Ủy ban nhân dân tỉnh hà TĨnh cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 128.38 Kb.
trang3/5
Chuyển đổi dữ liệu13.11.2017
Kích128.38 Kb.
#1675
1   2   3   4   5

b) Ưu điểm, thuận lợi:

- Công tác thu hút đầu tư vào cụm công nghiệp được chú trọng, góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động và xây dựng chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở địa phương.

- Công tác xã hội hóa đầu tư đã và đang đẩy mạnh thực hiện; đến nay có 04 CCN đã giao cho doanh nghiệp đầu tư, sản xuất, kinh doanh7; 03 CCN đang được các nhà đầu tư nghiên cứu, tìm hiểu cơ hội đầu tư8

- Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được quan tâm thực hiện; nguồn vốn đầu tư hạ tầng các cụm công nghiệp đã được tăng cường, nhất là vận dụng nguồn kinh phí đầu tư hạ tầng của Trung ương và lồng ghép các nguồn vốn từ các nguồn khác như nguồn đầu tư phát triển, xây dựng nông thôn mới, xây dựng cơ bản, hạ tầng làng nghề...

- Đến nay mới có 03 CCN đã có hệ thống xử lý nước thải; các dự án các dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương đầu tư vào cụm công nghiệp đều phải có Báo cáo đánh giá tác động môi trường được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định.

c) Tồn tại, hạn chế: Đã được xác định cụ thể tại Thông báo số 15/TB-HĐND ngày 24/3/2017 của HĐND tỉnh, gồm:

- Công tác quản lý quy hoạch và thực hiện quy hoạch thiếu thống nhất, quy hoạch chưa đồng bộ, chưa phát huy tối đa hiệu quả.

- Tổng nguồn vốn đầu tư hạ tầng CCN còn thấp; phụ thuộc vào ngân sách nhà nước (chủ yếu là ngân sách tỉnh); một số CCN chưa triển khai đầu tư hạ tầng hoặc đầu tư chưa tập trung, còn dàn trải hoặc thiếu đồng bộ. Công tác xã hội hóa đầu tư hạ tầng CCN còn khó khăn; cơ chế, chính sách thu hút, hỗ trợ chưa hấp dẫn các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh hạ tầng.

- Tỷ lệ lấp đầy tại các CCN đạt thấp, có CCN đã đầu tư hạ tầng nhưng chưa có dự án đầu tư9. Cơ chế, chính sách thu hút đầu tư sản xuất vào CCN chưa đủ mạnh, số dự án đăng ký nhiều nhưng chưa triển khai thực hiện, có dự án quá thời hạn theo giấy phép đầu tư nhưng chưa được kịp thời xử lý10; có dự án vốn đầu tư đăng ký lớn nhưng vốn thực hiện thấp, tiến độ triển khai chậm; việc định hướng cho nhà đầu tư vào CCN chưa rõ nét, vẫn còn tình trạng dự án sản xuất công nghiệp được cho thuê đất ngoài CCN.

- Hầu hết các CCN chưa được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, hệ thống thoát nước mưa, chưa có điểm tập kết chất thải rắn tập trung; chưa được cấp nước sạch; vấn đề ô nhiễm bụi và khí thải chưa được quan tâm; chế độ quan trắc môi trường chưa đảm bảo; các đơn vị chưa gửi báo cáo kết quả thực hiện công tác bảo vệ môi trường về cơ quan quản lý nhà nước.



2.3. Phát triển các làng nghề

a) Tình hình chung

Toàn tỉnh có 30 làng nghề truyền thống với hơn 7.100 lao động, phân bố tập trung nhiều ở huyện Đức Thọ (8 làng nghề), Thạch Hà (10 làng nghề), Can Lộc (7 làng nghề) với các nghề chính như sản xuất đồ gỗ, hàng kim khí, chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến thủy hải sản, sản xuất hàng mây tre đan, chiếu cói, nón lá... Công tác phát triển nghề, khôi phục làng nghề được quan tâm, đến nay có 5 làng nghề và 8 nghề truyền thống được công nhận với các nghề như rèn đúc, mộc, chổi đót, đóng thuyền, chế biến nước mắm, chiếu cói, mây tre đan. Một số làng nghề đã đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất và cải tiến mẫu mã sản phẩm nên mở rộng được quy mô như mộc Thái Yên, mộc Tràng Đình, rèn Trung Lương, thủy sản Cẩm Nhượng, Thạch Kim...

b) Ưu điểm, thuận lợi:

- Việc khôi phục và phát triển các làng nghề, nghề truyền thống đã giải quyết việc làm ở nông thôn, tăng thu nhập, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần xây dựng thành công Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

- Các sản phẩm của Làng nghề đã đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng về chủng loại và chất lượng từ hàng cao cấp đến sản phẩm dân dụng. Một số sản phẩm đã và đang trở thành sản phẩm hàng hóa nổi tiếng cả nước và từng bước vươn ra thị trường xuất khẩu như lạc nhân, gỗ, chè búp khô, mực tôm đông lạnh, nước mắm…với sản lượng và giá trị ngày một tăng.

- Phát triển làng nghề sẽ kéo theo phát triển các ngành công nghiệp chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như gỗ rừng trồng, lúa, gạo… làm nguyên liệu đầu vào cho các làng nghề; thúc đẩy nông nghiệp, dịch vụ, thương mại phát triển.

c) Tồn tại, hạn chế

- Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là hộ gia đình, quy mô nhỏ lẻ, vốn đầu tư hạn hẹp; sự gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ thiếu chặt chẽ; chưa có sự gắn kết thực sự giữa người trồng nguyên liệu và cơ sở chế biến. Các doanh nghiệp tư nhân được thành lập với số lượng ít, nên chưa tạo động lực mạnh mẽ để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làng nghề.

- Do khả năng tiếp thị - bán hàng thấp, thị trường tiêu thụ sản phẩm còn nhỏ bé, thiếu ổn định, chưa được mở rộng, nhất là thị trường xuất khẩu; một số làng nghề thị trường tiêu thụ sản phẩm tuy đã được mở rộng nhưng số lượng tiêu thụ không lớn. Một mặt do chất lượng sản phẩm còn thấp, độ đồng đều của sản phẩm chưa cao, sản xuất của làng nghề chủ yếu là tự phát, chưa bền vững, hiệu quả thấp. Mẫu mã chủng loại sản phẩm đơn điệu, tính cạnh tranh của các sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu.

- Trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất các sản phẩm nhìn chung còn thấp; công tác đổi mới công nghệ, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm diễn ra chậm. Vốn đầu tư phát triển trong các làng nghề hầu hết là vốn tự có, công tác huy động vốn gặp nhiều khó khăn. Phần lớn lao động chưa qua đào tạo, chủ yếu trưởng thành từ truyền nghề. Người thợ thủ công chưa có chế độ bảo hiểm, chưa tạo sự hấp dẫn với lớp trẻ vào làm nghề. Thu nhập từ một số nghề còn thấp, chủ yếu là tận dụng thời gian nông nhàn.

- Môi trường làng nghề còn nhiều hạn chế do làng nghề xen kẽ trong khu dân cư, chưa có thiết bị xử lý chất thải, chất độc hại, nguy cơ gây ô nhiễm cao nên việc phát triển, khôi phục làng nghề truyền thống đang gặp nhiều khó khăn thách thức.



3. Thực trạng lao động công nghiệp

a) Tình hình chung:

Năm 2010, các ngành kinh tế đã giải quyết việc làm cho 655.120 lao động, thì đến năm 2015 giải quyết việc làm cho 728.100 lao động, tăng bình quân 2,14%/năm; lao động ngành công nghiệp tăng bình quân 6,74%/năm (khoảng 2.500 lao động/năm), gấp 3 lần tốc độ tăng lao động bình quân chung của tỉnh; đưa lực lượng lao động công nghiệp từ 39.146 người vào năm 2010 lên 54.245 người vào năm 2015, tăng gấp 1,4 lần so với năm 2010, cụ thể:

- Lao động trong các doanh nghiệp, hợp tác xã CN-TTCN: Giai đoạn 2010-2015 tăng bình quân 10,16%/năm; nếu năm 2010, có 364 doanh nghiệp, hợp tác xã CN-TTCN, đã giải quyết việc làm cho 12.862 lao động, thì đến năm 2015 với 588 doanh nghiệp, hợp tác xã CN-TTCN đã giải quyết việc làm cho 20.866 lao động. Sự gia tăng lao động trong thời gian vừa qua do một số dự án lớn, trọng điểm đã đi vào hoạt động ổn định, giải quyết số lượng lớn lao động của địa phương11; nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã đi vào sản xuất kinh doanh.

- Lao động trong các cơ sở sản xuất công nghiệp giai đoạn 2010-2015, tăng thêm hơn 7.000 lao động, đưa số lao động làm việc trong các cơ sở sản xuất công nghiệp từ 28.284 người năm 2010 lên 33.379 người năm 2015. Sự gia tăng lao động do sự phát triển công nghiệp; ứng dụng công nghệ trong quá trình sản xuất của các cơ sở sản xuất ở khu vực nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới; gắn liền với việc khôi phục và phát triển các làng nghề…

b) Ưu điểm:

- Góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, tăng lao động khu vực công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ; nếu năm 2010 lao động công nghiệp chiếm 5,98% tổng số lao động, thì đến năm 2015 chiếm 7,45% tổng số lao động của nền kinh tế.

- Đáp ứng cơ bản nhu cầu về lao động của các doanh nghiệp, hợp tác xã CN-TTCN, nhất là nhu cầu của các dự án công nghiệp lớn trên địa bàn.

c) Tồn tại, hạn chế:

- Mức tăng việc làm chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp; giai đoạn 2010-2016 giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 19,56%/năm, trong khi mức tăng việc làm bình quân chỉ đạt 6,74%/năm.

- Chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, cơ cấu ngành nghề đào tạo còn nhiều bất cập, như: thiếu lao động kỹ thuật trình độ cao; tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, nhất là tại khu vực nông thôn; kỹ năng, tay nghề, tác phong lao động công nghiệp chưa đáp ứng được các công việc đòi hỏi tay nghề cao. Phần lớn lao động xuất thân từ nông thôn, nông nghiệp nên còn tùy tiện về giờ giấc, kỷ luật lao động; người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẽ kinh nghiệm làm việc.

4. Thực trạng công nghệ và bảo vệ môi trường công nghiệp

a) Tình trạng công nghệ và ứng dụng công nghệ vào sản xuất

Trong giai đoạn 2010-2016, đầu tư cho khoa học công nghệ, ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến được các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp quan tâm. Những khó khăn do tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, sự giảm sút về sức mua hàng hóa cũng khiến các doanh nghiệp chú trọng hơn trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị máy móc nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa và sức cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh các dự án mới đầu tư, nhất là các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho việc đổi mới công nghệ, ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo kết quả điều tra12 công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn thì có đến 23% công nghệ có xuất xứ từ nước ngoài (Trung Quốc, Liên Xô cũ, Đông Âu...); 52% công nghệ có nguồn gốc trong nước và 25% các công nghệ không rõ nguồn gốc xuất xứ, đây là những công nghệ liên doanh, kết hợp các loại máy móc khác nhau của nhiều quốc gia, thường thì các công nghệ này là các công nghệ đơn giản. Nhìn chung thực trạng công nghệ của các doanh nghiệp ở mức trung bình khá, ở một số khâu sản xuất đã áp dụng công nghệ mới, hiện đại…

Tuy nhiên, công nghệ sản xuất, thiết bị máy móc còn lạc hậu, nhất là trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp; đến nay chỉ có 4% công nghệ tự động, còn lại là bán thủ công (87%) và công nghệ thủ công (9%).

b) Công tác bảo vệ môi trường công nghiệp

Thực hiện quy định của Luật Bảo vệ môi trường, phần lớn các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã thực hiện đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường theo quy định. Công tác giám sát môi trường trong sản xuất đã được quan tâm thực hiện. Một số khu, cụm công nghiệp đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải chung; các doanh nghiệp vừa và lớn đã quan tâm đến việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải riêng.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường trong sản xuất công nghiệp chưa được quan tâm đúng mức, việc kiểm soát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường chưa hiệu quả, nhất là sau sự cố môi trường do Công ty FHS gây ra. Hầu hết các khu, cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải13. Phần lớn cơ sở sản xuất công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải, khí thải, thu gom, vận chuyển chất thải rắn theo quy định, đặc biệt là đối với chất thải nguy hại; một số cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước, ứ đọng chất thải rắn, thải khí độc hại nhưng chưa được xử lý có hiệu quả14.

5. Công tác quản lý nhà nước về công nghiệp

a) Các cơ chế, chính sách đã ban hành

Ngoài việc áp dụng thực hiện các cơ chế, chính sách của Trung ương về đầu tư, tài chính, tín dụng, đất đai...; HĐND, UBND tỉnh đã ban hành một số quy hoạch, cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp vừa đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật và yêu cầu hội nhập quốc tế, vừa phát huy hiệu quả trong thực tiễn, tác động tích cực thúc đẩy công nghiệp phát triển, điển hình như quy định về hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ lãi suất; đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; ban hành các quy hoạch: phát triển công nghiệp, cụm công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ; chế biến lâm sản…

Tuy nhiên, một số cơ chế, chính sách nhìn chung còn thiếu ổn định, nhất là cơ chế, chính sách đối với phát triển khu kinh tế cửa khẩu. Chính sách ưu đãi thu hút đầu tư, nhất là ưu đãi đầu tư về hạ tầng chưa phát huy hiệu quả và còn một số bất cập do thiếu vốn, nên nhiều khu, cụm công nghiệp chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ về hạ tầng giao thông, môi trường, hệ thống phân phối điện, nước… Các công trình hạ tầng chưa được nâng cấp hoặc xây dựng mới kịp thời dẫn đến hạn chế trong thu hút các dự án đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp.

b) Nguồn lực lao động quản lý

Công tác quản lý nhà nước về công nghiệp được nâng cao, mang lại hiệu quả thiết thực. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được quan tâm, nhất là quy hoạch các khu, cụm công nghiệp; nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư phát triển công nghiệp, quản lý chặt chẽ sử dụng đất đai, thẩm định công nghệ, bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, chủ đầu tư theo hướng đơn giản hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian làm thủ tục đầu tư dự án. Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành một cách đồng bộ của các cấp quản lý đến doanh nghiệp, chủ đầu tư để tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, những cơ chế chính sách không phù hợp; đồng thời tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đôn đốc các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng đất đã thuê, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp, chủ đầu tư.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về công nghiệp còn chồng chéo giữa các ngành, lĩnh vực như phát triển chế biến nông - lâm - thủy sản, phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn giữa ngành Công Thương và ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản giữa ngành Công Thương và ngành Tài nguyên và Môi trường; phát triển công nghiệp sản xuất VLXD giữa ngành Công Thương và ngành Xây dựng. Quản lý nhà nước về khu, cụm công nghiệp còn có nhiều bất cập, lúng túng trong quá trình thực hiện; việc ủy quyền cho Ban Quản lý khu kinh tế thực hiện chức năng, nhiệm vụ chuyên ngành về công nghiệp, xây dựng, thương mại, lao động, môi trường… đối với các hoạt động phát sinh trong khu kinh tế, khu công nghiệp chưa được thống nhất do pháp luật chuyên ngành thường xuyên thay đổi; mô hình quản lý CCN chưa đảm bảo theo quy định, thiếu sự thống nhất trên toàn tỉnh; còn có sự chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm. Sự phối hợp giữa các sở, ngành và địa phương đối với các khu, cụm công nghiệp chưa chặt chẽ; chế độ báo cáo của các doanh nghiệp chưa đảm bảo; việc tháo gỡ khó khăn, xử lý kiến nghị, đề xuất của các doanh nghiệp chưa kịp thời; một số doanh nghiệp vẫn còn nợ đọng thuế, tiền thuê đất...

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

1. Giá trị sản xuất công nghiệp

Trong giai đoạn 2011-2016, do khó khăn về hoạt động nên số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh không tăng; tuy vậy, việc nâng từ cơ sở sản xuất thành các doanh nghiệp đã được quan tâm, phát triển. Nếu năm 2010 toàn tỉnh có 14.560 cơ sở (trong đó có 364 doanh nghiệp) thì đến năm 2015 có 14.248 cơ sở (trong đó có 588 doanh nghiệp), đã góp phần vào sự gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) năm 2016 đạt 14.879,2 tỷ đồng, tăng gấp gần 3 lần so với năm 2010; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010-2015 đạt 19,56%/năm.



Cơ cấu nội ngành công nghiệp có bước chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp khai khoáng giảm (-1,72%/năm); công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì tăng trưởng khá và ổn định (bình quân 19,35%/năm), công nghiệp sản xuất phân phối điện có bước tăng trưởng đột biến (bình quân 82,64%/năm).

Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu được sản xuất ổn định như thủy sản đông lạnh, dăm gỗ, gạch xây dựng, đồ gỗ, nước uống v.v... Nhiều sản phẩm mới xuất hiện và chiếm tỷ trọng cao trong giá trị công nghiệp toàn tỉnh như điện sản xuất, bia, cọc sợi, tinh bột sắn, thép...

(Chi tiết số liệu có phụ lục kèm theo)

Tuy nhiên, giá trị sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng thiếu tính bền vững; tiểu thủ công nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng15. Sự liên kết trong phát triển vùng giữa công nghiệp của tỉnh với công nghiệp các tỉnh trong vùng, nhất là liên kết phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp còn hạn chế. Mặc dù các sản phẩm đa dạng và có một số sản phẩm công nghiệp đã tạo được uy tín cho người tiêu dùng, nhưng còn nhiều sản phẩm chưa nâng cao được chất lượng, đổi mới được kiểu dáng và khá nhiều trong số đó vẫn chưa có thương hiệu hoặc chưa đăng ký thương hiệu, gặp khó khăn khi cạnh tranh với các sản phẩm tương tự của các tỉnh khác16.



2. Thu hút đầu tư trong ngành công nghiệp

Mặc dù trong điều kiện khó khăn chung của cả nước nhưng Hà Tĩnh đã bố trí các nguồn vốn đầu tư phát triển, nhất là đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh và đảm bảo tiếp tục tạo động lực cho phát triển công nghiệp. Nhờ vậy, nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh nói chung và nguồn vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp tăng mạnh. Năm 2010, tổng vốn đầu tư phát triển cho ngành công nghiệp đạt 5,16 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 29,04% tổng vốn xã hội thì đến năm 2015 đạt 69,55 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 13,5 lần so với năm 2010 và chiếm khoảng 78,76% tổng vốn đầu tư xã hội. Bên cạnh đó, các hoạt động xúc tiến đầu tư, cải cách hành chính, đặc biệt là các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được coi trọng nhằm tạo môi trường đầu tư thật sự thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước; đến nay, toàn tỉnh đã thu hút được 662 dự án đăng ký đầu tư17; trong đó ngành công nghiệp đã thu hút được 280 dự án đầu tư18, chiếm 42,3% tổng dự án đăng ký đầu tư toàn tỉnh.

Mặc dù nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp lớn nhưng chất lượng của các dự án đầu tư chưa cao; phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn của các dự án lớn như dự án Formosa Hà Tĩnh, dự án nhiệt điện Vũng Áng I… Hầu hết các cơ sở công nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực tài chính yếu; máy móc thiết bị chủ yếu ở mức bán tự động19; năng suất, chất lượng chưa và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế thấp. Số lượng các dự án đăng ký đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp tăng khá nhưng tiến độ bị kéo dài, hoặc đã đi vào hoạt động sản xuất cầm chừng, hoặc chưa triển khai; một số dự án bị dừng sản xuất hoặc chuyển đổi cũng làm giảm hiệu quả đầu đầu tư20.

3. Đóng góp của ngành công nghiệp đối với phát triển kinh tế xã hội

- Về cơ cấu kinh tế: Với tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh bình quân giai đoạn 2010 - 2016 là 11,52%, trong đó giá trị gia tăng ngành công nghiệp tăng mạnh với tốc độ bình quân đạt 32,55%/năm, đưa tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp trong cơ cấu GRDP của tỉnh từ 5,65% năm 2010 lên 15,94% vào năm 2016. Mặc dù vậy, đóng góp của ngành công nghiệp vào GRDP chưa đủ sức để trở thành khâu đột phá thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách toàn diện.



- Về kim ngạch xuất nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu tăng đột biến, từ 73,51 triệu USD năm 2010 lên 2.119,68 triệu USD năm 2015 và giảm xuống còn 826,16 triệu USD năm 2016; trong đó riêng nhập khẩu máy móc thiết bị chiếm 28,55% năm 2010 lên 92,19% năm 2015 và xuống còn 58,84% năm 2016. Các mặt hàng xuất khẩu hầu hết là sản phẩm công nghiệp như chè đen, tinh bột sắn, dăm gỗ, gỗ các loại, sắt thép các loại, các loại quặng khoáng sản... với tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2010-2016 là 780,84 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân 12,44%/năm; giá trị xuất khẩu năm 2016 gấp 2 lần so với năm 201021. Tuy nhiên, xuất khẩu sản phẩm còn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu dăm gỗ22, bên cạnh đó việc phát triển logistics chưa tương xứng với tiềm năng; các doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn trong tìm hiểu thị trường, đàm phán với các đối tác nước ngoài nên công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường xuất khẩu còn hạn chế, nhỏ lẻ, hiệu quả chưa cao

- Về chuyển dịch cơ cấu lao động: Phát triển công nghiệp góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm lao động khu vực nông nghiệp, tăng lao động khu vực công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, riêng ngành công nghiệp giai đoạn 2010-2015 tăng bình quân 6,74%/năm (khoảng 2.500 lao động/năm), đưa lực lượng lao động công nghiệp từ 39.146 người vào năm 2010 lên 54.245 người vào năm 2015. Tuy nhiên, nguồn nhân lực của tỉnh cho phát triển công nghiệp còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất, nhất là nguồn nhân lực có trình độ quản lý hoặc trình độ kỹ thuật chuyên môn cao.

- Về thu ngân sách tỉnh: Thu ngân sách từ ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 70-80%) trong tổng thu ngân sách của tỉnh, nhất là thu từ khu công nghiệp, khu kinh tế trong tỉnh. Tuy nhiên, thu từ ngành công nghiệp trong thời gian vừa qua còn phụ thuộc nhiều vào thu thuế GTGT nhập khẩu, thuế GTGT nhà thầu của các dự án lớn, trong điểm như dự án Formosa, Nhà máy Bia Sài Gòn - Hà Tĩnh, các dự án khai thác tài nguyên, khoáng sản...

Phần II

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNGNGHIỆP ĐẾN NĂM 2025 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
I. QUAN ĐIỂM

- Phát triển công nghiệp là nhiệm vụ trung tâm trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; là cơ sở, động lực để phát triển của các ngành kinh tế khác. Kết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp với đảm bảo quốc phòng, an ninh và giải quyết các vấn đề xã hội.

- Phát triển công nghiệp phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; phải đặt trong mối quan hệ tổng thể và phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển công nghiệp vùng, công nghiệp cả nước và các quy hoạch ngành, lĩnh vực khác trên địa bàn.

- Phát triển công nghiệp theo hướng ưu tiên công nghệ hiện đại, tiên tiến, bảo đảm tính bền vững, gắn với bảo vệ môi trường; đồng thời, gắn với phát triển thương mại, dịch vụ và nền nông nghiệp công nghệ cao, quy mô lớn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

II. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu chung

Huy động các nguồn lực đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng để phát triển công nghiệp; ưu tiên xã hội hóa đầu tư hoàn thiện hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Xây dựng Khu kinh tế Vũng Áng trở thành khu kinh tế động lực tầm cỡ quốc gia, quốc tế; là hạt nhân trong phát triển công nghiệp của tỉnh và khu vực. Chú trọng phát triển ngành công nghiệp luyện kim và sản xuất điện năng; phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến, chế tạo sản phẩm sau thép, công nghiệp sản xuất bia, dệt may, chế biến nông - lâm - thủy sản; phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống.

2. Mục tiêu cụ thể

- Giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 85.000 - 90.000 tỷ đồng (giá so sánh 2010) với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 22%/năm; giá trị tăng thêm đạt khoảng 26.000 - 28.000 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 20%/năm. Giải quyết việc làm cho khoảng 70.000 - 75.000 lao động.

- Hình thành một số ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh, tập trung vào các ngành cơ khí, chế tạo, dệt - may, điện tử, chế biến lâm sản.

- Thu ngân sách từ sản xuất công nghiệp đạt khoảng 6.000 - 7.000 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp phấn đấu đạt trên 2 tỷ USD với các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu như sắt, thép, gỗ MDF, gỗ OKAL, dệt may...

- Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt trên 19.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10 - 12%; tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp đạt trên 70% và các cụm công nghiệp đạt trên 85%.

- Huy động các nguồn lực từng bước đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, trong đó ưu tiên hạ tầng giao thông và hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

- Đào tạo nguồn nhân lực quản lý, lao động kỷ thuật đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.



tải về 128.38 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương