Ủy ban nhân dân tỉnh vĩnh phúC



tải về 1.3 Mb.
trang1/10
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích1.3 Mb.
#2063
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC











QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN

CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020

VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

- 2012 -

MỤC LỤC QUY HOẠCH

PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020

VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030


T.T

NỘI DUNG

Trang




Đặt vấn đề

5

Phần I

Hiện trạng phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

10

I

Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

10

1

Đặc điểm tự nhiên

10

2

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh phúc

12

3

Đánh giá chung

14

II

Tình hình phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000-2010

16

1

Tình hình chung

16

2

Tình hình phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000-2010

24




2.1. Gốm mỹ nghệ

24




2.2. Mây tre đan lát

26




2.3. Chế biến gỗ gia dụng, đồ mỹ nghệ

27




2.4. Chế tác đá

30




2.5. Công cụ cầm tay, (rèn)

31




2.6. Sản xuất gạch

33




2.7. Chế biến nông sản thực phẩm

35

3

Đánh giá chung

37

Phần II

Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, định hướng đến 2030

42

I

Vai trò của tiểu thủ công nghiệp

42

II

Quan điểm

44

III

Mục tiêu

45

IV

Phương án phát triển tiểu thủ công nghiệp

47

V

Định hướng phát triển

51

1

Những ngành nghề truyền thống cần khôi phục và phát triển

51

2

Những ngành nghề mới cần hình thành

61

3

Một số định hướng cụ thể

68

Phần III

Giải pháp thực hiện quy hoạch

83

I

Phát triển kết cấu hạ tầng

83

II

Giải pháp về đầu tư

86

1

Về hỗ trợ đầu tư

87

2

Về mặt bằng sản xuất và đầu tư kết cấu hạ tầng các cụm tiểu thủ công nghiệp làng nghề

88

3

Về thành lập doanh nghiệp

90

4

Về chính sách thuế, tài chính

91

5

Giải pháp về thị trường, xúc tiến thương mại

92

III

Giải pháp về nguồn nhân lực

95

IV

Giải pháp về khoa học, công nghệ, môi trường

98

V

Giải pháp về tổ chức điều hành quy hoạch

100

Phần IV

Phụ lục




1

Danh sách các làng nghề được công nhận theo quyết định của UBND tỉnh Vĩnh Phúc tính đến năm 2010

102

2

Các cụm công nghiệp hiện có trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

103

3

Các cụm công nghiệp dự kiến quy hoạch trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020

104

3

Một số dự án kêu gọi đầu tư giai đoạn 2011-2020

105

4

Bản đồ hiện trạng phân bố các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

106

5

Bản đồ quy hoạch các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

107

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN

CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020

VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong lịch sử phát triển loài người, nghề thủ công xuất hiện như là nghề phụ của nông nghiệp, do lao động nông nghiệp tiến hành. Dần dần, nghề thủ công phát triển thành các hoạt động của những thợ thủ công chuyên nghiệp, hộ sản xuất thủ công chuyên nghiệp, sau đó mở rộng dần thành các làng nghề, các khu vực làng nghề tiểu thủ công nghiệp và khi hoạt động chuyên sâu, đạt được một quy mô nhất định sẽ tách ra khỏi nông nghiệp hình thành các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô, trình độ kỹ thuật công nghệ độc lập và hiện đại hoá dần.

Các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây tại các vùng dân cư tập trung ở châu thổ sông Hồng. Những di chỉ khảo cổ được phát hiện và khảo sát trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy có khá nhiều hiện vật là các sản phẩm thủ công với trình độ sản xuất khá cao, lưu thông đã khá rộng và phổ biến. Vĩnh Phúc là một địa phương nằm trong châu thổ sông Hồng có nghề thủ công tương đối sớm, nhưng không nhiều nghề, quy mô sản xuất nhỏ, tổ chức phân tán, chủ yếu dưới hình thức nghề phụ của các hộ gia đình; giai đoạn chuyển từ sản xuất thủ công sang thủ công chuyên nghiệp chậm hơn rất nhiều so với tỉnh khác ở đồng bằng sông Hồng.

Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là lĩnh vực sản xuất bao gồm các cơ sở công nghiệp nhỏ và các nghề thủ công (kỹ thuật sản xuất chủ yếu làm bằng tay). TTCN là một bộ phận hợp thành của công nghiệp nông thôn, là động lực trực tiếp giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động và các hộ gia đình ở nông thôn. Ngoài việc góp phần hỗ trợ và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, TTCN còn tạo việc làm cho nhiều người khi nông nhàn, tăng thu nhập cho người lao động, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị.



Nông thôn là khu vực chiếm hơn 77% dân số toàn tỉnh với hơn 62% số người trong độ tuổi lao động, nhiều lao động không có việc làm thường xuyên và thời vụ; chất lượng lao động chưa cao; bình quân ruộng đất thấp, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, môi trường nông thôn ngày càng ô nhiễm; chênh lệch về thu nhập và đời sống khu vực nông nghiệp, nông thôn so với khu vực thành thị và các ngành kinh tế khác trên địa bàn còn khá lớn. TTCN với thu nhập bình quân tuỳ thuộc ngành nghề thường cao hơn sản xuất nông nghiệp từ 2 đến 4 lần không chỉ giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện sống ở khu vực nông thôn mà còn góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xoá bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Quy hoạch phát triển các ngành nghề trên địa bàn là giải pháp đầu tiên nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đã được nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV.

  1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC

Tốc độ tăng trưởng của Vĩnh Phúc thời gian qua luôn đạt mức cao so với các tỉnh Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là một trong những tỉnh đứng đầu của cả nước về tốc độ tăng trưởng và cao hơn nhiều so với tốc độ trung bình của cả nước. Tuy nhiên, mặt trái của tăng trưởng cũng làm nảy sinh nhiều thách thức lớn về kinh tế, xã hội và môi trường trên địa bàn tỉnh thể hiện qua các mặt sau:

    • Diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm, đã làm cho nông dân mất một phần khá lớn tư liệu sản xuất. Những dự kiến khai thác và sử dụng lực lượng lao động thừa do mất đất đã không thực hiện được một cách hiệu quả do trình độ tay nghề của số lao động này còn hạn chế; việc đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp.

    • Cơ cấu công nghiệp của Vĩnh Phúc đã có sự dịch chuyển dần sang các ngành sử dụng công nghệ cao, cần ít lao động, đặc biệt là ở nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số doanh nghiệp trong các khu công nghiệp. Những ngành này càng phát triển bao nhiêu thì lao động dôi dư càng lớn bấy nhiêu; sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh và cả nước cũng đang gia tăng.

    • Các khu công nghiệp đã và đang hình thành hiện chưa hoạt động hết công suất nhưng các chỉ tiêu về ô nhiễm môi trường ngày càng rõ rệt. Trên địa bàn chưa có các công trình xử lý chất thải tập trung ngoại trừ khu xử lý nước thải tại khu công nghiệp Khai Quang, KCN Bình Xuyên.

    • Công nghiệp Vĩnh Phúc phát triển chưa đồng bộ, thiếu hệ thống các ngành hỗ trợ, kể cả những ngành, lĩnh vực cơ bản có nhu cầu lớn; chưa thiết lập được mối quan hệ hợp tác có hiệu quả với các tỉnh cùng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, thể hiện qua số lượng cũng như chủng loại các bán thành phẩm lưu thông qua lại còn hạn chế. 

    • Phần lớn các cơ sở sản xuất công nghiệp tập trung dọc theo quốc lộ 2, gần với Hà Nội, chưa khai thác được tiềm năng lao động khu vực nông thôn.

Mặt hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng tiềm năng, trọng điểm của công nghiệp nông thôn cần khuyến khích đầu tư phát triển vì:

  • Thị phần trên thế giới của hàng Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam còn thấp (chiếm 11% kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm từ mây tre lá, 11% kim ngạch gốm sứ và 2,6% sản phẩm kim loại của EU, …). là mặt hàng có khả năng phát triển sản xuất trong khoảng thời gian ngắn.

  • Nguồn nguyên liệu cho hàng TCMN chủ yếu là gỗ, đá, đất, mây, tre, nứa, cói, lá… sẵn có trong tự nhiên, dễ trồng, dễ khai thác tại Việt Nam.

  • Hàng TCMN của Việt Nam sử dụng nhiều lao động thủ công, chi phí sản thấp, giá cả phải chăng có khả năng cạnh tranh với một số nước trong khu vực và được thị trường chấp nhận.

  • Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), thuế nhập khẩu của các nước thành viên giảm thuận lợi cho hàng TCMN xuất khẩu của Việt Nam.

  • Nguyên phụ liệu khác phải nhập khẩu cho hàng TCMN không lớn, có thể tổ chức sản xuất trong nước; đây là một ưu thế để nâng cao sức cạnh tranh và giá trị gia tăng của sản phẩm, nâng cao tỷ lệ thực thu ngoại tệ trong xuất khẩu hàng TCMN Việt Nam.

  • Việc sản xuất hàng TCMN có thể thu hút một lực lượng lớn lao động phổ thông tại địa phương, thời gian đào tạo ngắn, có thể thực hiện ngay tại nơi sản xuất. Theo nghiên cứu “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2010, tầm nhìn đến năm 2020” của Cục Công nghiệp địa phương, cứ xuất khẩu 1 triệu USD/năm thì thu hút được khoảng 3,5 đến 4 ngàn lao động.

  • Thị trường trọng điểm nhập hàng TCMN của Việt Nam là Mỹ, các nước EU, Nhật Bản, Đài Loan... và hiện đang phát triển các thị trường tiềm năng khác như Bắc Âu, Đông Âu, Nam Phi, Canada...

Do sản xuất mang tính tự phát, các cơ sở sản xuất nhỏ đan xen trong khu dân cư, mặt bằng sản xuất chật chội, sử dụng máy móc, thiết bị chắp vá, không đồng bộ, tạo nên loại hình ô nhiễm phân tán, khó kiểm soát. Ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân làng nghề còn hạn chế, việc đầu tư xử lý các chất phát thải gây ô nhiễm môi trường ít được quan tâm nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng gia tăng, chất lượng môi trường tại hầu hết khu vực sản xuất trong các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn. Theo Cục Công nghiệp địa phương, khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước vừa qua cho thấy 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng đối với không khí, nước, đất hoặc cả ba dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ. So với các làng không có nghề phụ, tỷ lệ người mắc bệnh ở nhiều làng nghề đang có xu hướng tăng cao, đặc biệt là nhóm trực tiếp tham gia lao động gây ra những tổn thất không nhỏ về kinh tế xã hội. Công tác quản lý, kiểm soát gặp nhiều khó khăn, lại chưa có những chế tài đủ mạnh đối với những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nên thường nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt.

Vĩnh Phúc hiện có trên 50 làng nghề TTCN, sử dụng khoảng 40% lao động công nghiệp trong toàn tỉnh, nhưng chưa tạo được việc làm ổn định, mức thu nhập chưa cao, nhiều nơi sản xuất gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến đời sống dân cư. Tính chất tự phát trong các làng nghề khiến cộng đồng này gặp nhiều hạn chế về khả năng tổ chức quản lý, về nguồn lực tài chính, về kiến thức thị trường, về công nghệ kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Việc quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh hy vọng sẽ khắc phục được các tồn tại, bất cập nêu trên.



  1. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN

Mục tiêu của đề án nhằm quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn theo hướng phát triển nhanh, bền vững, đồng hành với phát triển kinh tế xã hội và phát triển các ngành khác, trên cơ sở khai thác tiềm năng, nguồn lực sẵn có, đón bắt cơ hội, vận dụng linh hoạt cơ chế thị trường. Việc quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề được tiến hành đồng bộ với quy hoạch các ngành khác, quy hoạch vùng nguyên liệu và bảo vệ môi trường; phát triển làng nghề lồng ghép với các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

Phát triển tiểu thủ công nghiệp làng nghề theo hướng phát huy các nghề truyền thống, hình thành các nghề mới, đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường nhằm tạo thêm việc làm và thu nhập, bảo đảm an sinh xã hội ở nông thôn, góp phần công nghiệp hóa nông thôn, từng bước cải tạo và nâng cao đời sống của nhân dân.

Tỉnh Vĩnh Phúc phấn đấu đến năm 2015 sẽ hình thành 11 cụm công nghiệp, 23 cụm TTCN làng nghề trên địa bàn để thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ sản xuất TTCN vào sản xuất tập trung để nâng cao hiệu quả sản xuất, kiểm soát và xử lý chất thải, bảo vệ môi trường. Cùng với khôi phục các làng nghề truyền thống là xây dựng, nhân cấy một số nghề mới trong khu vực nông nghiệp nông thôn như nghề mây tre đan xuất khẩu, thêu ren xuất khẩu, chế biến nông sản thực phẩm, nghề mộc mỹ nghệ, trong đó tập trung vào một số nghề sử dụng nhiều lao động, vừa học vừa làm, tăng thu nhập cho người lao động góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững.


  1. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

   Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số nghề, ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp tiêu biểu, có lợi thế cạnh tranh, có khả năng phát triển bền vững, có thể cải thiện thu nhập cho người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

    Sở Công thương đã phối hợp với các cấp, ngành, các doanh nghiệp triển khai thực hiện các đề án hỗ trợ, nhân cấy, phát triển nghề, hình thành các làng nghề mới. Với hình thức hỗ trợ đào tạo thợ lành nghề, truyền nghề, chuyển đổi mặt hàng sản xuất, từ sản xuất những sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước sang những sản phẩm để xuất khẩu, một số làng nghề truyền thống đã và đang được phát triển như: làng đá Hải Lựu (Sông Lô), làng mộc Thanh Lãng, làng gốm Hương Canh (Bình Xuyên); đan lát Triệu Đề (Lập Thạch), nuôi và chế biến các sản phẩm từ rắn Vĩnh Sơn (Vĩnh Tường).... Một số làng nghề mới đã và đang được khuyến khích như: mây tre đan, mây xiên, ươm tơ… Các mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ đổi mới cho các cơ sở sản xuất đạt kết quả tốt sẽ được tiếp tục nhân rộng như: mô hình chuyển giao công nghệ phun phủ sơn bóng công nghiệp trong sản xuất đồ gỗ tại làng nghề mộc Thanh Lãng, mô hình sản xuất chiếu tre, trúc của Công ty TNHH Sông Hồng, mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất dụng cụ cơ khí cầm tay của Công ty TNHH Tiến Thịnh, mô hình trình diễn kỹ thuật sấy nguyên liệu sản phẩm mây tre đan của doanh nghiệp mây tre đan Tiến Đa....  Đây là những ngành nghề TTCN có thể quy hoạch phát triển nhằm tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, xoá bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững.



PHẦN I

HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC

  1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC

I.1. Đặc điểm tự nhiên

Vĩnh Phúc - cửa ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, thuộc vùng Châu thổ sông Hồng là một trong 7 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phía  Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang; Phía  Đông và phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội; Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ. Do tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nên các nhà đầu tư có nhiều thuận lợi khi sử dụng các công trình kỹ thuật hạ tầng của khu vực này.            

Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 24,20C; lượng mưa 1.500 - 1.700 ml; độ ẩm trung bình 84 - 85%, số giờ nắng trong năm 1.400 - 1.800 giờ. Hướng gió thịnh hành là hướng Đông - Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, gió Đông - Bắc thổi từ tháng 10 tới tháng 3, kèm theo sương muối. Riêng vùng núi Tam Đảo có khí hậu quanh năm mát mẻ, nhiệt độ trung bình 180 C thích hợp với các hoạt động du lịch, nghỉ ngơi, giải trí.

 Sau khi Mê Linh sáp nhập Hà Nội năm 2008, tổng diện tích đất tự nhiên của Vĩnh Phúc là 123.176,43 ha; trong đó rừng chiếm 26,7% diện tích với 10.821,51 ha rừng sản xuất.

Do đặc điểm vị trí địa lý nên nơi đây hình thành 3 vùng sinh thái  rõ rệt: Đồng bằng, trung du và miền núi hết sức thuận tiện cho phát triển nông – lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và du lịch – dịch vụ.

Địa hình núi cao chủ yếu thuộc dãy Tam Đảo, đứng giữa vùng trung du dài hơn 50 km chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, từ huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) đến huyện Sóc Sơn Hà Nội, là danh giới tự nhiên giữa tỉnh Vĩnh Phúc và Tuyên Quang. Dãy Tam Đảo có trên 10 đỉnh cao trên 1.400m, đỉnh núi giữa (giữa 3 tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc) cao 1529m đến cuối dãy ở đèo Nhe cao 600m và đến Dõm còn 300m rồi hoà vào đồng bằng Sóc Sơn. Trên địa phận của Vĩnh Phúc bắt đầu từ xã Đạo Trù (Tam Đảo) đến xã Ngọc Thanh (Phúc Yên) có chiều dài 30 km. Địa hình núi thấp ở Vĩnh Phúc rộng hàng chục km2 đại diện là núi Sáng thuộc địa phận xã Đồng Quế và Lãng Công (huyện Sông Lô) cao 633m, đây là một dạng địa hình xâm thực, bóc mòn. Ngoài ra còn núi sót gồm núi Đinh, núi Trống (Vĩnh Yên) chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có chiều dài vài km, rộng vài trăm mét, với độ cao từ 50-70m.

Một trong những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh xung quanh Hà Nội là có diện tích đất đồi khá lớn của vùng trung du, có đặc tính cơ lý tốt thuận tiện cho việc xây dựng và phát triển công nghiệp. Ở Vĩnh Phúc huyện nào cũng có đồi, nhiều đồi nhất là hai huyện Lập Thạch và Tam Dương. Các huyện đồng bằng như Vĩnh Tường, Yên Lạc còn sót lại một ít đồi gò như đồi Me, gò Đồng Đậu. Đồi ở Vĩnh Phúc như bát úp, kích thước không lớn, ở vùng đồng bằng chỉ cao từ 20 - 50m, ở vùng trung du cao từ 50 - 200m..

 Địa hình đồng bằng chiếm 40% diện tích toàn tỉnh bao gồm đồng bằng châu thổ được hình thành do quá trình lắng đọng trầm tích tại các cửa sông lớn như Sông Hồng, Sông Lô, Sông Phó Đáy và hệ thống sông suối từ dãy Tam Đảo chảy ra. Diện tích đồng bằng được phân bố trên toàn bộ huyện Yên Lạc, hầu hết huyện Vĩnh Tường, chiếm diện tích lớn ở Tam Dương, Bình Xuyên. Đồng bằng châu thổ phì nhiêu đã thu hút con người đến sinh cư lập nghiệp từ rất sớm. Đồng bằng liền kề với núi (đồng bằng giới hạn) được hình thành do sức bóc mòn, xâm thực của nước mặt bồi lắng tạo thành, bao quanh là đồi núi. So với đồng bằng châu thổ, đồng bằng liền kề với núi kém màu mỡ hơn. Ngoài ra còn có thung lũng, bãi bồi sông được hình thành chủ yếu do tác động xâm thực của dòng chảy, là nguồn phù sa màu mỡ tạo thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, đồng thời còn cung cấp cát, sỏi, thạch anh và silíc cho ngành xây dựng.

Vĩnh Phúc có hệ thống sông ngòi, đầm hồ dày đặc, ngoài giá trị về kinh tế còn tạo ra môi trường cảnh quan, tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển trong tương lai. Hệ thống Sông gồm Sông Hồng, Sông Lô và Sông Phó Đáy. Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, chảy vào địa phận Vĩnh Phúc. Sông Lô chảy vào Vĩnh Phúc qua huyện Sông Lô, Lập Thạch dài 43 km. Sông Phó Đáy chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn đến xã Sơn Đông (Lập Thạch) rồi đổ vào Sông Lô dài 55 km. Ngoài ra còn có Sông Phan, Sông Cầu Bòn, Sông Bá Hạ, Sông Cà Lồ đều được bắt nguồn từ dãy Tam Đảo và chảy về phía Nam của tỉnh. Hệ thống đầm, hồ phân bố rải rác khắp trên địa bàn tỉnh như đầm Vạc (Vĩnh Yên), đầm  Dưng, Vực Xanh, Vực Quảng Cư, đầm Ngũ Kiên (Vĩnh Tường), đầm Tam Hồng, Cốc Lâm (Yên Lạc). Hồ Đá Ngang, hồ Khuân, hồ Bò Lạc, suối Sải (Sông Lô), Vân Trục (Lập Thạch), hồ Đại Lải (Phúc Yên), hồ Xạ Hương, hồ Làng Hà (Tam Đảo)...

 Nhờ địa hình tự nhiên, Vĩnh Phúc có tiềm năng lớn về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn. Vĩnh Phúc có một quần thể danh lam, thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng: Rừng Quốc gia Tam Đảo, thác Bản Long, hồ Đại Lải, hồ Làng Hà,... Nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như danh thắng Tây Thiên, Tháp Bình Sơn, Đền thờ Trần Nguyên Hãn, Di chỉ Đồng Đậu...

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ngay cạnh Hà Nội, thiên nhiên ưu đãi Vĩnh Phúc có đủ cả ba vùng sinh thái: đồng bằng - trung du - miền núi có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và cung cấp nguyên vật liệu tại chỗ cho tiểu thủ công nghiệp; Con người Vĩnh Phúc cần cù, chịu khó, năng động, sáng tạo, nguồn lao động chiếm khoảng 61,6% dân số, trong đó chủ yếu là lao động trẻ, có tinh thần ham học hỏi cầu tiến, có khả năng tiếp thu kiến thức, nâng cao tay nghề; Vĩnh Phúc dẫn đầu khu vực đồng bằng sông Hồng về chỉ số tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế xã hội... Đó là những nhân tố cơ bản cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong những năm qua, đã và đang tạo tiền đề thuận lợi cho phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh .

I.2. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh phúc

Vĩnh Phúc có 9 huyện, thành, thị (trong đó có 1 thành phố là Vĩnh Yên; 1 thị xã là Phúc Yên và huyện Sông Lô mới tách ra từ Lập Thạch năm 2009). Theo kết quả điều tra dân số đến ngày 01/4/2009, toàn tỉnh có 269.163 hộ trong đó có 69.045 hộ thuộc khu vực thành thị (chiếm 25,65%) và 200.118 hộ thuộc khu vực nông thôn (chiếm 74,35%); tổng dân số tỉnh Vĩnh Phúc là 1.000.838 người, số người thuộc khu vực thành thị chiếm 22,42%, số người ở khu vực nông thôn chiếm 77,58%. Mật độ dân số 813 người/km2. Nam chiếm 49,5%, nữ chiếm 50,5%; Số người từ 15 tuổi trở lên chiếm 75,43% dân số toàn tỉnh, trong đó số người chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 86,70%. Dân số Vĩnh Phúc đứng thứ 40/63 tỉnh, thành phố và đứng thứ 9/11 tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng.

Tại thời điểm tái lập tỉnh năm 1997, xuất phát điểm nền kinh tế của tỉnh rất thấp, kinh tế thuần nông, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 52,54% giá trị GDP, công nghiệp chiếm 12,86%; thu nhập bình quân đầu người gần 140 USD, thu ngân sách dưới 100 tỷ đồng... Nắm bắt thời cơ, vận hội, khai thác các tiềm năng, lợi thế sẵn có, không ngừng đổi mới, trong từng năm, từng thời điểm, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chọn và xác định đúng hướng đi, đồng thời, chỉ đạo quyết liệt, huy động các nguồn lực tập trung tăng trưởng kinh tế, đi đôi với xây dựng đời sống văn hoá, đảm bảo an sinh xã hội. Trong giai đoạn 2001-2008 ngành công nghiệp – xây dựng phát triển nhanh chóng, đặc biệt là công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) giai đoạn 2000-2007 tăng bình quân 26,99 %/năm. Sau khi tách Mê Linh, giai đoạn 2005–2010 GTSXCN tăng bình quân 23,83%/năm.

Theo báo cáo số 51/BC-BQLCKCN của Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc, tính đến hết năm 2010, trên địa bàn tỉnh có 611 dự án còn hiệu lực, gồm 495 dự án DDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 30.599,86 tỷ đồng và 116 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 2.313,0 triệu USD. Vốn thực hiện của các dự án DDI là 11.308,64 tỷ đồng, đạt 36,96% tổng vốn đầu tư đăng ký; của các dự án FDI là 895,95 triệu USD, đạt tỷ lệ 38,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Có 229 dự án đã hoạt động SXKD, chiếm 37,64% tổng số dự án đầu tư , gồm 143 dự án DDI và 86 dự án FDI. Các dự án mới đầu tư và tăng vốn năm 2010 chủ yếu thuộc lĩnh vực công nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, linh kiện điện tử, máy tính, vật liệu xây dựng,…

Với vai trò là nền tảng của kinh tế, ngành công nghiệp đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả tỉnh, tạo vị thế mới cho công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc đối với vùng đồng bằng sông Hồng và với cả nước.

Nếu như công nghiệp tạo bước đột phá cho sự tăng trưởng, thu ngân sách, thì nông nghiệp Vĩnh Phúc được quan tâm đầu tư thích đáng, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vĩnh Phúc là địa phương đi đầu trong cả nước có Nghị quyết chuyên đề về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân. Vĩnh Phúc đã xây dựng nhiều chương trình, đề án, dự án để triển khai thực hiện nghị quyết, xây dựng nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn, nông dân như: miễn thuỷ lợi phí cho nông nghiệp; hỗ trợ giáo dục mầm non; bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, cung cấp thông tin cho nông dân; hỗ trợ vùng trồng trọt và xây dựng khu sản xuất tập trung; đầu tư kiên cố hoá kênh mương; cấp đất dịch vụ; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề... Kinh phí đầu tư từ nguồn ngân sách tỉnh cho khu vực nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2006 - 2010 khoảng 1.000 tỷ đồng. Cùng với sự phát triển của công nghiệp - nông nghiệp, các ngành dịch vụ đa dạng đang hình thành và phát triển, giá trị sản xuất tăng bình quân 19,7%/năm, giá trị tăng thêm 19,35%. Doanh thu các ngành vận tải, du lịch, bưu chính, viễn thông, ngân hàng đều tăng mạnh, tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách.

Việc quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị và nông thôn mới, quy hoạch phát triển ngành, vùng, từng lĩnh vực, từng địa phương được quan tâm đặc biệt. Tỉnh đã chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, công nghiệp, giao thông vận tải... định hướng phát triển đến năm 2030. Cùng với công tác quy hoạch, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư, nâng cấp, nhất là giao thông, 97% tuyến đường tỉnh lộ, 63,4% tuyến đường giao thông nông thôn được nâng cấp, cứng hoá.

Không chỉ phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hoá - xã hội của tỉnh ngày càng phát triển, từng bước kết hợp hài hoà với tăng trưởng kinh tế. Giáo dục - đào tạo của tỉnh luôn khẳng định được vị thế trong toàn quốc. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông thường xuyên cao hơn bình quân chung cả nước; tỷ lệ đỗ vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm đạt trên 30%, có 215 sinh viên/1 vạn dân. Từ 1998 đến nay, tỉnh liên tiếp có học sinh đoạt giải cao trong các kỳ thi olimpic quốc tế và khu vực. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2010, đạt 46%, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho gần 25 nghìn lao động. Toàn tỉnh có 95% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế xã và 85% có bác sỹ. Công tác giảm nghèo được thực hiện lồng ghép với nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, số hộ nghèo bình quân giảm 2,68%/năm; Tỉnh đã xoá trên 5.000 ngôi nhà tranh, tre, nứa lá dột nát cho các hộ nghèo. Đến nay, hầu hết các xã đều có nhà văn hoá, số gia đình văn hoá đạt trên 80%; Thôn, làng, khu phố văn hoá đạt trên 65%.



I.3. Đánh giá chung

Vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào tình hình cụ thể của địa phương, sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Nền kinh tế của tỉnh liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao, với những con số đầy sức thuyết phục. Bình quân trong vòng 10 năm (1997- 2007) tốc độ tăng trưởng GDP của Vĩnh Phúc đạt 17,5%/năm; Năm 2008, đạt 17,77%; Năm 2009 do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng của Vĩnh Phúc vẫn đạt 8,82%/năm. Năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vĩnh Phúc đạt 21,42%; Trong đó, khu vực dịch vụ tăng 25,72%, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 21,30% và khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 15,13%.

Điểm nhấn của kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc từ khi tái lập tỉnh đến nay là sự chuyển dịch tích cực, đúng hướng cơ cấu kinh tế; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ tăng liên tục từ 47,5% (năm 1997) lên 85,38%, (năm 2010); tương ứng với nông - lâm nghiệp - thuỷ sản giảm từ 52,54% (năm 1997) xuống còn 14,62% (năm 2010). Công nghiệp khẳng định rõ vai trò nền tảng trong toàn bộ nền kinh tế của tỉnh với GTSXCN chiếm hơn 75% GTSX toàn tỉnh, đóng góp gần 55% GDP và gần 90% ngân sách tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 1997 - 2000 tăng trung bình 75,7 %/năm nhờ xuất phát điểm thấp (năm 1997, công nghiệp mới chiếm 12,86 % GDP), từ 2001 - 2007 tăng trung bình 29,15%/năm; sau khi tách Mê Linh giai đoạn 2005-2010 tăng trung bình 23,83%/năm. Do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu, trong điều kiện khó khăn, GTSXCN vẫn tăng 5,49% năm 2009 và 23,28% năm 2010.

Không chỉ tập trung phát triển công nghiệp, tỉnh còn chú trọng đến việc khôi phục, phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp để giải quyết việc làm, khai thác các nguồn lực tại chỗ, đẩy mạnh phát triển kinh tế khu vực nông thôn của tỉnh.

Sự tăng trưởng của các ngành kinh tế là yếu tố tạo cho Vĩnh Phúc có mức thu ngân sách nhà nước liên tục tăng nhanh, trong đó, thu nội địa chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng ổn định. Tốc độ tăng thu ngân sách đạt trên 39% năm, trong đó, thu nội địa chiếm khoảng 80%. Từ năm 2004, tỉnh đã tự cân đối được ngân sách và đóng góp cho ngân sách Trung ương. Năm 2010, thu ngân sách đạt trên 15 nghìn tỷ đồng. Đó là những con số cực kỳ ấn tượng tại thời điểm không ít khó khăn đối với nền kinh tế như hiện nay.

Đánh giá tình hình sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2005 - 2010, Hội nghị thống nhất: mặc dù có nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với sự nỗ lực phấn đấu cao, tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng và toàn diện trên các lĩnh vực. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bình quân đạt 17,4%/năm. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 31 triệu đồng, tương đương 1.630 USD. Thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế tiếp tục được đẩy mạnh. Hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư, nâng cấp theo hướng hiện đại. Các lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ. Các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo, hộ nghèo được quan tâm. Hoạt động đối ngoại được mở rộng. Vĩnh Phúc sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợi cho các dự án triển khai, nhanh chóng đi vào hoạt động; Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào tỉnh; Nắm bắt tình hình hoạt động của các doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho những doanh nghiệp đã và đang đầu tư trên địa bàn; Tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sớm đưa các dự án đầu tư ở khu vực nông nghiệp - nông thôn vào khai thác sử dụng. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các nguồn lực để phát triển...



  1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2000-2010

II.1. Tình hình chung

Việt Nam hiện có nguồn nguyên liệu, nhân lực và kỹ năng thuận lợi để sản xuất các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp (TTCN), trong đó tiềm năng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) là rất lớn nhưng tính bền vững chưa cao. Theo Hiệp hội làng nghề Việt Nam năm 2008, cả nước có khoảng 2.790 làng có nghề, trong đó hơn 2.000 làng nghề truyền thống. Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là nơi có mật độ làng nghề lớn nhất cả nước với khoảng 1.000 làng nghề truyền thống, nổi tiếng như: gốm Bát Tràng (Hà Nội), chum vại Hương Canh (Vĩnh Phúc), lụa Vạn Phúc (Hà Đông), Tranh Đông Hồ (Bắc Ninh).... Các làng nghề với hơn 1,3 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp đã thu hút và giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động (thuộc 1,423 triệu hộ gia đình), trong tổng số 45 triệu lao động khu vực nông thôn. Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm của làng nghề liên tục tăng, năm 2007 đạt khoảng 750 triệu USD; năm 2008 đạt gần 1 tỷ USD. Việc làm tại các làng nghề tuy chưa đem lại thu nhập cao cho người lao động địa phương nhưng tương đối ổn định. Nhiều làng nghề như Đồng Kỵ, Đa Hội (Bắc Ninh), lụa Vạn Phúc, mây tre đan Phú Vinh (Hà Nội) có mức thu nhập trung bình 1,2 triệu đồng/người/tháng; công nhân kỹ thuật hoặc có tay nghề khoảng 3,0 triệu đồng/người/tháng. Nhờ nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, nguyên phụ liệu nhập không đáng kể, giá trị thực thu của một số ngành thủ công mỹ nghệ có thể đạt tới 95-97%. Các nhóm nghề phổ biến và có giá trị kinh tế văn hóa cao nhất là nghề đồ gỗ mỹ nghệ, gốm sứ, mây tre đan, thêu ren, dệt lụa, dệt chiếu cói...Năm 2009, khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động đến các làng nghề khá rõ rệt, kể cả công nhân thời vụ có khoảng 5 triệu lao động làng nghề thiếu việc làm, trong đó các ngành như gốm sứ, gỗ xuất khẩu, mây tre, đan lát… chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Thị trường xuất khẩu suy giảm, sản xuất của các cơ sở, các hộ làm nghề bị đình đốn, lao động mất việc làm và thu nhập. Tuy làng nghề với quy mô hộ gia đình là chủ yếu, có cơ cấu sản xuất đa dạng, lao động có tính thời vụ, khi mất việc có thể chuyển sang nghề khác nhưng ở khía cạnh giải quyết việc làm và cải thiện thu nhập ở khu vực nông thôn thì đây là vấn đề đáng quan ngại; việc mất bạn hàng và thị trường truyền thống sẽ khiến làng nghề khó có khả năng phục hồi.

Trong bối cảnh chung đó, tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000-2010 có thể tóm tắt như sau:

Năm 2000 khi chưa tách Mê Linh về Hà Nội, toàn tỉnh có hơn 11 ngàn cơ sở tiểu thủ công nghiệp, sử dụng hơn 22 ngàn lao động chưa kể lao động thời vụ. Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp (GTSXTTCN) trên địa bàn chiếm khoảng 2,6% giá trị sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp (GTSXCN-TTCN) toàn tỉnh. Năm 2007, toàn tỉnh có gần 16 ngàn cơ sở TTCN (tăng 1,40 lần so với năm 2000), thu hút hơn 34 ngàn lao động (tăng 1,54 lần so với năm 2000); GTSXTTCN theo giá cố định 1994 tăng 3,95 lần so với năm 2000. Giai đoạn 2000-2007, GTSXTTCN tăng trung bình 21,67%/năm thấp hơn tốc độ tăng trung bình 26,99%/năm của GTSXCN chung cùng thời kỳ.

Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2000-2007 khi chưa tách huyện Mê Linh về Hà Nội



Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2002-2008

Nếu không tính huyện Mê Linh, năm 2005 có hơn 12 ngàn cơ sở TTCN sử dụng gần 28 ngàn lao động; GTSXTTCN chiếm 2,66% GTSXCN-TTCN trên toàn tỉnh. So với năm 2005, năm 2010 có số cơ sở TTCN tăng 1,25 lần; số lao động TTCN tăng 1,17 lần nhưng giá trị SXTTCN theo giá cố định năm 1994 tăng 3,34 lần. Tốc độ tăng GTSXTTCN giai đoạn 2005-2010 đạt trung bình 28,37%/năm, cao hơn tốc độ tăng trung bình 23,83%/năm của giá trị SXCN-TTCN cùng thời kỳ. Giá trị SXTTCN năm 2010 chiếm 4,07% giá trị SXCN-TTCN trên địa bàn tỉnh.

Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005-2010 sau khi tách huyện Mê Linh.



Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2009-2011

Trên địa bàn tỉnh hiện có hơn 50 làng nghề TTCN đang hoạt động với 10 nhóm nghề chủ yếu là nghề mộc, nghề mây tre đan, nghề rèn kim khí, nghề đá, nghề chế biến bông vải, tái chế tơ nhựa, nghề chế biến lương thực thực phẩm, nghề chế biến rắn, nghề gốm và nghề thêu.

Theo điều tra của Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2010 có hơn 15 ngàn cơ sở sản xuất TTCN, tập trung nhiều nhất tại huyện Lập Thạch tiếp theo là Vĩnh Tường; Yên Lạc; Sông Lô đều trên 10%; còn lại là Bình Xuyên; Tam Dương; Vĩnh Yên, Phúc Yên và ít nhất là huyện Tam Đảo 3,53%.

TTCN sử dụng 39,9% lực lượng lao động công nghiệp của tỉnh và phân bố theo địa bàn như sau:



Các cơ sở TTCN đã khai thác những lợi thế sẵn có của địa phương để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, góp phần tăng thu ngân sách và giải quyết việc làm cho hơn 3 vạn lao động. Doanh thu tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn năm 2010 phân theo ngành công nghiệp cấp III như sau:



Năm 2010, doanh thu của các sản phẩm khoáng phi kim loại gạch ngói chiếm tỷ trọng lớn nhất 27,9%; tiếp theo là các sản phẩm giường tủ bàn ghế đứng thứ 2 với 24,67%; các sản phẩm sản xuất từ kim loại 12,44%; tiếp theo là các sản phẩm từ gỗ tre nứa 9,08%; chế biến thực phẩm khác 7,35%; may 4,41%; cấu kiện kim loại 3,61%; đồ uống 3,12%; xay sát sản xuất bột 2,86%; cưa xẻ bảo quản gỗ 2,49%; khai thác cát đá sỏi 1,22%.... còn lại các ngành nghề khác đều có tỷ trọng dưới 1%.



Doanh thu của một số ngành TTCN có tỷ trọng lớn giai đoạn 2008-2010

Đơn vị tính: triệu đồng










Doanh thu điều tra







Tỷ trọng/tổng d.thu




TT

Danh mục

2008

2009

2010

2008

2009

2010

1

Khai thác cát đá sỏi đất sét

3.916,1

13.013,5

34.623,8

0,39%

0,74%

1,22%

2

Công nghiệp chế biến

988.301,5

1.734.828,4

2.813.552,7

99,58%

99,23%

98,78%

2.1

SX chế biến thực phẩm, đồ ưống

130.657,1

219.176,9

380.439,2

13,17%

12,54%

13,36%

 

Trong đó:



















 

Xay xát và sản xuất bột

52.665,7

88.546,9

81.538,8

5,31%

5,06%

2,86%

 

Sản xuất thực phẩm khác

38.325,0

72.335,5

209.440,9

3,86%

4,14%

7,35%

 

Sản xuất đồ uống

36.469,3

53.162,9

88.964,3

3,67%

3,04%

3,12%

2.2

Chbiến và SX sp từ gỗ, tre, nứa

351.822,3

595.059,8

1.033.740,8

35,45%

34,04%

36,29%

 

Trong đó:



















 

Sản phẩm từ gỗ, tre nứa

27.203,7

81.142,5

258.675,8

2,74%

4,64%

9,08%

 

Sản xuất giường tủ bàn ghế

291.747,1

479.367,2

702.632,5

29,40%

27,42%

24,67%

2.3

Dệt may, da giày

48.114,7

97.887,0

129.143,1

4,85%

5,60%

4,53%

 

Trong đó:

May trang phục



41.422,5

90.394,5

125.511,8

4,17%

5,17%

4,41%

2.4

Cơ khí chế tạo sắt thép

153.651,1

201.752,8

457.146,4

15,48%

11,54%

16,05%




Trong đó:



















 

SX cấu kiện KL, thùng, bể, nồi hơi

22.785,0

41.892,8

102.767,7

2,30%

2,40%

3,61%

 

SX sp KL khác, dvụ, gia công KL

130.660,6

159.732,0

354.351,2

13,17%

9,14%

12,44%

2.5

V.liệu XD, gạch gốm thuỷ tinh

247.343,9

592.206,4

797.550,4

24,92%

33,87%

28,00%

 

Trong đó:



















 

SXVLXD, khoáng phi k.loại

245.638,1

588.130,2

794.702,0

24,75%

33,64%

27,90%

2.6

Hoá chất

165,0

1.533,3

0

0,02%

0,09%

0,00%

2.7

Sản xuất các sản phẩm khác

56.547,4

27.212,2

15.532,8

5,70%

1,56%

0,55%

 

Trong đó:

Tái chế phế liệu



55.648,1

26.222,4

12.944,0

5,61%

1,50%

0,45%

3

S.xuất, phân phối điện, nước

0

0

0

0,00%

0,00%

0,00%

 

TỔNG CỘNG

992.452,6

1.748.318,1

2.848.176,5

100,00%

100,00%

100,00%

Nguồn xử lý số liệu : Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc

Năm 2005, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 21 làng nghề đăng ký; trong 7 huyện thị của tỉnh, chỉ có 5 huyện (Bình Xuyên, Mê Linh, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Lập Thạch) là có làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp; 3 xã có 2 nghề; chế biến thực phẩm có 3 làng nghề; sản xuất, khai thác vật liệu xây dựng có 2 làng nghề; tái chế phế liệu có 1 làng nghề; thêu thủ công có 10 làng nghề và 5 làng nghề thủ công khác. Theo quyết định số 44/2005/QĐ-UBND về tiêu chuẩn để được công nhận làng nghề (có trên 50% số lao động làm nghề; có trên 30% số hộ làm nghề và giá trị sản xuất của nghề chiếm hơn 50% tổng giá trị sản xuất của làng) tính đến 2010, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có 22 làng nghề TTCN đã được công nhận, trong đó:



  • Nghề rèn có Bàn Mạch - Lý Nhân huyện Vĩnh Tường;

  • Nghề mộc có 11 làng nghề là Bích Chu, Thủ Độ, Văn Hà, Vân Giang (huyện Vĩnh Tường); Vĩnh Đông, Vĩnh Đoài, Vĩnh Trung, Lũng Hạ (huyện Yên Lạc); Hợp Lễ, Yên Lan, Xuân Lãng (huyện Bình Xuyên);

  • Nghề gốm sứ có Hương Canh huyện Bình Xuyên;

  • Nghề mây tre đan có Triệu Xá, Xuân Lan (huyện Lập Thạch), Cao Phong (huyện Sông Lô);

  • Nghề đá mỹ nghệ có Hải Lựu huyện Sông Lô;

  • Nghề nuôi rắn có Vĩnh Sơn huyện Vĩnh Tường

  • Tái chế nhựa có Tảo Phú - Tam Hồng và Đông Mẫu – Yên Đồng huyện Yên Lạc; Tái chế bông có Thôn Gia- Yên Đồng huyện Yên Lạc; Nghề cơ khí vận tải có Việt An- Việt Xuân huyện Vĩnh Tường.

Tính đến cuối năm 2011, toàn tỉnh đã hình thành 14 cụm công nghiệp (CCN); 11 cụm được hình thành trước và 3 cụm được hình thành sau Quyết định 105/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; 6 CCN cơ bản hoàn thành các hạng mục công trình hạ tầng, 6 CCN đã bồi thường GPMB nhưng chưa triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; CCN Hương Canh II, chưa lập lại quy hoạch chi tiết khi chuyển chủ đầu tư từ UBND huyện Bình Xuyên sang cho Công ty TNHH thương mại XNK tổng hợp Hà Thành; CCN An Tường chưa thực hiện xong phương án bồi thường GPMB. Diện tích đã quy hoạch của 14 CCN trên là 279,79 ha, diện tích đất công nghiệp có khả năng cho thuê là 165,07 ha; trong đó, đã cho thuê là 68,76 ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân là 41,7%. Tại các cụm CN đã có 99 dự án đi vào sản xuất kinh doanh với vốn đầu tư khoảng 1.065,4 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng 6.126 lao động, chiếm 9,18% tổng số lao động công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Theo Sở Công Thương Vĩnh Phúc: huyện Bình Xuyên đã hình thành 3 CCN, tổng diện tích quy hoạch 69,32 ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân 15,14%; huyện Vĩnh Tường đã hình thành 5 CCN, tổng diện tích quy hoạch 114,76 ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân 45,67%; huyện Yên Lạc đã hình thành 4 CCN, tổng diện tích quy hoạch 59,22 ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân 47,02%; huyện Tam Dương mới hình thành Cụm Công nghiệp Hợp Thịnh đã cho thuê khoảng 11ha/41,3 ha diện tích đất công nghiệp; huyện Lập Thạch mới hình thành Cụm Công nghiệp Lập Thạch đã thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng và san lấp được 3,6ha/7,2 ha quy hoạch.

Một số kết quả đã đạt được: Cụm làng nghề rèn Lý Nhân (huyện Vĩnh Tường), diện tích quy hoạch 10,6 ha; vốn đầu tư 13,44 tỷ đồng; đã đưa được 28 hộ sản xuất của làng nghề vào cụm; Cụm làng nghề rắn Vĩnh Sơn (huyện Vĩnh Tường), diện tích 20,6 ha; vốn đầu tư 17,65 tỷ đồng; phục vụ cho 75 hộ nuôi rắn tiêu biểu ở địa phương, giải quyết việc làm cho 300 lao động tại xã; Cụm TTCN thị trấn Yên Lạc (huyện Yên Lạc) có diện tích 6,3 ha vốn đầu tư xấp xỉ 14,6 tỷ đồng; Cụm làng nghề Tề Lỗ (huyện Yên Lạc) tái chế sắt vụn, được xây dựng trên diện tích 22,9 ha; tổng vốn đầu tư trên 47 tỷ đồng; đưa được 523 hộ vào cụm, giải quyết tình trạng ô nhiễm tại khu dân cư; Cụm làng nghề mộc Thanh Lãng (Bình Xuyên), diện tích quy hoạch 17,7 ha; vốn đầu tư 34 tỷ đồng; đang chuẩn bị đưa các hộ sản xuất ra nơi làm việc mới. 3 cụm làng nghề mộc An Tường (Vĩnh Tường), gốm Hương Canh (Bình Xuyên), chế biến khoáng sản Xuân Hoà (Lập Thạch) đang triển khai thực hiện, với tổng mức đầu tư 60 tỷ đồng, trên diện tích gần 40 ha.

Để khôi phục và phát triển nghề thủ công truyền thống, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển Doanh nghiệp Vĩnh Phúc đã xây dựng nhiều chương trình khôi phục và phát triển làng nghề theo hướng sản xuất thủ công mỹ nghệ và làm hàng xuất khẩu. Trung tâm đã mời các nghệ nhân ở làng nghề đan lát Khả Ðào (Hà Nội) và làng nghề đan lát Ngọc Ðồng (Hà Nam) về mở lớp dạy nghề mây tre đan xuất khẩu cho hơn 5.000 học viên thuộc những làng nghề truyền thống đan lát ở xã Triệu Ðề, Ðồng Ích, Văn Quán (Lập Thạch), Trung Kiên (Yên Lạc), Minh Quang (Tam Đảo). Sau một thời gian học nghề, các học viên đã làm nòng cốt cho việc khôi phục những làng nghề đan lát, từ sản xuất hàng tiêu thụ trong nước đã chuyển sang làm hàng mây tre đan xuất khẩu sang các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ, đem lại thu nhập cao. Tại Hải Lựu, sau thời gian học nghề từ những nghệ nhân làm đá mỹ nghệ Đà Nẵng, các thanh niên đã có thể tự tay phá đá tạo hình làm những sản phẩm đá mỹ nghệ có chất lượng cao. Ðến nay, làng nghề đá Hải Lựu được khôi phục với hơn 500 lao động. Hai công ty TNHH Thanh Sơn, Tiến Thành chuyên sản xuất đá mỹ nghệ phục vụ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu sang các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ đem về cho làng đá Hải Lựu hàng trăm tỷ đồng/năm. Làng nghề mộc Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên cũng tuyển chọn các thợ mộc khéo tay đưa sang học nghề mộc mỹ nghệ ở làng mộc Ðồng Kỵ, tỉnh Bắc Ninh. Lớp thợ mộc trẻ ở Thanh Lãng còn phối hợp với các thợ mộc có kinh nghiệm lâu năm phục chế lại các họa tiết hoa văn ở những đình làng bị hư hỏng, chế tác nhiều sản phẩm mộc theo lối cổ, phục vụ cho khách hàng trong và ngoài tỉnh. Bình quân mỗi năm làng mộc Thanh Lãng đạt doanh thu hơn 100 tỷ đồng. 

Cùng với việc mời thầy giỏi về truyền nghề, trung tâm đã tổ chức mở các lớp đào tạo các nghề, thêu, mây tre đan, nghề mộc tại những xã còn trắng về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Sau khi được đào tạo, truyền nghề các học viên đã trở thành lực lượng lao động kỹ thuật nòng cốt tại các làng nghề, các doanh nghiệp. Trung tâm còn hỗ trợ xây dựng các mô hình sản xuất như phôi thép chất lượng cao tại Công ty TNHH Nguyệt Ánh, sản xuất linh kiện phụ tùng ôtô, xe máy tại Công ty Cosmos, sản xuất phân hữu cơ vi sinh tại Công ty TNHH Quế Lâm phương Bắc, sản xuất đồ nội thất từ tấm cót tại Công ty cổ phần Tre Việt; hỗ trợ đầu tư thiết bị nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cho một số nghề; phối hợp với các trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm tổ chức bồi dưỡng kiến thức, đào tạo tin học và ứng dụng thương mại điện tử cho cán bộ quản lý doanh nghiệp và cán bộ khuyến công xã, huyện. Với cách làm này, nhiều làng nghề TTCN đã từng bước được khôi phục và phát triển, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, tạo việc làm xoá đói giảm nghèo và đổi thay diện mạo nông thôn của tỉnh Vĩnh Phúc.



tải về 1.3 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương