Ủy ban nhân dân tỉnh an giang



tải về 122.91 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu01.12.2017
Kích122.91 Kb.
#3555




ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

________


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

______________________

KẾ HOẠCH

Xây dựng "xã hội học tập tỉnh An Giang giai đoạn 2005 - 2010"


(Ban hành kèm theo Quyết định số: 2481/2005/QĐ-UB ngày 06/9/2005 của UBND tỉnh)

Xây dựng tỉnh An Giang trở thành một xã hội học tập được dựa trên nền tảng phát triển, đồng thời, gắn kết liên thông cả hai bộ phận cấu thành đó là: giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó giáo dục thường xuyên (GDTX) và trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) - với vị trí là cơ sở giáo dục thường xuyên của cộng đồng dân cư ở xã, phường, thị trấn thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi công dân - sẽ là một bộ phận có chức năng quan trọng, làm tiền đề để xây dựng xã hội học tập. Do đó, phạm vi Kế hoạch này chỉ tập trung chủ yếu vào những vấn đề về GDTX, trong đó bao hàm cả các TTHTCĐ.

I. Căn cứ để xây dựng Kế hoạch :

1. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và kết luận của Hội nghị TW6 khoá IX của Đảng.

2. Chương trình hành động số 05-CTr/TU ngày 04/11/2002 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang về việc phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010.

3. Quyết định số 112/2005/TTg ngày 18/05/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010".

4- Công văn số 7318/BGD&ĐT-GDTX, ngày 18/8/2005 của Bộ Giáo dục-Đào tạo về việc hướng dẫn lập kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg.

5. Chỉ thị 34/CT-TU ngày 22/06/2005 của Tỉnh ủy An Giang về việc phát triển mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở cơ sở

II. Thực trạng và những vấn đề cần giải quyết để xây dựng xã hội học tập :

1. Thực trạng về giáo dục chính quy:

Ngành học Mầm non năm học 2004-2005 thu hút 38.222 học sinh, chiếm khoảng 2% so dân số độ tuổi nhà trẻ và 37% dân số độ tuổi mẫu giáo.

Sau khi đạt chuẩn phổ cập, học sinh tiểu học đã ổn định và có khuynh hướng giảm dần đến bằng dân số trong độ tuổi. Số trường tiểu học năm học 2004-2005 là 400, với 199.851 học sinh, giảm 5,99% so cùng thời điểm năm trước. Học sinh tiểu học giảm do dân số độ tuổi đang giảm và học sinh bỏ học cao.

Số trường trung học cơ sở (THCS) năm học 2004-2005 là 147; với 131.651 học sinh.

Tỉ lệ đi học chung của bậc THCS so dân số độ tuổi là 66,14%, nhưng tỉ lệ đi học đúng độ tuổi chỉ đạt 56,44%. Ở cấp THCS, việc dạy ngoại ngữ đã được phủ kín, trong đó có 128.016 học sinh học tiếng Anh và 451 học sinh học tiếng Pháp.

Số trường trung học phổ thông (THPT) là 56, với 49.876 học sinh, tăng 1% so năm học trước. Trong đó có 12.951 học sinh ngoài công lập, chiếm tỉ lệ 25,96% (trong đó riêng dân lập, tư thục là 462 em, tỉ lệ 0,92% so với tổng số học sinh THPT).

Tỉ lệ đi học chung của bậc THPT so dân số độ tuổi là 28,96%, nhưng tỉ lệ đi học đúng độ tuổi chỉ đạt 20,21%. Có 18.467 học sinh được tuyển vào lớp 10, đạt tỉ lệ 80,68% số học sinh tốt nghiệp THCS.

Cấp THPT có 48.212 học sinh học tiếng Anh và 295 học sinh học tiếng Pháp và 01 học sinh không học ngoại ngữ (do chuyển trường từ tỉnh khác đến).

Ngành học giáo dục chuyên nghiệp (GDCN) tiếp tục có những chuyển biến tích cực, xu hướng phân hoá học sinh tốt nghiệp THCS, THPT vào các trường THCN ngày càng nhiều. Năm 2004 học sinh đăng ký dự thi vào các trường đại học là 19.599, số dự thi 14.790, trúng tuyển 2.538 - đạt 17,16% so với số dự thi (năm trước 13,55%). Trong đó, trúng tuyển vào Trường Đại học An Giang 1.885 em, đạt tỉ lệ 16,64%. Số học sinh đăng ký dự thi vào các trường THCN có cao hơn năm trước, với 9.623 em, trong đó các trường địa phương là 9.240 em; số dự thi là 6.511, trúng tuyển được 2.245, đạt tỷ lệ : 34.48%.



2. Thực trạng về giáo dục thường xuyên :

a) Việc quy hoạch phát triển các TTGDTX :

Số Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh : 01, thực hiện chức năng liên kết đào tạo với các trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) ngoài tỉnh, đào tạo từ xa (không có trung tâm đào tạo từ xa riêng) và đào tạo tại chức.

Số Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện, thị : 06/tổng số 11 huyện, thị (huyện Chợ Mới 2, Phú Tân 1, Tân Châu 1, Thoại Sơn 1, thị xã Châu Đốc 1). Các huyện chưa có TTGDTX là : An Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Thành, Châu Phú.

Hoạt động dạy ngoại ngữ, tin học gắn với các TTGDTX và một số trường THPT trọng điểm (không có Trung tâm ngoại ngữ - tin học riêng). Hiện nay tỉnh đang có kế hoạch xây dựng thêm cơ sở vật chất để dạy ngoại ngữ, tin học và giao cho TTGDTX tỉnh quản lý.

Việc quy hoạch, phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục không chính quy trong những năm qua có quan tâm thực hiện nhưng tiến độ còn chậm. Trong các năm qua Sở Giáo dục-Đào tạo (GD-ĐT) đã tăng cường đầu tư trang thiết bị cho các Trung tâm hiện có và đang ghi vốn để xây dựng các TTGDTX ở các huyện còn lại. Cụ thể, năm 2005 đã ghi vốn xây dựng mới các TT GDTX: ở huyện Châu Thành (8 phòng học và san lấp), ghi vốn là 600 triệu, hiện đơn vị tư vấn đang điều chỉnh dự án; huyện Châu Phú (8 phòng học và san lấp), ghi vốn là 600 triệu đồng; huyện Tri Tôn (6 phòng học), ghi vốn là 500 triệu đồng.

Về việc đầu tư mở rộng, xây mới TT GDTX ở các huyện còn lại (Tịnh Biên và An Phú), Sở GD.ĐT đã thống nhất cơ bản với địa phương theo hướng:



  • Theo quy hoạch mới, Huyện ủy và UBND huyện Tịnh Biên sẽ dời về khu vực Xuân Tô, sẽ giao lại một phần cơ sở vật chất cũ của Huyện để thành lập TT GDTX huyện.

  • Sở đã ghi vốn xây dựng mới Trường THPT An Phú, cơ sở vật chất cũ của trường THPT sẽ giao lại để thành lập TT GDTX huyện.

    • Về Phổ cập giáo dục :

* Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi:

Hiện nay có 100% số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học-chống mù chữ (PCGDTH-CMC) theo thông tư 14, 140/150 (93,33%) xã đạt chuẩn PCGDTH ở độ tuổi 13, 115/150 (76,67%) xã đạt chuẩn PCGDTH ở độ tuổi 12 và 35/150 (23,33%) xã đạt chuẩn PCGDTH ở độ tuổi 11 ( kế hoạch năm 2004 là 10 xã).

Công tác PCGDTH đúng độ tuổi được quan tâm hơn và số xã đạt chuẩn PCGDTH đúng độ tuổi năm 2004 đã vượt tiến độ của Đề án PDGCTH đúng độ tuổi tỉnh An Giang quy định.

* Phổ cập giáo dục trung học cơ sở:



  • Tiêu chuẩn 1 : ( chuẩn huy động )

+ Trẻ 6 tuổi vào lớp 1 : 33.372/33.678, đạt tỉ lệ 99,09 %.

+ Trẻ 11-14 tuổi tốt nghiệp tiểu học : 133.422/166.153, đạt tỉ lệ 80,03 %.

+ TN Tiểu học vào học lớp 6 : 37.553/40.936, đạt tỉ lệ 91.74%.


  • Tiêu chuẩn 2 : ( chuẩn hiệu quả )

+ Tốt nghiệp THCS : đạt tỉ lệ 95,76%

+ Độ tuổi 15-18 tốt nhiệp THCS : 79.967/133.384, đạt tỉ lệ 59.95%.

Đến nay có 68 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở (PCGD THCS), đạt tỷ lệ 45,33% so với tổng số xã, phường trên địa bàn toàn tỉnh ( kế hoạch năm 2004 là 60 xã); TP.Long Xuyên đã đạt chuẩn PCGD.THCS vào năm 2004.

Công tác chống bỏ học tuy có chuyển biến nhưng tỉ lệ học sinh bỏ học vẫn còn cao so với yêu cầu, tỉ lệ duy trì học sinh ở các lớp ngoài nhà trường (lớp PCGD THCS) ở một số nơi đạt thấp so với chỉ tiêu. Nhìn chung, công tác PCGDTH đúng độ tuổi và PCGD.THCS ngày càng được quan tâm nhiều hơn và số xã đạt chuẩn năm 2004 đã vượt tiến độ của Đề án tỉnh quy định.

Việc dạy bổ túc văn hoá (BTVH), dạy nghề phổ thông, dạy nghề xã hội và liên kết mở các lớp trung cấp, cao đẳng, đại học tại chức, đại học từ xa ở các trung TTGDTX và các trường THCN, đại học trên địa bàn tỉnh ngày càng được tăng cường. Lưu lượng đào tạo năm học 2004-2005: Giảng dạy BTVH là 1.510 học viên, dạy nghề phổ thông 12.759, dạy nghề xã hội 17.462, trung cấp tại chức 3.501, cao đẳng tại chức 1.104, đại học tại chức 3.429 và đào tạo từ xa 2.731 (trong đó đào tạo từ xa phục vụ chuẩn hoá giáo viên là 2.170). Các hoạt động giáo dục thường xuyên nêu trên đã đáp ứng khá tốt nhu cầu học tập của nhân dân, góp phần phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà.

b) Việc xây dựng và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng :

Từ năm học 2003-2004 An Giang đã tiến hành xây dựng các TTHTCĐ ở các phường, xã , thị trấn; tuy nhiên, thực tế nhiều địa phương trong tỉnh còn lúng túng trong việc xác định mô hình cũng như hình thức, nội dung hoạt động của các trung tâm ( do Bộ GD-ĐT chưa có những hướng dẫn cụ thể). Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo thành lập TTHTCĐ cho tất cả các huyện, thị, thành phố, xã, phường, thị trấn. Trong quá trình thực hiện có chọn một số huyện, xã làm thí điểm trước khi triển khai đại trà.. Do đó, ở năm học trước chỉ có 8 TTHTCĐ, đến nay đã có 80/tổng số 150 xã (phường, thị trấn) có TTHTCĐ. Trong đó huyện Chợ Mới và Phú Tân có 100% xã, thị trấn có TTHTCĐ. Trong số 80 TTHTCĐ đã hình thành, có khoảng trên 50% số trung tâm hoạt động có hiệu quả.

TTHTCĐ là một mô hình giáo dục mới, chưa có đầy đủ các văn bản pháp lý hướng dẫn cụ thể, nên việc nhận thức của một số địa phương về vấn đề này còn hạn chế, chưa thực sự quan tâm tạo điều kiện, nhất là về về cơ sở vật chất và kinh phí hỗ trợ để trung tâm họat động. Các điều kiện phục vụ cho hoạt động của trung tâm còn thiếu nhiều, nên kết quả hoạt động ở một số nơi còn hạn chế. Một số địa phương còn có tư tưởng bao cấp, ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư của nhà nước, chưa có biện pháp tích cực để khai thác tốt tiềm năng của cộng đồng để phục vụ cho các hoạt động của TTHTCĐ.

Do mới thành lập nên có một số TTHTCĐ chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức hoạt động, nhiều chương trình học tập chưa thiết thực. Do chưa có Quy chế hoạt động cụ thể của TTHTCĐ nên sự phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội chưa chặt chẽ, kế hoạch hoạt động còn riêng lẻ.

Ban chủ nhiệm các TTHTCĐ chủ yếu là kiêm nhiệm nên chưa đầu tư nhiều thời gian cho hoạt động của trung tâm. Công tác điều tra nhu cầu học tập của nhân dân trên địa bàn, xây dựng nội dung và hình thức học tập chưa được thực hiện tốt (phổ biến chính trị, thời sự, chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tập huấn chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, dạy nghề, sinh hoạt văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao ...).

Việc xây dựng đội ngũ giáo viên tình nguyện, đội ngũ hướng dẫn viên, cộng tác viên nhằm hỗ trợ cho TTHTCĐ còn nhiều lúng túng.



III. Mục tiêu :

Mục tiêu chung :

Xây dựng xã hội học tập trên địa bàn tỉnh An Giang nhằm mục tiêu : Tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho mọi người, mọi lứa tuổi được học ở mọi trình độ; mọi người đều được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời; việc học được tổ chức ở mọi nơi, mọi lúc. Việc xây dựng xã hội học tập dựa trên sự huy động sức mạnh của toàn xã hội; mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc học tập và tham gia tích cực xây dựng xã hội học tập.



Mục tiêu cụ thể :

1. Đối với giáo dục chính quy :

Thực hiện mục tiêu giáo dục chính quy với vai trò nòng cốt, là một trong hai bộ phận cấu thành để xây dựng tỉnh An Giang trở thành xã hội học tập. Do đó, việc thực hiện tốt giáo dục chính quy theo các mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 phải đạt các tiêu chí cơ bản sau đây :

* Giáo dục mầm non :

- Đến năm 2010, huy động 15% trẻ dưới 3 tuổi vào nhà trẻ, riêng các thành phố, thị xã, thị trấn huy động đạt từ 20 đến 25%.

- Tỷ lệ trẻ 3-5 tuổi vào mẫu giáo đạt 60%, trong đó mẫu giáo 5 tuổi đạt 98% trở lên so dân số trong độ tuổi.

* Giáo dục phổ thông :

Huy động trẻ trong độ tuổi đến trường tiểu học đạt 99%. Các trường tiểu học dạy đủ các môn. Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi vào cuối năm 2007.

Huy động hết số học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6; học sinh học THCS đạt trên 80% so dân số trong độ tuổi, đến cuối năm 2007 hoàn thành phổ cập THCS.

Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào THPT đạt 70% - 80% vào năm 2010.

* Giáo dục Đại học - Cao đẳng - THCN - Dạy nghề :

Thu hút nhiều học sinh tốt nghiệp THCS vào Trường Dạy nghề, tốt nghiệp THPT vào các trường THCN.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 30%.

Phấn đấu đạt tỷ lệ sinh viên 130-150/1 vạn dân .

2. Giáo dục thường xuyên :

Trên cơ sở thực hiện tốt giáo dục chính quy theo các mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 nêu trên, phát triển GDTX đến năm 2010 cần đạt được các mục tiêu cơ bản sau đây :



2.1 Nâng cao kết quả xoá mù chữ, phấn đấu tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên từ 95,88% năm 2005 lên trên 98% vào năm 2010, trong đó đối với số người có độ tuổi từ 15 đến 35 đạt tỉ lệ trên 99%; đặc biệt tăng nhanh tỷ lệ xoá mù chữ trong các dân tộc ít người (Khmer, Chăm). Hoàn thành phổ cập GDTH đúng độ tuổi và phổ cập THCS vào năm 2007. Từng bước tiến hành thực hiện phổ cập THPT.

Bảo đảm tỷ lệ số người biết chữ bằng nhau giữa nam và nữ.



2.2 Phấn đấu đạt tỷ lệ trên 80% số cán bộ cấp xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã) và các huyện, thị xã, thành phố (gọi tắt là cấp huyện) được học tập, bồi dưỡng cập nhật kiến thức về quản lý, pháp luật, kinh tế - xã hội và tin học nhằm giúp nâng cao năng lực và hiệu quả công tác.

2.3 Đạt tỷ lệ 100% số cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước được tham gia các khoá đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý, lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ ; đưa công nghệ thông tin về nông thôn ...

2.4 Đạt tỷ lệ 85% số người lao động trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp được tiếp cận và thụ hưởng các chương trình bồi dưỡng giúp nâng cao hiểu biết, khả năng lao động, sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống.

2.5 Đến năm 2007 mỗi huyện có ít nhất 1 TTGDTX, xây dựng mới cơ sở 2 của trung tâm GDTX tỉnh để hình thành Trung tâm Ngoại ngữ-Tin học.

2.6 Đến năm 2006 có 100% xã, phường, thị trấn xây dựng được trung tâm học tập cộng đồng

2.7 Đến 2010 mỗi huyện đều có trung tâm dạy nghề.

IV. Nhiệm vụ chủ yếu :

1. Xây dựng phong trào "Cả tỉnh trở thành xã hội học tập":

a) Xây dựng phong trào "Cả tỉnh trở thành xã hội học tập" gắn chặt chẽ với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Nâng cao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm mỗi cá nhân, mỗi tập thể trong việc học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời và tham gia xây dựng xã hội học tập đđáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của tỉnh nhà và của đất nước.


b) Thiết lập và thực hiện các nội dung, biện pháp, cơ chế hoạt động, phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, ngành giáo dục, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các đoàn thể từ tỉnh đến các cấp cơ sở để triển khai, tổ chức các hoạt động nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia phong trào xây dựng cả tỉnh trở thành xã hội học tập. Xây dựng các biện pháp cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện và duy trì thường xuyên phong trào "Cả tỉnh trở thành xã hội học tập" có chất lượng và hiệu quả cao.

c) Khuyến khích, đẩy mạnh các hoạt động khuyến học, khuyến tài nhằm huy động, thu hút mọi lực lượng xã hội tham gia xây dựng xã hội học tập, góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam phát triển, lành mạnh, vừa mang bản sắc dân tộc, vừa từng bước tiếp cận trình độ tiên tiến của thế giới; khắc phục những hạn chế, yếu kém, ngăn chặn tiêu cực, tạo cơ hội và điều kiện cần thiết cho việc học tập. Xây dựng ý thức thường xuyên tự học, tự nâng cao trình độ của mỗi người và ý thức trách nhiệm của mỗi gia đình, dòng họ, xã, ấp, xóm, tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Nhân rộng và phát huy hiệu quả của các mô hình: "Gia đình hiếu học", "Dòng họ khuyến học”, “Tổ dân phố, ấp khóm văn hoá", "Xã, phường, thị trấn khuyến học" với những nội dung, tiêu chí được xác định, cụ thể, thiết thực.

2. Xây dựng và phát triển mạnh mẽ hệ thống giáo dục thường xuyên đồng thời với việc tiếp tục củng cố và hoàn thiện giáo dục chính quy:

Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất để củng cố và mở rộng các cơ sở giáo dục thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học suốt đời của mọi đối tượng. Tập trung xây dựng các mô hình tổ chức chủ yếu sau đây:



a) Các Trung tâm giáo dục thường xuyên:

Tập trung củng cố, xây dựng, mở rộng quy mô hợp lý, nâng cao chất lượng, năng lực của các TTGDTX cấp tỉnh và cấp huyện đã được thành lập; thành lập các TTGDTX ở những huyện hiện nay chưa có, phấn đấu hoàn thành vào năm 2007. Mở rộng các loại hình hoạt động của các TTGDTX để đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của cộng đồng, kể cả dạy bổ túc văn hoá. Các TTGDTX phải mở rộng liên kết đào tạo với các trung tâm khác, các trường THCN, dạy nghề và các TTHTCĐ trong tỉnh.



b) Các Trung tâm học tập cộng đồng :

Phát triển bền vững và nhân rộng mô hình TTHTCĐ trên các địa bàn xã, phường, thị trấn trong cả tỉnh nhằm thực hiện các chương trình xoá mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ và các chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học trong cộng đồng dân cư. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về mô hình các TTHTCD đã đi vào hoạt động có hiệu quả để tiếp tục xây dựng, ban hành các quy định về mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, cơ chế hoạt động của mô hình này và nhân rộng, phát triển. Các hoạt động của TTHTCĐ phải đi vào thực chất, không chạy theo hình thức.



c) Mở rộng quy mô các cơ sở đào tạo mở, phát triển các cơ sở giáo dục cộng đồng khác:

Thực hiện việc tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm phương thức liên kết đào tạo của các cơ sở đào tạo mở (đào tạo từ xa ...) hiện nay trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục phát triển, mở rộng quy mô các cơ sở đào tạo mở hiện có (đào tạo từ xa của Trung tâm Dịch vụ việc làm- Liên đoàn Lao động tỉnh liên kết với Trường Đại học Dân lập Bình Dương ...) theo nguyên tắc: hoạt động đào tạo của các cơ sở đào tạo mở phải được thực hiện theo phương thức đào tạo từ xa là chủ yếu.



d) Các cơ sở học tập thường xuyên khác :

Ủy ban nhân dân tỉnh khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, các tổ chức, cơ sở sản xuất, dịch vụ, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thành lập các cơ sở học tập, bồi dưỡng thường xuyên cho người lao động, đặc biệt là đối với người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Phát triển các hình thức tổ chức học tập để thực hiện các chương trình phổ biến các kiến thức nhằm ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; học tập kiến thức văn hoá, xã hội, đời sống, nghề nghiệp nhằm các mục tiêu hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm và tự tạo việc làm, thích nghi với đời sống xã hội của người học.

Tổ chức dạy tiếng dân tộc Khmer, Chăm cho cán bộ công chức công tác tại vùng có đồng bào dân tộc sinh sống, vùng biên giới theo tinh thần Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg ngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ và công văn hướng dẫn số 5566/BGD&ĐT, ngày 04/7/2005 của Bộ Giáo dục-Đào tạo.

3. Đổi mới phương pháp giáo dục thường xuyên phù hợp với các mô hình tổ chức giáo dục thường xuyên, mở rộng hình thức học tập, tăng cường phương thức giáo dục từ xa :

a) Thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục thường xuyên theo tinh thần phát huy tối đa vai trò chủ động, năng lực tự học và khai thác tiềm năng kinh nghiệm vốn có của người học.

b) Mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng hình thức học tập: vừa làm vừa học, học từ xa, tự học có hướng dẫn để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học ở mọi lứa tuổi có điều kiện học tập nâng cao trình độ học vấn và tạo sự liên thông giữa giáo dục thường xuyên và giáo dục chính quy của hệ thống giáo dục quốc dân.

c) Đẩy mạnh hơn nữa phương thức giáo dục từ xa, trên cơ sở liên kết với các trường đại học, cao đẳng ngoài tỉnh; tăng nhanh khả năng cung ứng cơ hội học tập theo phương thức giáo dục từ xa đối với các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Tăng cường sử dụng các phương tiện thông tin và truyền thông hiện đại, phương tiện nghe - nhìn; tận dụng tối đa các phương tiện truyền thanh, truyền hình ở địa phương phục vụ cho việc dạy và học theo phương thức giáo dục từ xa để nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động giáo dục.



4. Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, cộng tác viên trong các cơ sở giáo dục thường xuyên:

a) Hướng dẫn và ban hành các quy định về tiêu chuẩn, chế độ, chính sách đối với các loại đối tượng người lao động trong các cơ sở giáo dục thường xuyên. theo đúng quy định.

b) Tận dụng mọi khả năng, chất xám trong các cơ sở giáo dục chính quy và toàn xã hội để phát triển giáo dục thường xuyên, giáo dục ngoài nhà trường. Khuyến khích các nhà giáo, các nhà khoa học, các chuyên gia giỏi, giàu kinh nghiệm trên mọi lĩnh vực tham gia vào các hoạt động giáo dục thường xuyên, giáo dục ngoài nhà trường.

c) Xây dựng chương trình và kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, giáo viên trong các cơ sở giáo dục thường xuyên theo quyết định số 03/2005/QĐ-BGD&ĐT, ngày 15/02/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành qui chế bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III; chú trọng đến việc đào tạo giảng viên tiếng dân tộc làm nòng cốt để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cốt cán, giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số ở địa phương.



V. Giải pháp :

1. Tăng cường sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng các cấp đối với các cơ sở giáo dục thường xuyên. Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phân công trách nhiệm rõ ràng; có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chính quyền các cấp, các ngành, các tổ chức từ tỉnh đến các cơ sở để chỉ đạo tổ chức, triển khai phong trào "Cả tỉnh trở thành một xã hôi học tập". Phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đặc biệt cần phát huy vai trò quan trọng của Hội Khuyến học và Hội Cựu giáo chức trong việc tổ chức các hoạt động khuyến học và tham gia tích cực vào các hoạt động khác nhằm đẩy mạnh phong trào “Cả tỉnh trở thành xã hội học tập”.

2. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên về mục đích, ý nghĩa, nội dung của phong trào để mọi người dân, mọi cơ quan, mọi tổ chức nhận thức rõ, đồng tình, ủng hộ và có trách nhiệm tích cực tham gia xây dựng phong trào. Sử dụng nhiều phương tiện thông tin và bằng nhiều hình thức tổ chức, biện pháp tuyên truyền nhằm đẩy mạnh và duy trì phong trào thường xuyên.

3. Tăng cường đội ngũ cán bộ, giáo viên; củng cố, kiện toàn bộ máy quản lý, chỉ đạo; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị dạy học cho các TTHTCD, TTGDTX, Trung tâm ngoại ngữ - tin học, các cơ sở giáo dục từ xa để có khả năng thực hiện nhiều chương trình giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.

4. Chấn chỉnh tổ chức và hoạt động của các TTGDTX tỉnh, huyện, TTHTCĐ, Trung tâm ngoại ngữ - tin học theo hướng hoàn thiện mô hình tổ chức, tăng cường trách nhiệm cho cơ sở, đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo; quản lý chặt các khâu thi, kiểm tra, cấp văn bằng, chứng chỉ.

5. Cụ thể hoá các cơ chế, chính sách và hệ thống văn bản pháp luật về giáo dục thường xuyên; xây dựng cơ chế phối hợp quản lý chặt chẽ, bảo đảm tính liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.

6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá, sơ tổng kết định kỳ, kiểm định chất lượng; thực hiện công tác thi đua, khen thưởng thường xuyên, định kỳ đối với sự nghiệp này.

7. Giải pháp về tài chính:

Kinh phí để thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục thường xuyên chủ yếu dựa trên tinh thần phát huy cao độ hiệu quả của công tác xã hội hoá theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, nhằm huy động mọi nguồn lực của xã hội để phát triển giáo dục thường xuyên. Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ nghiên cứu ban hành các cơ chế, chính sách cụ thể khuyến khích và quy định trách nhiệm các ngành, địa phương, các tổ chức kinh tế - xã hội và người sử dung lao động tham gia xây dựng cơ sở vật chất, hỗ trợ kinh phí cho người học.

Ngân sách nhà nước sẽ dành một khoản để hỗ trợ phát triển giáo dục thường xuyên, trong đó tập trung hỗ trợ một phần cho việc biên soạn chương trình, tài liệu, đào tạo nhân lực, giáo viên phục vụ cho các hoạt động của các TTGDTX. Ưu tiên tập trung kinh phí đầu tư xây dựng các TTGDTX, TTHTCĐ và các Trung tâm dạy nghề ở những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người. Các huyện, thị, thành phố có trách nhiệm cân đối ngân sách dành kinh phí hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị dạy học và hỗ trợ các hoạt động thường xuyên của các cơ sở giáo dục thường xuyên trên địa bàn theo các quy định hiện hành.

VI. Tổ chức thực hiện


1. Thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh để triển khai thực hiện Kế hoạch này; thành phần Ban chỉ đạo gồm: Thường trực UBND tỉnh (trưởng ban), Giám đốc Sở GD-ĐT (phó trưởng ban trực), các Sở KH-ĐT, Tài chính, LĐTB-XH, Nội vụ, Nông nghiệp-Phát triển nông thôn, Hội Khuyến học, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn TNCS. Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Liên minh Hợp tác xã ...

2. Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm :

a) Chủ trì hướng dẫn các cơ quan ban ngành và các địa phương về nghiệp vụ nhằm cụ thể hoá các nội dung Kế hoạch này thành các chương trình, dự án với những mục tiêu, giải pháp và bước đi phù hợp để tổ chức triển khai thực hiện. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan, các địa phương để quy định cụ thể về chương trình, sách giáo khoa, tài liệu dùng cho giáo dục thường xuyên và chỉ đạo để tổ chức triển khai thực hiện nội dung Kế hoạch này.

Tổ chức lớp tập huấn về nghiệp vụ cho Ban chủ nhiệm và giáo viên các TTHTCĐ ở các địa phương.

b) Chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách liên quan để triển khai thực hiện các nội dung của Kế hoạch. Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài chính thống nhất việc cân đối, bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước theo các quy định hiện hành để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của Kế hoạch.

c) Chủ trì, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các đoàn thể, các cơ quan thông tin đại chúng để triển khai các hoạt động đẩy mạnh phong trào "Cả tỉnh trở thành xã hội học tập".

d) Kiểm tra, tổng hợp tình hình và kết quả thực hiện chung của Kế hoạch; cụ thể hoá và chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung thuộc thẩm quyền quản lý; quy định cụ thể về thời gian, nội dung báo cáo đánh giá định kỳ kết quả thực hiện Kế hoạch đối với các cơ quan liên quan; báo cáo và đề xuất với UBND tỉnh các giải pháp cần thiết để thực hiện Kế hoạch đạt hiệu quả cao.



3. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm :

Chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục-Đào tạo và các Sở, ngành, cơ quan có liên quan, các huyện, thị, thành phố cụ thể hoá các nội dung Kế hoạch này để chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện trong lĩnh vực dạy nghề ở các trường, trung tâm, cơ sở trực thuộc và hỗ trợ dạy nghề cho các TTHTCĐ ở xã, phường, thị trấn.



4. Sở Tài chính có trách nhiệm :

a) Bố trí ngân sách hỗ trợ cho giáo dục thường xuyên, các TTHTCĐ để thực hiện các nội dung của Kế hoạch và thực hiện việc kiểm tra, thanh tra tài chính theo các quy định hiện hành.

b) Chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục-Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan để xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp lý về cơ chế, chính sách tài chính cho giáo dục thường xuyên và các TTHTCĐ.

5. Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm :

a) Cân đối vốn đầu tư xây dựng các TTGDTX huyện theo chủ trương của tỉnh. Bố trí vốn hỗ trợ đầu tư cho các cơ sở giáo dục thường xuyên nhất là ở những vùng khó khăn; tổng hợp và đưa vào cân đối chung trong kế hoạch ngân sách nhà nước hỗ trợ hàng năm cho giáo dục thường xuyên và các TTHTCĐ.

b) Chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục-Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan để xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền

ban hành các văn bản pháp lý về cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư cho giáo dục thường xuyên theo thẩm quyền được giao.



6. Sở Nội vụ có trách nhiệm :

Thực hiện nội dung của Kế hoạch thuộc thẩm quyền quản lý, nhất là liên quan đến mục tiêu giáo dục thường xuyên quy định cho cán bộ cấp xã, huyện và cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước.



7. Đài phát thanh - truyền hình, Báo An Giang có trách nhiệm :

Tổ chức tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên về mục đích, ý nghĩa, nội dung của phong trào và giới thiệu những cơ sở GDTX, TTHTCĐ hoạt động có hiệu quả.



8. Ủy ban nhân dân các huyện, thị, thành phố có trách nhiệm:

Chỉ đạo các xã, phường, thị trấn tổ chức điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, chỉ đạo các Phòng Giáo dục điều hành, hướng dẫn các TTHTCĐ xây dựng nội dung và hình thức học tập phù hợp với điều kiện của từng đối tượng.

Cụ thể hoá các nội dung Kế hoạch này thành các chương trình, dự án với những mục tiêu, nội dung, giải pháp và bước đi phù hợp để chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện trên địa bàn. Phối hợp với Sở Giáo dục-Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp và các cơ quan có liên quan để chỉ đạo, triển khai thực hiện một cách đồng bộ, có hiệu quả cao các nội dung của Kế hoạch này.

9. Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Khuyến học tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, các cơ quan đoàn thể quần chúng và các tổ chức xã hội tham gia tích cực vào các hoạt động của phong trào và những nội dung nêu ra trong Kế hoạch này để thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội học tập trên địa bàn tỉnh./.



Nơi nhận:

-Văn phòng Chính phủ (báo cáo);

-Bộ GD-ĐT (báo cáo);

-TT.TU, HĐND, UBND tỉnh (báo cáo);

-Các Sở, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh.

-UBND các huyện, thị, thành phố;

-Phòng VHXH, TH, KT, NC, XDCB;

-Lưu: VT.



KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH


đã ký
Lê Minh Tùng





Каталог: file-remote-v2 -> DownloadServlet?filePath=vbpq -> 2006
2006 -> Uỷ ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
2006 -> Cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
2006 -> Ủ/y ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh vĩnh long độc lập Tự do Hạnh phúc
2006 -> A. TÌNh hình thực hiện xã HỘi hoá trong các hoạT ĐỘng giáo dụC, y tế, VĂn hóa và thể DỤC thể thao, thực hiện nghị quyếT 90/1997/nq-cp của chính phủ Ở an giang
2006 -> Ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
2006 -> Thành phố Hà Nội Số: 48/2001/QĐ-ub cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
2006 -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
2006 -> Ủy ban nhân dân tỉnh an giang số: 1108/2005/QĐ-ub
2006 -> Uỷ ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam

tải về 122.91 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương