệu từ phế thải của quá trình chế biến và thu hoạch nông nghiệp, không chỉ góp phần tích cực bảo vệ môi trường mà còn mang lại nguồn thu ngoại tệ. Theo các nhà nghiên cứu, cứ 1 triệu USD xuất khẩu của ngành TCMN thì lãi gấp 5 – 10 lần so với ngành khai thác; giải quyết việc làm cho 3,5 ngàn đến 4 ngàn lao động, do đó nhóm hàng TCMN được xếp vào nhóm sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn và có tỉ suất lợi nhuận cao.

Số liệu thống kê cho thấy, nhiều năm trở lại đây, hàng TCMN được xếp vào danh sách 10 mặt hàng có mức tăng trưởng cao nhất. Hàng TCMN sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, nguyên phụ liệu nhập khẩu ước tính chỉ chiếm từ 3 - 3,5% giá trị xuất khẩu. Bên cạnh đó, lực lượng lao động có kỹ năng và khả năng tiếp thu công nghệ mới khá nhanh chóng, mức lương của lao động Việt Nam thấp so với các nước trong khu vực cũng là một ưu thế cho phát triển sản xuất hàng TCMN theo hướng đa dạng và nâng cao sức cạnh tranh.

Sự phát triển TTCN đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm cho nhiều lao động. Các làng nghề đã tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị kinh tế cao, tăng kim ngạch xuất khẩu; nhiều cơ sở đã bước đầu khẳng định được uy tín chất lượng và thương hiệu hàng hoá của mình đối với khách hàng trong nước và quốc tế...

Về thị trường xuất khẩu cũng rất nhiều tiềm năng cho phát triển hàng thủ công mỹ nghệ. Những năm gần đây, Hoa Kỳ mỗi năm nhập khẩu tới 13 tỷ USD hàng TCMN, tuy nhiên hàng TCMN của Việt Nam mới chỉ chiếm 1,5% kim ngạch nhập khẩu của nước này; Tương tự, EU nhập khẩu khoảng 7 tỷ USD trong đó Việt Nam chiếm 5,4%; Nhật Bản mỗi năm nhập khẩu khoảng 2,9 tỷ USD, nhưng Việt Nam chỉ chiếm 1,7% kim ngạch; Mấy năm gần đây các doanh nghiệp cũng đã thực hiện nhiều hoạt động xúc tiến thương mại tại thị trường Trung Đông, nhưng chưa đẩy mạnh xuất khẩu được. Trong tương lai, đây sẽ là các thị trường hứa hẹn của hàng TCMN Việt Nam.

Theo Bộ Công Thương, ngoài việc phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính và các địa phương để giải quyết vấn đề nguyên liệu, tài chính, mặt bằng sản xuất kinh doanh, vấn đề đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu vào một số thị trường trọng điểm sẽ là khâu đột phá để tăng kim ngạch xuất khẩu trong thời gian tới.


  1. QUAN ĐIỂM

1. Quan điểm.

Nông thôn là khu vực tập trung hơn 77% dân số của tỉnh, mức thu nhập thấp; dân số vẫn tiếp tục tăng, đất đai lại thu hẹp do đô thị hoá và phát triển công nghiệp... khả năng áp dụng sản xuất với quy mô tập trung khó cùng với đất đai bạc màu sẽ làm suy giảm năng suất nông nghiệp...vì vậy phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tạo thêm việc làm và thu nhập, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn. Việc phát triển các khu, cụm công nghiệp, các khu kinh tế xã hội tập trung, các đô thị, hệ thống giao thông và các công trình cơ sở hạ tầng khác thường gắn liền với công tác đền bù giải toả, thu hồi đất, đào tạo và sắp xếp việc làm cho những người bị thu hồi đất, do đó phát triển TTCN góp phần giải quyết việc làm cho người dân, chuyển dịch lực lượng lao động sang các khu vực có năng suất và thu nhập cao hơn. Việc quy hoạch các cụm công nghiệp đưa sản xuất về nơi tập trung, tách khỏi khu dân cư, nhằm tăng cường quản lý và triển khai các biện pháp hỗ trợ phát triển, đồng thời áp dụng các biện pháp xử lý chất thải bảo vệ môi trường, từng bước cải thiện và nâng cao điều kiện sống của người dân tại các làng nghề TTCN. Đặc điểm chung của các làng nghề Việt Nam là thường nằm gần các khu dân cư tập trung, có mạng lưới giao thông đường bộ và đường thủy, thuận lợi cho giao lưu, trao đổi hàng hoá. Đây chính là điều kiện thuận lợi để kết nối các ngành nghề, kết nối với các hoạt động du lịch, phát triển du lịch làng nghề như một số nơi đã làm....

Quan điểm phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là:


    • Phát triển TTCN phải là sự nghiệp của quần chúng dưới sự hỗ trợ và quản lý của nhà nước; phải huy động mọi nguồn lực để đảm bảo phát triển bền vững và ổn định;

    • Phát triển TTCN phải gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, phải đặt trong mối quan hệ tương hỗ với quy hoạch phát triển các ngành, quy hoạch đô thị, kết hợp hài hoà nhiều loại hình kinh tế với công nghệ, thiết bị thích hợp, kết hợp hiện đại với truyền thống, thiết bị tiên tiến với tay nghề thủ công, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm;

    • Phát triển TTCN phải đi đôi với phát triển sản xuất nông nghiệp trên cơ sở khai thác hiệu quả nguồn lao động, tài nguyên đất, nguyên liệu sẵn có tại địa phương, gắn liền với du lịch làng nghề… nhằm không ngừng nâng cao mức sống của cư dân nông thôn, xoá bỏ cách biệt giữa nông thôn và thành thị;

    • Phát triển TTCN ở Vĩnh Phúc theo hướng sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có lợi thế cạnh tranh, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, giúp khu vực nông thôn phá được thế thuần nông, hướng tới các ngành có năng suất và thu nhập cao hơn;

    • Phát triển TTCN phải bảo tồn, phát huy được những nét văn hoá truyền thống của địa phương, của dân tộc và bảo vệ môi trường;

  1. MỤC TIÊU

III.1. Mục tiêu tổng thể

Mục tiêu phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhằm tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân nông thôn; tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn; hướng tới phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội; xoá bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, góp phần thực hiện mục tiêu được xác định tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XV: Phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp; trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI.



III.2. Mục tiêu cụ thể

Theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến 2020, định hướng đến 2030 đã được phê duyệt:



Giai đoạn 2011- 2015 .

  • Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh giai đoạn 2011-2015 đạt bình quân 14,0-15,0%/năm, trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 16-16,5%/năm. Phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp.

  • Đến năm 2015, cơ cấu kinh tế: công nghiệp xây dựng chiếm 61-62%; dịch vụ thương mại chiếm 31-32 % và nông lâm ngư nghiệp chiếm 6,5-7%. Bình quân GDP đầu người đạt 75 triệu đồng, tương đương khoảng 3.500-4.000 USD; Tỷ lệ dân số đô thị hóa chiếm 35-40%; 90% chất thải rắn được thu gom, xử lý. 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý triệt để

  • Mỗi năm giải quyết việc làm cho 20-21 nghìn lao động;

Giai đoạn 2016 - 2020

  • Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn này đạt 14,0-14,5%/năm, trong đó tăng trưởng công nghiệp đạt bình quân 13-14%/năm.

  • Đến năm 2020, kinh tế tỉnh sẽ có cơ cấu: công nghiệp xây dựng chiếm 58-60%; dịch vụ thương mại chiếm 38-38,5% và nông lâm ngư nghiệp chiếm 3-3,5%.

Định hướng đến 2030

  • Phát triển công nghiệp bền vững làm động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân .

  • Phấn đấu trong nền kinh tế của tỉnh, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ chiếm 96,5% trở lên; trong đó, dịch vụ - thương mại chiếm tỷ lệ ngày càng cao.

Để góp phần thực hiện các mục tiêu trên, mục tiêu phấn đấu phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh như sau:

Giai đoạn 2011- 2015

  • Khôi phục và phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp có sức cạnh tranh, bền vững trên thị trường trong và ngoài nước, hướng tới xuất khẩu;

  • Tốc độ tăng GTSX của tiểu thủ công nghiệp từ 17-18,5%/năm; phấn đấu đến năm 2015, GTSX TTCN (theo giá cố định 1994) tăng từ 2,2 -2,3 lần so với hiện nay;

  • Thu hút thêm từ 1.200-1.500 lao động hàng năm cho tiểu thủ công nghiệp;

  • Đến năm 2015 sẽ hình thành 20 cụm công nghiệp trên địa bàn với diện tích 367,6 ha nhằm tách sản xuất ra khỏi khu dân cư, tạo điều kiện phát triển các nghề TTCN, bảo vệ môi trường;

  • Phấn đấu đến năm 2015 có 30-35 làng nghề đạt tiêu chuẩn của tỉnh; 40- 50% số xã có khu sản xuất tập trung theo quy hoạch nông thôn mới.

Giai đoạn 2016 - 2020

  • Phát triển và nhân rộng các nghề TTCN trên địa bàn theo hướng phát triển bền vững.

  • Tốc độ tăng GTSX của tiểu thủ công nghiệp từ 7,5-8,5%/năm; phấn đấu đến 2020, GTSXTTCN (theo giá cố định 1994) tăng từ 1,4 -1,5 lần so với năm 2015;

  • Thu hút thêm từ 800-1.000 lao động hàng năm cho tiểu thủ công nghiệp;

  • Phấn đấu đến năm 2020 sẽ hình thành 31 cụm công nghiệp trên địa bàn với diện tích 547,16 ha; có 40-45 làng nghề đạt tiêu chuẩn của tỉnh; 75-80% số xã có khu sản xuất tập trung theo quy hoạch nông thôn mới.

Định hướng đến 2030

  • Duy trì các nghề thủ công truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá, dân tộc;

  • Phát triển tiểu thủ công nghiệp gắn liền với du lịch, dịch vụ, không ngừng nâng cao điều kiện sống của nhân dân, góp phần nâng cao tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ chiếm 96,5% trở lên; trong đó, dịch vụ - thương mại chiếm tỷ lệ ngày càng cao...

  1. PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN

TTCN là một bộ phận của công nghiệp với đặc thù chung là quy mô sản xuất nhỏ, tổ chức phân tán, chủ yếu dưới hình thức nghề phụ của các hộ gia đình. Tỷ trọng TTCN trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh không lớn nhưng sử dụng nhiều lao động, trong đó phần lớn là lao động phổ thông, do đó vai trò giải quyết việc làm và thu nhập cho lao động khu vực nông thôn là chủ yếu. Việc xem xét các kịch bản phát triển là cần thiết để ứng phó với các diễn biến khác nhau của cơ chế thị trường.


tải về 1.3 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương