Ủy ban nhân dân tỉnh hà TĨnh cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam


Sản phẩm từ khai thác khoáng sản



tải về 128.38 Kb.
trang2/5
Chuyển đổi dữ liệu13.11.2017
Kích128.38 Kb.
#1675
1   2   3   4   5

1.6. Sản phẩm từ khai thác khoáng sản

a) Tình hình chung

Tính đến tháng 7 năm 2017, trên địa bàn tỉnh có 83 đơn vị đang khai thác và chế biến khoáng sản tại 89 mỏ, gồm: Vật liệu xây dựng 80 giấy phép (đá xây dựng 53 giấy phép, đất san lấp 12 giấy phép, sét gạch ngói 06 giấy phép và cát xây dựng 09 giấy phép); khoáng sản kim loại 06 giấy phép (Ilmenite 04 giấy phép, sắt 02 giấy phép); sericit 01 giấy phép, nước khoáng nóng 01 giấy phép và thạch anh sạch 01 giấy phép. Năm 2016, sản lượng khai thác, chế biến các loại khoáng sản gồm: Đá xây dựng các loại 982.814 m3; đất san lấp 87.985 m3; cát xây dựng 36.680 m3; ilmenite 36.240 tấn; serixit 16.500 tấn; thạch anh sạch 47.487 tấn với giá trị sản xuất công nghiệp năm 2016 đạt 577 tỷ đồng; tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hơn 1.200 lao động.

Dự án khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê: là dự án trọng điểm quốc gia, đã được triển khai bóc đất tầng phủ từ năm 2007. Tuy nhiên do quá trình triển khai dự án có nhiều khó khăn, bất cập; thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 164/TB-VPCP ngày 11/7/2011, Công ty CP Sắt Thạch Khê dừng dự án để tái cơ cấu cổ đông, lập và phê duyệt dự án điều chỉnh… Đến tháng 5 năm 2016, sau khi hoàn thiện các thủ tục đầu tư theo quy định, Công ty CP Sắt Thạch Khê đã có Văn bản đề nghị cho phép khởi động lại dự án; tuy nhiên, sau quá trình xem xét, đánh giá những lợi ích trước mắt và lâu dài, tỉnh Hà Tĩnh đã có Văn bản đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ xem xét cho phép tạm dừng việc khởi động lại dự án và xem xét, xử lý các hệ lụy của dự án đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo tại Thông báo số 447/TB-VPCP ngày 21/9/2017, trong đó giao các bộ ngành liên quan và UBND tỉnh nghiên cứu các phương án đề xuất đối với dự án.

b) Ưu điểm: Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đã góp phần đáp ứng nhu cầu nguyên liệu, vật liệu xây dựng và nguồn thu cho ngân sách tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp của lĩnh vực khai thác khoáng sản có xu hướng giảm (-1,72%/năm), từ chiếm tỷ trọng 12,75% năm 2010 xuống còn 3,86% năm 2016 là phù hợp với xu thế phát triển công nghiệp. Một số dự án chế biến khoáng sản đã sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình khai thác, chế biến khoáng sản để nâng cao hiệu suất và chất lượng sản phẩm, hạn chế ô nhiễm môi trường. Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm như có trang thiết bị phòng chống cháy nổ; coi trọng vấn đề an toàn trong quy trình khai thác, nhất là khi tiến hành nổ mìn; trang thiết bị, quần áo lao động, mũ bảo hiểm, găng tay, giày, ủng cho công nhân khai thác, cán bộ kỹ thuật, quản lý làm việc tại khai trường được trang bị.

c) Tồn tại hạn chế: Thời gian gần đây, do nhu cầu sử dụng khoáng sản làm VLXD thông thường ở một số địa phương giảm mạnh, nhất là địa bàn huyện Kỳ Anh và thị xã Kỳ Anh, dẫn đến tình trạng tồn đọng hàng hóa tại các mỏ khoáng sản, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được, do vậy, hầu hết các doanh nghiệp khai thác khoáng sản đã dừng hoặc tạm dừng hoạt động. Tình trạng công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản còn lạc hậu đã dẫn đến nhiều hệ lụy, như gây ô nhiễm môi trường, mất an toàn lao động, năng suất lao động thấp, hiệu quả thu hồi sản phẩm thấp, thất thoát tài nguyên, v.v… Một số vấn đề về môi trường vẫn chưa được khắc phục như bụi, tiếng ồn trong quá trình khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản; một số mỏ chưa làm tốt công tác hoàn thổ, phục hồi môi trường sau khai thác. Công tác đóng cửa mỏ chưa được quan tâm đúng mức nên đến nay có 61 mỏ chưa lập hồ sơ đóng cửa mỏ theo quy định; hoạt động khai thác trái phép cát, sỏi ở một số nơi trên các lưu vực sông đã gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.



1.7. Các sản phẩm vật liệu xây dựng

a) Các sản phẩm vật liệu xây dựng trên địa bàn gồm gạch, ngói, bê tông, tấm lợp…, trong đó có 25 nhà máy sản xuất tuynel với sản phẩm gạch, ngói nung tăng từ 236,46 triệu viên năm 2011 lên 249,56 triệu viên năm 2016; sản lượng vật liệu xây dựng không nung năm 2016 đạt khoảng 80 - 100 triệu viên/năm; các dự án sản xuất bê tông, trạm trộn bê tông đã được quan tâm đầu tư nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng trong thời gian vừa qua, nhất là phục vụ dự án FHS Hà Tĩnh.

b) Ưu điểm: Góp phần thực hiện Chiến lược phát triển VLXD không nung trên địa bàn tỉnh; khai thác thế mạnh của tỉnh về nguồn tài nguyên khoáng sản làm VLXD và nguồn lao động tại chỗ như đá, cát, sỏi, tro, xỉ nhiệt điện; đưa công nghệ tiên tiến vào sản xuất VLXD; gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tăng thu ngân sách.

c) Tồn tại, hạn chế: Trong thời gian vừa qua, UBND tỉnh đã chấp thuận 18 dự án VLXD không nung với tổng công suất 608 triệu viên/năm, cùng với các nhà máy sản xuất gạch tuynel thì tổng công suất hiện tại của các nhà máy đạt khoảng 1-1,1 tỷ viên/năm và đã vượt cầu (800-900 triệu viên/năm) theo dự báo đến năm 2020. Công nghệ sản xuất chưa được cải tiến nhiều, nhu cầu tiêu thụ VLXD không nung trong nhân dân còn hạn chế.



1.8. Một số sản phẩm khác

a) Các sản phẩm từ nông sản như Xay xát lúa, gạo, ngô, chế biến sản phẩm từ gạo, ngô: Toàn tỉnh có hơn 2.700 cơ sở chế biến xay xát lúa, gạo ngô, phân bố khắp toàn tỉnh, tập trung nhiều ở các huyện thuộc vùng đồng bằng, như Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Hương Khê; có 759 cơ sở chế biến bún, bánh tráng, miến, phân bố rải rác khắp các địa phương, tập trung nhiều ở TP Hà Tĩnh (185 cơ sở), Hương khê (113 cơ sở) và có 37 cơ sở sản xuất đậu phụ, 125 cơ sở sản xuất kẹo lạc, cuđơ… đã đáp ứng nhu cầu của người dân.

b) Chế biến, bảo quản các sản phẩm từ biển: Hiện có 290 cơ sở chế biến bảo quản thủy sản, phân bố chủ yếu ở các huyện ven biển Kỳ Anh, Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà, ngoài 2 doanh nghiệp có quy mô vừa5 đầu tư máy móc, thiết bị và sử dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất; còn lại quy mô nhỏ, chủ yếu là hộ gia đình, giải quyết việc làm cho 2.000 lao động thường xuyên. Tuy nhiên, do sự cố môi trường biển năm 2016 đã ảnh hưởng lớn đến phát triển công nghiệp chế biến thủy sản cũng như các sản phẩm muối trên địa bàn.

c) Các ngành nghề khác: Hà Tĩnh còn nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khác như các nghề đan lát, chiếu cói, thủ công mỹ nghệ, nghề đóng tàu thuyền, ép dầu lạc, sản xuất hương…, mặc dù phát triển chưa tương xứng với tiềm năng song đã giải quyết việc làm cho một bộ phận nông dân trong thời gian nông nhàn.

2. Thực trạng các khu, cụm công nghiệp, làng nghề

2.1. Phát triển công nghiệp trong khu kinh tế, khu công nghiệp

a) Tình hình chung



- Các Khu kinh tế được Thủ tướng Chính phủ thành lập, gồm:

+ Khu kinh tế Vũng Áng được thành lập theo Quyết định số 72/2006/QĐ-TTg ngày 03/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích 22.781ha. Được xác định là một trong những khu kinh tế ven biển trọng điểm của cả nước, được Chính phủ ưu tiên nguồn vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách nhà nước giai đoạn 2013-2020. Quy hoạch tổng diện tích đất cho xây dựng cảng và phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đến năm 2025 là 3.690 ha. Hiện nay, có 77 dự án đầu tư lĩnh vực công nghiệp (49 dự án trong nước và 28 dự án nước ngoài) với tổng mức đăng ký đầu tư là 37.357 tỷ đồng và 10,96 tỷ USD, tập trung vào các lĩnh vực như công nghiệp luyện cán thép, cảng biển, điện năng, công nghiệp hậu thép; sản xuất, phân phối xăng dầu, khí công nghiệp, logistics… và nhiều nhà đầu tư lớn trong nước và ngoài nước như CHLB Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản… sang khảo sát, làm việc và tìm hiểu cơ hội đầu tư.

+ Khu Kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo được thành lập và hoạt động theo Quyết định số 162/2007/QĐ-TTg ngày 19/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích tự nhiên 56.000 ha, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng phía Tây của tỉnh; trở thành trung tâm giao lưu kinh tế, thương mại với các tỉnh Bôlykhămxay và một số tỉnh khác của nước bạn Lào; trở thành đầu mối xuất, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ vào thị trường các tỉnh Trung, Bắc Lào, vùng Đông Bắc Thái Lan và Myanma; là địa điểm thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào đầu tư, phát triển sản xuất, chế biến hàng hoá. Hiện nay, có 132 doanh nghiệp, 1.951 hộ đăng ký kinh doanh hoạt động và có 30 dự án trong nước đầu tư với tổng vốn đăng ký là 2.534,7 tỷ đồng.

- Các Khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, gồm:

+ KCN Vũng Áng I được Thủ tướng Chính phủ thành lập và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỷ thuật tại Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 16/7/2002 với diện tích 116 ha, trong đó có 80 ha đất công nghiệp. Tổng mức đầu tư hạ tầng kỹ thuật là 154,1 tỷ đồng, đến nay đã đầu tư 83 tỷ đồng tập trung vào các công trình như san lấp mặt bằng, đường giao thông, hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống điện, điện chiếu sáng… đã đáp ứng cơ bản yêu cầu của nhà đầu tư. Hiện nay, KCN có 20 dự án đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký là 995,3 tỷ đồng (09 dự án đầu tư trong nước với số vốn đăng ký là 301,6 tỷ đồng và 11 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký là 693,7 tỷ đồng); tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê là 47,66ha, với tỷ lệ lấp đầy đạt 59,58%.

+ KCN Gia Lách thuộc Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 và được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết với diện tích 100 ha tại huyện Nghi Xuân, trong đó đất công nghiệp đất công nghiệp là 64,56 ha, với các ngành công nghiệp ưu tiên thu hút là: sản xuất vật liệu xây dựng; Sản phẩm chế biến từ nông nghiệp và chăn nuôi; Sản phẩm công nghiệp theo hướng công nghệ cao; lắp ráp cơ khí, chế tạo phụ tùng, điện, điện tử. Dự án đầu tư hạ tầng KCN có tổng mức đầu tư là 455,851 tỷ đồng, trong đó đã thực hiện đầu tư 51,27 tỷ đồng, tập trung vào đường giao thông nội bộ. Tính đến thời điểm này, có 6 dự án đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký đầu tư 827,18 tỷ đồng và sử dụng khoảng 14,5 ha đất với tỷ lệ lấp đầy là 22,46%; trong đó có 04 dự án đã đi vào hoạt động giải quyết việc làm cho gần 1000 lao động.

+ KCN Hạ Vàng thuộc Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 và được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết tại Quyết định số 244/QĐ-UBND ngày 29/01/2008, với diện tích 207 ha, trong đó đất công nghiệp là 122,16 ha; các lĩnh vực ưu tiên kêu gọi đầu tư gồm: xây dựng cơ sở hạ tầng KCN; chế biến nông lâm, thuỷ sản; lắp ráp, cơ khí, chế tạo phụ tùng, điện, điện tử; vật liệu xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng, đồ gia dụng. Trong KCN đã đầu tư dở dang dự án đường trục ngang trung tâm với chiều dài 1,19km nhưng tạm dừng từ năm 2012 do không có nguồn vốn đầu tư. Trong KCN có 01 dự án đăng ký đầu tư là Nhà máy gạch ngói Viglacera Can Lộc với tổng vốn đăng ký là 86 tỷ đồng và sử dụng 8,16 ha đất; nhưng đến nay dự án vẫn chưa triển khai.



- Các Khu công nghiệp do UBND tỉnh phê duyệt, gồm:

+ KCN - Dịch vụ phụ trợ phía Tây Nam đường tránh Quốc lộ 1A thuộc Khu kinh tế Vũng Áng được UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 tại Quyết định số 195/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 với tổng diện tích là 1.663,65ha, trong đó có 03 khu chức năng chính: KCN phụ trợ với diện tích khoảng 478,49ha; Khu dịch vụ và chức năng hỗn hợp với diện tích 193,81ha; Khu trang trại và cây xanh khoảng 487,01ha.

+ KCN Phú Vinh thuộc Khu kinh tế Vũng Áng do Công ty TNHH Đầu tư xây dựng hạ tầng Phú Vinh (nhà đầu tư nước ngoài) làm chủ đầu tư được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch phân khu xây dựng, tỷ lệ 1/2000 tại Quyết định số 2154/QĐ-UBND ngày 04/8/2016 với tổng diện tích khoảng 207,67ha, trong đó đất công nghiệp là 140,05ha, tổng mức đầu tư khoảng 23,9 triệu USD. Chủ đầu tư đã triển khai thực hiện cơ bản hoàn thành hệ thống hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu cho các nhà đầu tư thứ cấp; đến nay đã kêu gọi được 04 nhà đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 23,31 triệu USD, tỷ lệ lấp đầy khoảng 10%.

+ KCN Hoành Sơn thuộc Khu kinh tế Vũng Áng do Công ty TNHH Thương mại, Dịch vụ Hoành Sơn làm chủ đầu tư với tổng số vốn đăng ký 293,2 tỷ đồng. Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 được BQL Khu kinh tế tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 327/QĐ-KKT ngày 15/11/2013 với diện tích 42,83ha, trong đó đất công nghiệp là 32,84ha. Hiện nay nhà đầu tư đã triển khai thực hiện san nền đạt 60% khối lượng đối với diện tích đã được cho thuê và một phần tuyến giao thông nội bộ. Do chưa đáp ứng yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật nên chưa có nhà đầu tư thứ cấp.

+ KCN phụ trợ tại khu vực cạnh hồ Mộc Hương được UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 tại Quyết định số 2429/QĐ-UBND ngày 30/8/2016 với tổng diện tích 300ha; trong đó có 50ha được giao cho Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Lợi Châu (nhà đầu tư nước ngoài) xây dựng và kinh doanh hạ tầng CCN Kỳ Hưng.

+ KCN Đại Kim thuộc Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo, với diện tích 49,75 ha, trong đó đất công nghiệp là 18,79 ha được bố trí xây dựng các cơ sở sản xuất ít ảnh hưởng đến môi trường gồm: Khu vực lắp ráp ô tô (7,2ha); khu vực lắp ráp xe máy, xe đạp điện (2,3ha) và khu vực sản xuất, lắp ráp điện, điện tử, điện lạnh (9,29ha). Dự án đầu tư hạ tầng được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2480/QĐ-UBND ngày 12/08/2009 và điều chỉnh tại Quyết định số 2117/QĐ-UBND ngày 22/7/2010 với tổng mức đầu tư là 124,123 tỷ đồng; đến nay, hạ tầng kỹ thuật về cơ bản đáp ứng được việc thu hút các dự án đầu tư. Đến nay, đã thu hút có 05 dự án đăng ký đầu tư với tổng mức đầu tư là 774,76 tỷ đồng, sử dụng diện tích khoảng 15,06ha với tỷ lệ lấp đầy 80,16%; tuy nhiên đến nay, chưa có dự án nào đi vào sản xuất kinh doanh.

+ Khu Công nghệ thông tin tập trung Hà Tĩnh nằm tại xã Thạch Hạ, thành phố Hà Tĩnh được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết tại Quyết định số 714/QĐ-UBND ngày 20/3/2013 do Sở Thông tin và Truyền thông làm chủ đầu tư với diện tích 10,38ha. Các lĩnh vực ưu tiên kêu gọi đầu tư gồm: xây dựng cơ sở hạ tầng; sản xuất gia công phần mềm; lắp ráp sản xuất phần cứng; đào tạo và chuyển giao công nghệ. Dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật Khu CNTT tập trung (giai đoạn 1) đã được phê duyệt tại Quyết định số 1578/QĐ-UBND ngày 04/5/2015 của UBND tỉnh với tổng mức đầu tư 116,56 tỷ đồng; đến nay mới chỉ thực hiện việc rà phá bom mìn và cắm mốc ranh giới quy hoạch.

b) Ưu điểm:

Phát triển công nghiệp trong khu kinh tế, khu công nghiệp đang dần thể hiện được vai trò đầu tàu thúc đẩy sự phát triển công nghiệp của tỉnh nhà, trên các phương diện:

- Về thu hút đầu tư: Giai đoạn trước năm 2010 chỉ thu hút được 12 dự án sản xuất công nghiệp (09 dự án trong nước và 03 dự án nước ngoài), nhưng giai đoạn 2010-2016 đã thu hút được 65 dự án đầu tư (40 dự án trong nước và 25 dự án nước ngoài), tăng 5,4 lần.

- Về thu ngân sách: Nếu năm 2010 tổng thu ngân sách tại khu kinh tế, khu công nghiệp mới đạt 719 tỷ đồng thì đến năm 2014 tổng thu ngân sách tăng lên 8.027 tỷ đồng, chiếm 63,8% tổng thu ngân sách và năm 2015 thu ngân sách 7.470 tỷ đồng, chiếm 62% tổng thu ngân sách của tỉnh.

- Về giải quyết việc làm: Đến tháng 6/2017 tại các khu kinh tế, khu công nghiệp đã có hơn 12.000 lao động, trong đó có gần 7.000 lao động người Hà Tĩnh, với thu nhập bình quân 6,8 triệu đồng/người/tháng; ngoài ra còn một số lượng lớn lao động làm việc thời vụ tại các khu kinh tế, khu công nghiệp.

- Cùng với sự phát triển công nghiệp, hoạt động của các khu kinh tế, khu công nghiệp đã thúc đẩy phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của từng địa phương có khu kinh tế, khu công nghiệp

c) Tồn tại, hạn chế:

- Sự liên kết trong phát triển vùng giữa công nghiệp của tỉnh với công nghiệp các tỉnh trong vùng còn hạn chế, nhất là phát triển công nghiệp trong các khu kinh tế, khu công nghiệp.

- Hiện nay, hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển công nghiệp trong các khu kinh tế, khu công nghiệp chưa đồng bộ, nhất là thiếu hệ thống xử lý nước thải tập trung do nguồn vốn chủ yếu dựa vào ngân sách trung ương. Hạ tầng khu công nghệ thông tin chưa được đầu tư; công tác thu hút các dự án đầu tư, sản xuất, lắp ráp phần mềm còn hạn chế.

- Thu hút đầu tư vào khu kinh tế cửa khẩu còn gặp nhiều khó khăn; chưa có chính sách ưu đãi đột phá và thiếu sự ổn định trong các cơ chế, chính sách tài chính đã ban hành.

- Công tác bảo vệ môi trường trong khu kinh tế, khu công nghiệp còn hạn chế; phần lớn cơ sở sản xuất công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải, khí thải, thu gom, vận chuyển chất thải rắn theo quy định, đặc biệt là đối với chất thải nguy hại.

- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội để đảm bảo cuộc sống người lao động trong khu kinh tế, khu công nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu; liên kết giữa các doanh nghiệp trong khu kinh tế, khu công nghiệp và liên kết giữa các khu kinh tế, khu công nghiệp với nhau để tạo nên cụm sản xuất quy mô lớn, nâng cao giá trị gia tăng còn yếu

2.2. Phát triển các cụm công nghiệp

a) Tình hình chung

Toàn tỉnh có 22 CCN đã được thành lập, quy hoạch chi tiết với tổng diện tích là 572 ha; tính đến hết năm 2016, nguồn vốn đầu tư cho CCN là 747,7 tỷ đồng6 tập trung đầu tư cho các hạng mục như: giải phóng mặt bằng, đường giao thông nội cụm, mương thoát nước, hệ thống điện, hệ thống xử lý nước thải...

Đến nay, 17 CCN có dự án hoạt động với 238 dự án đăng ký, trong đó có 137 dự án đã đi vào hoạt động với tổng số vốn là 4.697 tỷ đồng, góp phần đưa tỷ lệ lấp đầy các CCN đã đi vào hoạt động đạt 56,48%; giải quyết việc việc làm cho hơn 3.100 lao động, giá trị SXCN tại các CCN đạt trên 3.000 tỷ đồng/năm.



Tình hình các Cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến tháng 8/2017


TT

Cụm công nghiệp

Chủ đầu tư

Diện tích (ha)

Tỷ lệ lấp đầy (%)

Ghi chú

Quy
hoạch


Đất CN



Đất CN
đã cho thuê


I

DO DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ 

1

CCN Thái Yên- Mở rộng

Công ty CP IDI

20,75

13,00

13,00

100,00

Phần mở rộng giao cho Cty IDI chưa có dự án thứ cấp

2

CCN Yên Huy

Công ty TNHH Yên Huy

12,00

12,00

12,00

100,00

 

3

Cụm CN SX, chế biến TĂCN, cung cấp giống bò sữa Sơn Lễ

Công ty CP Vinamilk

62,87

1,29

1,29

100,00

 

4

CCN Kỳ Hưng

Công ty CP TM và Đầu tư Lợi Châu

50,00

42,88

42,88

100,00

Chưa có dự án thứ cấp

II

DO BQL CỤM CÔNG NGHIỆP QUẢN LÝ 

1

CCN Thạch Kim

Lộc Hà

5,33

3,00

1,68

55,85

 

2

CCN Thạch Bằng

Lộc Hà

10,00

 

 

 

Công ty CP XNK Châu Tuấn đang tìm hiểu đầu tư

III

DO UBND CẤP HUYỆN QUẢN LÝ 

1

CCN Bắc Thạch Quý

UBND TP Hà Tĩnh

10,00

3,84

3,84

100,00

Thực tế chỉ bố trí được 5ha cho CCN

2

CCN Thạch Đồng

UBND TP Hà Tĩnh

4,52

3,28

0,90

27,44

 

3

CCN Trung Lương

UBND TX Hồng Lĩnh

26,47

14,78

4,29

29,03

 

4

CCN Nam Hồng

UBND TX Hồng Lĩnh

42,92

34,11

25,80

75,64

 

5

CCN Cổng Khánh 1

UBND TX Hồng Lĩnh

45,00

 

 

 

Công ty CP Garstar đang tìm hiểu

6

CCN Kỳ Ninh

UBND TX

Kỳ Anh


4,40

2,53

 

 

 

7

CCN huyện Đức Thọ

UBND huyện Đức Thọ

68,17

43,67

1,50

3,43

 

8

CCN Trường Sơn

UBND huyện Đức Thọ

4,20

2,65

0,92

34,70

 

9

CCN huyện Can Lộc

UBND huyện Can Lộc

24,41

18,19

12,46

68,48

 

10

CCN Phù Việt

UBND huyện Thạch Hà

39,52

27,78

10,01

36,03

 

11

CCN Bắc Cẩm Xuyên

UBND huyện Cẩm Xuyên

51,05

35,96

22,38

62,23

 

12

CCN Cẩm Nhượng

UBND huyện Cẩm Xuyên

5,00

 

 

 

 

13

CCN huyện Vũ Quang

UBND huyện Vũ Quang

42,17

23,19

18,00

77,62

 

14

CCN Gia Phố

UBND huyện Hương Khê

11,07

7,15

1,55

21,68

 

15

CCN Khe cò

UBND huyện Hương Sơn

18,23

12,40

1,24

10,00

 

16

CCN Xuân Lĩnh

UBND huyện Nghi Xuân

14,00

7,70

1,00

 12,99

Công ty TNHH Thanh Thành Đạt đang tim hiểu đầu tư

TỔNG CỘNG

572,07

309,41

174,74

56,48

 


tải về 128.38 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương