Ủy ban nhân dân tỉnh hà TĨnh cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 128.38 Kb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu13.11.2017
Kích128.38 Kb.
#1675
  1   2   3   4   5

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


DỰ THẢO

ĐỀ ÁN


Phát triển công nghiệp bền vững tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2025

và những năm tiếp theo
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII khẳng định Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XVII khẳng định “phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, gắn với nền nông nghiệp công nghệ cao, quy mô lớn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và xác định khâu đột phá trong nhiệm kỳ là “Đa dạng hoá huy động các nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; xây dựng Khu kinh tế Vũng Áng sớm trở thành khu kinh tế động lực tầm cỡ quốc gia, quốc tế; phát triển nhanh các ngành công nghiệp nặng, cơ khí, công nghiệp phục vụ nông nghiệp và công nghiệp hỗ trợ”.

Trong những năm qua, công nghiệp của tỉnh có bước phát triển khá, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân giai đoạn 2010 - 2016 đạt 19,56%/năm. Tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp trong GRDP của tỉnh tăng từ 5,65% năm 2010 lên 15,97% vào năm 2016. Kim ngạch xuất khẩu tăng cao, tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2010 - 2016 là 780,84 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân 12,44%/năm. Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch đáng kể, tốc độ tăng về số lượng lao động trong sản xuất công nghiệp giai đoạn 2010 - 2015 tăng bình quân 6,74%/năm, khoảng 2.500 lao động/năm, đưa lực lượng lao động công nghiệp từ 39.146 người vào năm 2010 lên 54.245 người vào năm 2015. Tuy vậy sự tăng trưởng nhìn chung chưa thực sự bền vững; chất lượng tăng trưởng thấp, tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, nguyên liệu đầu vào và nhân công lao động; hàm lượng khoa học công nghệ đóng góp vào giá trị tăng trưởng chưa nhiều. Công nghệ sản xuất, thiết bị máy móc còn lạc hậu, nhất là trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp; đến nay chỉ có 4% công nghệ tự động, còn lại là công nghệ bán thủ công (87%) và công nghệ thủ công (9%). Sản phẩm hàng hóa đơn điệu, chất lượng thấp, thương hiệu sản phẩm hàng hóa chưa có tính bền vững.

Các dự án công nghiệp trọng điểm như Dự án luyện thép của Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp FHS (sau đây gọi tắt là Công ty FHS) có tổng công suất 22,5 triệu tấn; các dự án nhiệt điện có tổng công suất 6.950 MW trong phạm vi không gian của Khu kinh tế Vũng Áng cần đánh giá khả năng chịu tải về môi trường để điều chỉnh quy mô phù hợp. Dự án khai thác và tuyển quặng sắt Thạch Khê là dự án trọng điểm quốc gia, khai thác nguồn tài nguyên lớn của đất nước là việc làm cần thiết, tuy nhiên thời điểm khai thác cần được xem xét hợp lý để phát huy tối đa về hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và đảm bảo an sinh xã hội của địa phương.

Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được thành lập và phát huy hiệu quả nhất định, song so với yêu cầu còn nhiều hạn chế, cần có giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả. Việc đầu tư hạ tầng, đặc biệt đầu tư khu xử lý chất thải tập trung tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn khó khăn, nên thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn thấp. Các khu công nghiệp nằm ngoài khu kinh tế như KCN Hạ Vàng, KCN Gia Lách số lượng doanh nghiệp đầu tư chưa nhiều. Đối với cụm công nghiệp, vẫn chủ yếu tập trung đầu tư tại các cụm công nghiệp làng nghề và các cụm công nghiệp có lợi thế kinh doanh và đã được Nhà nước đầu tư một phần hạ tầng thiết yếu, các cụm công nghiệp vùng sâu, vùng xa mức độ thu hút đầu tư rất khó khăn.



Vấn đề môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều dự án đầu tư đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, song trong quá trình thực hiện, việc kiểm tra, giám sát còn bất cập. Sự cố môi trường biển do Công ty FHS gây ra là một bài học lớn không chỉ đối với Hà Tĩnh mà còn đối với các địa phương khác trên cả nước. Công nghệ sản xuất lạc hậu, thiết bị cũ kỹ, công tác quản lý quy trình sản xuất chưa nghiêm ngặt, ảnh hưởng đến vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất chế biến nông lâm thủy hải sản, đặc biệt là sản xuất rượu thủ công…

Tăng trưởng gắn với phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và môi trường là mục tiêu quan trọng mà tỉnh Hà Tĩnh hướng tới. Phát triển công nghiệp dựa vào tiềm năng, lợi thế của tỉnh đã được khẳng định và triển khai thực hiện trên cơ sở các văn bản, nghị quyết quan trọng của Đảng bộ và chính quyền các cấp, song để phát huy tốt hơn nữa những lợi thế đó cần phải bổ sung, điều chỉnh một số cơ chế, chính sách và đưa ra một số giải pháp quan trọng.

Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05 Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế và cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh xây dựng Đề án Phát triển công nghiệp bền vững tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2025 và những năm tiếp theo nhằm sớm đưa Hà Tĩnh thành trung tâm công nghiệp của miền Trung như kỳ vọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà.

II. CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Văn bản của Trung ương

- Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 01/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

- Nghị quyết số 297/NQ-UBTVQH14 ngày 02/11/2016 của UBTV Quốc hội về nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học và công nghệ nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2015-2020, trong đó chú trọng đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo.

- Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp.

- Quyết định số 1114/QĐ-TTg ngày 09/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung đến năm 2020.

- Quyết định số 879/QĐ-TTg ngày 09/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

- Quyết định số 880/QĐ-TTg ngày 09/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

- Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ từ năm 2016 đến năm 2025.

- Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 02/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

- Thông tư 15/2017/TT-BCT ngày 31/8/2017 của Bộ Công Thương quy định, hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp.

- Một số chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng, luyện kim, điện lực... của cả nước.

2. Văn bản của tỉnh

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XVII, XVIII.

- Quyết định số 504/QĐ-UBND ngày 04/02/2015 của UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

- Niên giám thống kê 2014, 2015, 2016 của tỉnh; Các tài liệu quy hoạch chuyên ngành của tỉnh Hà Tĩnh.



Phần I

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP - TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2010 - 2016
I. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

1. Thực trạng sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh

1.1. Sản phẩm luyện kim, sắt, thép

a) Sản phẩm luyện kim, sắt, thép của tỉnh Hà Tĩnh gắn liền với việc hình thành, xây dựng Nhà máy liên hợp gang thép công suất giai đoạn 1 là 7,5 triệu tấn thép/năm của Công ty Formosa Hà Tĩnh. Đến nay, các hạng mục chính và phụ trợ giai đoạn 1 cơ bản hoàn thành và số vốn đầu tư đã thực hiện là 11,5 tỷ USD. Lò cao số 1 được vận hành thử nghiệm từ tháng 5/2017 đến nay đã sản xuất các sản phẩm như thép cuộn, thép thanh; lò cao số 2 dự kiến đi vào sản xuất trong tháng 3/2018. Các sản phẩm chính của dự án là sắt, thép và sản phẩm phụ trợ như than cốc, hắc ín, xỉ lò cao, dầu thô nhẹ…

Tính đến hết tháng 8/2017, đã sản xuất được 815.500 tấn thép cuộn; 87.700 tấn thép thanh, thép dây; 1.272.700 tấn than cốc và 159.100 tấn các sản phẩm phụ khác.

b) Ưu điểm: Dự án liên hợp gang thép của Công ty FHS là dự án lớn nhất từ trước tới nay trên lĩnh vực công nghiệp. Các sản phẩm của Công ty FHS là các sản phẩm mới, có chất lượng cao, đóng góp lớn vào sự gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh; giải quyết việc làm cho gần 7.500 lao động; nộp ngân sách nhà nước giai đoạn 2008-2016 là 884,251 triệu USD, tương đương khoảng 18.574 tỷ đồng; 8 tháng đầu năm 2017 đã nộp ngân sách nhà nước 88,342 triệu USD, tương đương 1.945 tỷ đồng. Sau khi xẩy ra sự cố môi trường biển, Công ty đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành trung ương và tỉnh Hà Tĩnh để khắc phục 52/53 lỗi vi phạm; lắp đặt trạm quan trắc nước thải tự động; xây dựng và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung với công suất 45.000m3/ngày đêm…

c) Tồn tại hạn chế: Tổng công suất của dự án lên đến 22,5 triệu tấn thép/năm, với quy mô lớn trong phạm vi không gian hẹp, cần được xem xét, điều chỉnh phù hợp hơn với khả năng chịu tải của môi trường. Thực tế, trong quá trình hoạt động, với việc vận hành thử nghiệm các tổ hợp nhà máy của Công ty FHS đã gây ra sự cố môi trường biển, gây thiệt hại lớn về kinh tế - xã hội của tỉnh nhà và nhiều hệ lụy về an sinh xã hội toàn khu vực; đây là một trong những nguyên nhân tạo nên sự tăng trưởng âm trong năm 2016. Năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước tại địa phương đối với các dự án lớn còn yếu, thiếu nguồn lực và kinh nghiệm.

1.2. Sản phẩm điện năng

a) Các dự án sản xuất điện



- Về các dự án nhiệt điện: Trong những năm qua, phát triển điện sản xuất đã được quan tâm đầu tư xây dựng, đến nay toàn tỉnh 03 nhà máy nhiệt điện đã xây dựng và đang triển khai, gồm:

+ Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I nằm tại Khu Kinh tế Vũng Áng, có 2 tổ máy phát công suất 2 x 622,5MW với tổng mức đầu tư 1,595 tỷ USD. Đây là một trong những dự án điện cấp bách được hưởng các cơ chế, chính sách đặc thù theo Quyết định số 1195/QĐ-TTg ngày 09/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Tổ máy số 1 được vận hành thương mại từ ngày 31/12/2014 và tổ máy số 2 được vận hành từ ngày 12/5/2015. Tuy nhiên, đến ngày 25/11/2015 Tổ máy số 1 bị sự cố phải dừng hoạt động đến quý III năm 2016 mới hoạt động trở lại, do vậy sản lượng điện sản xuất chưa ổn định; năm 2015 sản xuất được 4.130 triệu kWh, năm 2016 sản xuất được 3.190 triệu kWh và 8 tháng đầu năm 2017 sản xuất được 3.166 triệu kWh.

+ Dự án nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II do Công ty Cổ phần Nhiệt điện Vũng áng II (VAPCO) làm chủ đầu tư với công suất 2x600 MW, thực hiện theo hình thức BOT. Hiện nay, dự án đang hoàn thiện những bước đàm phán cuối cùng để khởi công vào cuối năm 2017 theo lộ trình. Việc dự án Nhiệt điện Vũng Áng II đi vào hoạt động cũng sẽ tạo ra giá trị điện thương phẩm và giá trị sản xuất xuất công nghiệp tương đương với Nhiệt điện Vũng Áng I.

+ Nhà máy Nhiệt điện FHS giai đoạn 1, gồm 05 tổ máy (03 tổ máy đốt than và 02 tổ máy đốt khí) với tổng công suất 650MW. Sản lượng phát ra chủ yếu sử dụng nội bộ dự án và doanh thu tính trong tổng thể của Formosa.



- Về các dự án thủy điện: Toàn tỉnh có 03 nhà máy thủy điện đang hoạt động, gồm:

+ Nhà máy Thủy điện Hố Hô có phần Nhà máy nằm ở xã Hương Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, phần đập của Nhà máy nằm trên địa bàn huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Nhà máy gồm 2 tổ máy phát công suất 2x7 MW với tổng mức đầu tư khoảng 260 tỷ đồng, được đưa vào vận hành năm 2012 và phát toàn bộ công suất lên lưới điện trung áp của tỉnh. Năm 2013 sản xuất được 118 triệu kWh, năm 2014 sản xuất được 85 triệu kWh, năm 2015 sản xuất được 82,8 triệu kWh và năm 2016 đã sản xuất được 125,69 triệu kWh.

+ Nhà máy Thủy điện Hương Sơn nằm tại xã Sơn Kim 1, huyện Hương Sơn, gồm 02 tổ máy phát công suất 2 x 16,5 MW, được đưa vào vận hành từ năm 2011 và phát toàn bộ lên lưới 110kV. Năm 2013 sản xuất được 34,4 triệu kWh, năm 2014 sản xuất được 19,9 triệu kWh, năm 2015 sản xuất được 22,8 triệu kWh và năm 2016 sản xuất được 39,3 triệu kWh.

- Nhà máy Thủy điện Kẻ Gỗ nằm tại xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, gồm 01 tổ máy phát công suất 3 MW được đưa vào vận hành năm 2012 và phát toàn bộ công suất lên lưới điện trung áp của tỉnh. Giai đoạn 2013-2016 sản xuất được 18,13 triệu kWh.



- Dự án điện mặt trời: Hiện nay, có 01 dự án Nhà máy điện mặt trời do Công ty CP Tập đoàn Hoành Sơn đang chuẩn bị đầu tư tại xã Cẩm Hòa, huyện Cẩm Xuyên với công suất 50 MW. Hiện nay Chủ đầu tư đang hoàn thiện các thủ tục cần thiết để thực hiện đầu tư. Việc đầu tư Nhà máy điện mặt trời góp phần cung cấp, bổ sung năng lượng cho nền kinh tế, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường.

Ngành Điện đã cung cấp điện ổn định cho sản xuất, sinh hoạt; giai đoạn 2010-2016 đã cấp điện thương phẩm cho nền kinh tế với tổng số 4.274 triệu kWh, tăng bình quân 13,25%/năm. Riêng lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, nhu cầu điện tăng từ 83,72 triệu kWh năm 2010 lên 225,63 triệu kWh năm 2015, tăng bình quân 22%/năm.

b) Ưu điểm: Sản xuất điện năng đã có sự đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; giá trị sản xuất tăng mạnh qua các năm; nếu năm 2013 lượng điện sản xuất chủ yếu từ các dự án thủy điện (Hố Hô, Hương Sơn, Kẻ gỗ) với sản lượng khoảng 157,4 triệu kWh, giá trị khoảng 77,8 tỷ đồng, thì đến năm 2016 giá trị sản xuất đạt 3.140 tỷ đồng, tăng gấp 40 lần so với năm 2013. Đồng thời việc đầu tư năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió… là phù hợp với xu thế phát triển và thân thiện với môi trường.

c) Tồn tại hạn chế: Các dự án nhiệt điện đều tiềm ẩn nhiều nguy cơ về môi trường. Nguồn nhiên liệu chủ yếu sử dụng than nên lượng chất thải bao gồm nước thải, khí thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại, bùn thải... thải ra môi trường lớn1, cần được xem xét, đánh giá về khả năng chịu tải của môi trường tại Khu kinh tế Vũng Áng và vùng phụ cận. Trong sản xuất thủy điện, sự phối hợp để điều tiết hồ chứa và sản xuất điện chưa nhịp nhàng, có lúc, có nơi còn gây ra lũ lụt cục bộ ảnh hưởng đến dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội.



1.3. Sản phẩm bia, rượu và nước giải khát

a) Toàn tỉnh có hơn 1.500 cơ sở sản xuất các sản phẩm bia, rượu, nước giải khát trên địa bàn; giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 đạt 138,85 tỷ đồng, đến năm 2016 tăng lên 627,6 tỷ đồng, cụ thể:

- Về sản xuất bia: Có 01 nhà máy sản xuất bia (Nhà máy Bia Sài gòn - Hà Tĩnh), trong giai đoạn 2010 - 2012 sản xuất bia tại Nhà máy cũ (TP Hà Tĩnh) với sản lượng năm 2010 là 13,05 triệu lít và giảm xuống còn 5,444 triệu lít vào năm 2012 do ảnh hưởng của lạm phát, giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao. Đến tháng 02/2013, Nhà máy Bia Sài Gòn - Hà Tĩnh mới được đưa vào sản xuất thương mại tại huyện Thạch Hà với công suất 50 triệu lít/năm, giai đoạn 2013-2016 đã cung cấp cho thị trường 188,03 triệu lít, với doanh thu hàng năm đạt khoảng 700 - 900 tỷ đồng; đóng nộp cho ngân sách nhà nước bình quân hàng năm hơn 400 tỷ đồng; giải quyết việc làm trực tiếp cho gần 150 lao động.

- Về sản xuất rượu: Có 03 nhà máy sản xuất rượu công nghiệp được Sở Công Thương cấp giấy phép với công suất 1,77 triệu lít/năm; tuy nhiên chỉ có 02 nhà máy sản xuất đang hoạt động2 với sản lượng năm 2016 đạt hơn16 nghìn lít rượu. Bên cạnh đó, có 11 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất được cấp giấy phép sản xuất rượu; tuy nhiên, đến cuối năm 2016 chỉ còn 04 doanh nghiệp đang hoạt động3, với sản lượng sản xuất năm 2016 đạt hơn 20.000 lít. Ngoài ra, toàn tỉnh có khoảng 2.600 hộ sản xuất rượu bằng phương pháp thủ công (tự nấu) trên tất cả các huyện, thị xã, thành phố, trong đó tập trung nhiều nhất các huyện Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê với sản lượng hàng năm đạt từ 4 - 6 triệu lít.

- Về Sản xuất nước giải khát: Có 01 đơn vị sản xuất nước khoáng là Công ty CP Nước khoáng và Du lịch Sơn Kim, sản lượng sản xuất năm 2010 đạt 9,12 triệu lít, tăng lên 12,22 triệu lít vào năm 2016 và hàng chục đơn vị sản xuất nước tinh khiết, nước lọc cung cấp hàng triệu lít cho người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh.

b) Ưu điểm: Sản phẩm bia, rượu và nước giải khát được đánh giá là một trong những lĩnh vực mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường về các sản phẩm bia, rượu, nước giải khát trên địa bàn. Sự gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm 35,2%; đóng góp ổn định ngân sách cho nhà nước hàng năm từ 400 -500 tỷ đồng và tạo việc làm ổn định cho hàng ngàn lao động có mức thu nhập cao trong tất cả các khâu sản xuất, cung ứng, phân phối, vận tải, nhờ vậy đã có tác động tích cực, góp phần thúc đẩy các ngành khác cùng phát triển, như: nông nghiệp, giao thông vận tải, cơ khí, hóa sinh, sản xuất bao bì....; công tác đổi mới công nghệ, thiết bị đã được quan tâm đầu tư nên một số sản phẩm về bia, rượu, nước giải khát đã được khẳng định trên thị trường4. Các doanh nghiệp lĩnh vực đã quan tâm đặc biệt và làm tốt công tác an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo tại các địa phương.

c) Tồn tại hạn chế: Các hộ sản xuất có quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, chủ yếu là lao động thủ công; chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm chưa được chú trọng, đảm bảo môi trường sản xuất còn hạn chế, nhất là các hộ sản xuất rượu thủ công; hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường chưa được chú trọng.

1.4. Sản phẩm từ chế biến lâm sản

a) Hà Tĩnh hiện có khoảng 2.800 cơ sở sản xuất chế biến đồ gỗ, bao gồm cưa xẻ, chế biến ván bóc, ván ép, ván sàn, ghép thanh, dăm gỗ, mộc dân dụng, văn phòng, đồ gỗ nội thất và gia công các sản phẩm từ gỗ phân bố hầu khắp địa bàn cả tỉnh, song tập trung chủ yếu tại các huyện miền núi và các làng nghề truyền thống như Thái Yên, Yên Huy, Trường Sơn... Sản lượng sản xuất các sản phẩm qua các năm cụ thể như sau:




Sản phẩm

Đơn vị

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Năm 2016

1. Gỗ xẻ các loại

1000m3

9,4

11

15

16

15

15

2. Bộ sa lông các loại

Bộ

649

580

329

302

397

440

3. Bàn làm việc

Cái

2.973

3.075

2.038

2.387

2.591

2.784

4. Tủ gỗ các loại

Cái

1.851

1.343

1.106

1.250

1.182

1.305

Để nâng cao hiệu quả từ việc chế biến sâu sản phẩm rừng trồng, tỉnh Hà Tĩnh đã quy hoạch và thu hút đầu tư Nhà máy sản xuất gỗ MDF/HDF của Công ty CP gỗ Thanh Thành Đạt tại CCN Vũ Quang với công suất 180.000m3/năm. Hiện nay, Công ty đang triển khai xây dựng cơ bản để có thể đi vào sản xuất năm 2019; đồng thời Công ty CP gỗ OKAL Thanh Thành Đạt đang hoàn thiện các thủ tục cần thiết để thực hiện chủ trương đầu tư dự án Nhà máy sản xuất gỗ OKAL/OSB tại Khu Kinh tế Vũng Áng với công suất 180.000m3/năm.

b) Ưu điểm: Ngành chế biến lâm sản đã có những đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của tỉnh; nếu năm 2011 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.311 tỷ đồng thì đến năm 2016 đạt 2.032 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 7,6%; giá trị xuất khẩu năm 2016 đạt khoảng gần 49 triệu USD; đặc biệt là giải quyết việc làm trực tiếp và gián tiếp cho hàng chục nghìn lao động trên địa bàn. Khi 02 dự án chế biến gỗ MDF/HDF, OKAL/OSB đi vào hoạt động sẽ giải quyết đầu ra cho hàng chục nghìn hecta rừng trồng của người dân trên địa bàn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương.

c) Tồn tại hạn chế: Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, nhất là tại các làng nghề truyền thống sử dụng gỗ rừng tự nhiên, không rõ nguồn gốc; cơ sở chế biến gỗ rừng trồng còn ít, sản phẩm chủ yếu qua chế biến thô, chưa sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, việc xuất khẩu sản phẩm lâm sản chủ yếu qua ủy thác, giá trị gia tăng sản phẩm hàng hóa chưa cao; sản phẩm thiếu sức cạnh tranh trên thị trường; chưa có sự gắn kết thực sự giữa người trồng nguyên liệu và cơ sở chế biến; công nghệ chế biến chậm đổi mới, thiết bị còn lạc hậu. Phần lớn người lao động chưa qua đào tạo, chủ yếu trưởng thành từ truyền nghề.

1.5. Sản phẩm dệt, may

a) Toàn tỉnh có hơn 1.100 cơ sở sản xuất dệt, may, đã tạo việc làm thường xuyên cho hơn 2.000 lao động, trong đó tập trung chủ yếu tại thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 đạt 140 tỷ đồng, đến năm 2016 đạt 625 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2016 là 35%/năm; kim ngạch xuất khẩu năm 2011 mới đạt gần 1 triệu USD thì đến năm 2016 đạt 23,3 triệu USD. Cụ thể:

- Sản phẩm sợi gắn liền với việc đầu tư và phát triển Nhà máy Sợi Vinatex - Hồng Lĩnh tại CCN Nam Hồng, thị xã Hồng Lĩnh. Nhà máy hoàn thành và đi vào sản xuất từ năm 2013 với công suất 42.000 cọc sợi/năm, tương đương sản lượng đạt khoảng 4.000 tấn sợi/năm. Giai đoạn 2013-2016 sản xuất được 13.560 tấn sợi với doanh thu đạt khoảng 1.050 tỷ đồng; giải quyết việc làm cho gần 400 lao động.

- Sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất trên địa bàn, ngoài Công ty CP May Hà Tĩnh may quần áo chủ yếu xuất khẩu; còn lại chủ yếu phục vụ nhu cầu của người dân trong tỉnh; năm 2011 sản xuất được khoảng 409 nghìn cái thì đến năm 2016 sản xuất được 808 nghìn cái, với tốc độ tăng trưởng bình quân 14,6%/năm.

- Dự án Trung tâm công nghiệp dệt may Hồng Lĩnh do Tổng Công ty CP may Hà Nội làm chủ đầu tư với các sản phẩm chính sợi, dệt, nhuộm, may. Do những khó khăn khách quan và chủ quan nên dự án triển khai thực hiện chưa đúng với tiến độ đã cam kết.

b) Ưu điểm: Ngành dệt may đã đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương; nâng cao tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của tỉnh và giải quyết việc làm trực tiếp cho hơn 2.000 lao động và hàng ngàn lao động kiêm doanh trên địa bàn.

c) Tồn tại hạn chế: Tiến độ của một số dự án lớn (Dự án Nhà máy May Five Star tại KCN Đại Kim, Dự án Trung tâm Công nghiệp Dệt May tại CCN Nam Hồng) chậm tiến độ; hầu hết các doanh nghiệp dệt may trên có quy mô nhỏ, chủ yếu gia công sản phẩm, sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường thấp; thị trường tiêu thụ không ổn định và thiếu lao động lành nghề; thiếu các nhà cung cấp, nhà sản xuất và dịch vụ bảo trì máy móc dệt may.



tải về 128.38 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương