Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 0.52 Mb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2017
Kích0.52 Mb.
#2764
1   2   3

IV. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ

Thành phố xác định nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới là phải đưa công tác giảm nghèo, tăng hộ khá trở thành công tác trọng tâm của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm, trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và phương tiện để sản xuất, làm ăn, bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, nâng cao thu nhập để tự vượt nghèo; gia tăng cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là dịch vụ giáo dục, y tế, nước sạch; giảm thiểu rủi ro do thiên tai, bão lụt và tác động tiêu cực của quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm giảm nghèo bền vững. Đồng thời tiếp tục tăng cường hỗ trợ các xã nghèo phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển sản xuất hàng hóa và dịch vụ, thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển, về mức sống giữa thành thị và nông thôn và giữa các nhóm dân cư trong xã hội.



1. Phát triển kinh tế đi đôi với giảm nghèo bền vững và căn cơ:

a) Thành phố tập trung phát triển các ngành kinh tế chủ lực để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Các sở - ban - ngành chức năng, các quận - huyện tăng trưởng khá hơn có trách nhiệm tham gia tích cực vào các chương trình, dự án giảm nghèo; chia sẻ, hỗ trợ cho các quận - huyện, phường - xã nghèo.

b) Tổ chức phối hợp lồng ghép có hiệu quả Chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá với các chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và từng địa phương, như Chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đào tạo kỹ năng, tay nghề người lao động; Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao; Chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường, Chương trình chỉnh trang, nâng cấp đô thị; Chương trình phổ cập giáo dục; chăm sóc sức khỏe và các chương trình an sinh xã hội, từ thiện khác… ; chú ý tính đến các giải pháp và khả năng ưu tiên hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo.

c) Tập trung giải quyết có hiệu quả các vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc trong quá trình đô thị hóa; tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở nội thành và thiếu việc làm ở nông thôn. Đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình giảm nghèo có hiệu quả theo hướng phát triển kinh tế hợp tác, khuyến khích hình thành và phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm tập trung đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập và đảm bảo tích lũy cho người nghèo, hộ nghèo; từng bước cải thiện và nâng dần mức sống và chất lượng cuộc sống, giảm dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa người giàu và người nghèo.



2. Tạo cơ hi và điều kiện thuận lợi đ người nghèo, hộ nghèo, các xã -phường nghèo tiếp cận được các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội cơ bản:

a) Tạo cơ hội để người nghèo, hộ nghèo tổ chức sản xuất làm ăn, đi đôi với phát triển kinh tế tự vượt nghèo, tăng hộ khá; khuyến khích hộ làm giàu chính đáng thông qua các chính sách, biện pháp hỗ trợ về cho vay ưu đãi và tín dụng nhỏ gắn với hướng dẫn khuyến nông - lâm - ngư, phát triển ngành nghề, đào tạo nghề theo hướng điểu chỉnh chọn lọc các ngành nghề có hiệu quả, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng khu vực (nội thành, đô thị hóa, nông thôn ngoại thành) và theo quy mô, điều kiện, khả năng của từng hộ. Tổ chức tư vấn, nâng cao kiến thức kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, nhằm chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, thay đổi các tập quán, thói quen của người nghèo, hộ nghèo; trong cách sản xuất làm ăn và sinh hoạt gia đình, quan hệ xã hội. Tăng cường sự tham gia của người nghèo, hộ nghèo vào việc hoạch định, xây dựng kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, cơ sở.

b) Phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người nghèo, hộ nghèo thông qua thực hiện các chính sách ưu đãi xã hội về bảo hiểm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường, nâng cao trình độ dân trí, nhất là đối với lực lượng thanh niên nghèo…; xem đây là chìa khóa để thực hiện giảm nghèo bền vững, lâu dài.

c) Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa trong các hộ nghèo, gắn với Chương trình mục tiêu “3 giảm”: giảm tội phạm, mại dâm và ma túy và công tác phòng, chống các loại tệ nạn xã hội; từng bước nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là ở các vùng nông thôn ngoại thành.



3. Huy động, bố trí nguồn lực tập trung đu tư cho địa bàn trọng điểm và các hoạt đng ưu tiên:

a) Tập trung nguồn lực vào các mục tiêu dự án ưu tiên đẩy nhanh tốc độ và quy mô giảm nghèo, tăng hộ khá; các chương trình làm chuyển biến rõ tình trạng nghèo ở các xã - phường, thị trấn, nhất là các xã - phường nghèo. Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng ở các nơi này, bảo đảm điều kiện phát triển kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân, cải thiện điều kiện và chất lượng cuộc sống cho hộ nghèo.

b) Xã hội hóa việc huy động các nguồn lực đầu tư cho mục tiêu giảm nghèo- tăng hộ khá; tạo thành phong trào sâu rộng thu hút và động viên sự tham gia ủng hộ của các tầng lớp dân cư, các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức kinh tế - xã hội hỗ trợ người nghèo và vùng nghèo. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về kinh nghiệm, kỹ thuật tài chính để đẩy nhanh quá trình giảm nghèo ở thành phố.

c) Thời gian tới, công tác giảm nghèo tập trung vào các địa bàn khó khăn nhất, vùng sâu vùng xa, vùng căn cứ cách mạng và ưu tiên đối tượng là phụ nữ, trẻ em nghèo; tập trung giải quyết các vấn đề đặc thù của nghèo đô thị về việc làm, thu nhập, nhà ở; bảo đảm người nghèo đô thị tiếp cận một cách công bằng, bình đẳng các nguồn lực, dịch vụ công và dịch vụ xã hội cơ bản. Từng bước hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội để trợ giúp có hiệu quả cho người nghèo, hộ nghèo và các đối tượng xã hội yếu thế, neo đơn.



4. Tiếp tục hoàn thiện về tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý chương trình:

a) Các Cấp ủy Đảng chịu trách nhiệm trực tiếp lãnh đạo và có nghị quyết, chương trình hành động cụ thể triển khai quán triệt và tổ chức thực hiện cụ thể mục tiêu giảm nghèo, tăng hộ khá và từng bước cải thiện nâng dần mức sống, chất lượng cuộc sống của người nghèo, hộ nghèo ở từng địa phương, đơn vị.

b) Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác giảm nghèo từ thành phố đến quận - huyện, phường - xã, thị trấn về kiến thức nghiệp vụ chuyên môn và quản lý điều hành chương trình cho phù hợp với nhiệm vụ được giao; củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ tự quản giảm nghèo, tổ vượt nghèo và tổ hợp tác của những người nghèo, tiếp tục bổ sung chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cơ sở.

c) Thiết lập hệ thống phương pháp giám sát, đánh giá hiệu quả chương trình; tăng cường công tác kiểm tra thường xuyên các hoạt động giảm nghèo ở các cấp, các ngành. Đồng thời đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng và người dân trong hoạt động giám sát, đánh giá, kiểm tra việc thực hiện các mục tiêu, chương trình giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân. Có cơ chế phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, hiệu quả giữa các sở - ngành, quận - huyện, phường - xã, thị trấn, cơ quan Mặt trận và các đoàn thể trong các hoạt động giảm nghèo, cải thiện, nâng dần mức sống, điều kiện sống và chất lượng cuộc sống của người nghèo, hộ nghèo trên địa bàn thành phố. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng về chủ trương, chính sách mục tiêu giảm nghèo.



V. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ

Song song với việc thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội, phòng chống thiên tai, giảm rủi ro cho nhóm yếu thế thông qua cơ chế xã hội hóa, Nhà nước và nhân dân cùng làm; động viên người nghèo nỗ lực, phấn đấu thoát nghèo, kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng xã hội thực hiện giảm nghèo bền vững, đẩy mạnh thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Giải pháp trọng tâm của Chương trình không phải là vấn đề trợ giúp về vốn. Nhà nước không bao cấp, không hỗ trợ toàn bộ mà chỉ ban hành và vận dụng các cơ chế, chính sách phù hợp trong từng giai đoạn; giảm dần tỷ lệ hỗ trợ từ nguồn ngân sách thành phố. Vấn đề quan trọng mang tính quyết định là chính bản thân người nghèo, hộ nghèo phải tăng cường phát huy nội lực, tự thân vận động, chủ động phấn đấu, nỗ lực vượt nghèo, vươn lên khá giả; đảm bảo bản thân có việc làm và thu nhập ổn định. Khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua mô hình hợp tác, liên kết (vốn, kỹ thuật…) trong làm ăn, sản xuất kinh doanh, phát triển các loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển ổn định trong giai đoạn mới; hạn chế mô hình làm ăn nhỏ, riêng lẻ, manh mún, thiếu căn cơ.

1. Tổ chức huy động và sử dụng các nguồn lực:

a) Dự kiến năm 2010, tổng nguồn vốn huy động thực hiện Chương trình giảm nghèo tăng hộ khá của thành phố đạt khoảng 2.500 tỷ. Trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2015, mỗi năm tăng thêm 350-400 tỷ đồng. Đến năm 2015, tổng nguồn vốn huy động đạt khoảng 4.000 tỷ đồng. Cụ thể như sau :

- Huy động các nguồn tín dụng ưu đãi và tín dụng nhỏ trên địa bàn thành phố cung cấp vốn vay cho hộ nghèo: năm 2009 huy động đạt 2.139 tỷ đồng, mỗi năm tăng khoảng 350- 400 tỷ đồng. Dự kiến đến năm 2015 đạt khoảng 3.680 tỷ đồng.

- Huy động các nguồn vốn cho quỹ hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi trên địa bàn thành phố (Quỹ 156): hàng năm khoảng 200 tỷ đồng; trong đó cho vay ưu đãi từ 150 tỷ-180 tỷ đồng/năm.

- Nguồn ngân sách thành phố và quận - huyện đầu tư trực tiếp cho chương trình: năm 2009 đạt 168 tỷ đồng và đến năm 2015 khoảng 160 tỷ đồng.

- Nguồn vốn vận động trong dân (hỗ trợ không hoàn lại), hàng năm khoảng 60-70 tỷ đồng.

b) Tiếp tục đẩy mạnh cho vay vốn từ các nguồn vốn ưu đãi của Quỹ hỗ trợ giảm nghèo, Quỹ quốc gia về việc làm, vốn tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ tín dụng của các đoàn thể. Gắn cho vay vốn với hướng dẫn hộ nghèo cách làm ăn theo hướng điều chỉnh cơ cấu vay vốn ngành nghề có hiệu quả, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng địa phương và theo khả năng quy mô, trình độ sản xuất từng hộ; giải quyết đầu ra ổn định cho sản phẩm của người nghèo, hộ nghèo, trong đó:

- Quỹ hỗ trợ giảm nghèo tập trung cho vay nhóm hộ có thu nhập từ 8 triệu đồng/người/năm trở xuống có nhu cầu vay vốn để sản xuất làm ăn và đầu tư cho tổ vượt nghèo, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất kinh doanh thu nhận lao động nghèo.

- Quỹ Quốc gia về việc làm (dành 30% vốn theo kế hoạch hàng năm cho vay nhóm hộ thu nhập từ trên 8 triệu đến 12 triệu đồng/người/năm) ưu tiên cho vay các dự án cơ sở sản xuất, các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa thu nhận lao động tạo việc làm.

- Nguồn vốn tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ tín dụng các đoàn thể tập trung cho vay nhóm hộ nghèo thu nhập từ trên 8 triệu đến 12 triệu đồng/người/năm.

- Chương trình hỗ trợ lãi vay cho nông dân thành phố (theo Quyết định 105/2006/QĐ-UBND ngày 17 tháng 7 năm 2006 của Ủy ban nhân dân thành phố).

- Tiếp tục thực hiện chương trình hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố (theo Quyết định số 156/2006/QĐ-UBND ngày 27 tháng 10 năm 2006 của Ủy ban nhân dân thành phố).



2. Nhóm giải pháp hỗ trợ về kinh tế:

a) Tăng cường công tác tư vấn, hướng nghiệp, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người nghèo, hộ nghèo:



- Kết hợp Chương trình phát triển nguồn nhân lực của từng địa phương theo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội để mang lại hiệu quả cao. Tổ chức hướng nghiệp dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động nghèo theo từng khu vực gắn liền với yêu cầu phát triển các ngành kinh tế địa phương. Chú trọng hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nhiều loại hình kinh tế khác nhau, nhằm phát triển đồng bộ các chương trình đào tạo, hướng nghiệp cho người lao động tại địa phương

- Tăng cường công tác hướng dẫn hỗ trợ nâng cao nhận thức, kiến thức kinh nghiệm cách sản xuất, làm ăn cho người nghèo, hộ nghèo. Thực hiện các chương trình phối hợp, lồng ghép với các dự án đầu tư phát triển kinh tế ngành, khu vực để tổ chức chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cho người nghèo, hộ nghèo như: kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, chế biến sản phẩm nông nghiệp, kỹ thuật sản xuất hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sử dụng nguyên liệu tại chỗ và sử dụng nhiều lao động để thu hút lao động, tạo việc làm cho hộ nghèo.

- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tại các vùng nông thôn, khai thác nguồn nhân lực nông nhàn, sử dụng nguồn nguyên liệu địa phương, tạo môi trường thuận lợi để giúp hộ nghèo phát triển sản xuất làm ăn và từng bước thoát nghèo. Thúc đẩy quá trình đô thị hóaá nông thôn làm cơ sở cho việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phân công lao động ở nông thôn. Khuyến khích dân cư nông thôn tự tạo việc làm ngay tại quê hương.

- Phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo nghề, tăng cường mối liên kết giữa hệ thống giáo dục và đào tạo nghề với thị trường lao động, với hệ thống dịch vụ và xúc tiến việc làm. Khuyến khích phát triển hệ thống dịch vụ việc làm hoạt động minh bạch và hữu hiệu trong cơ chế thị trường.

b) Phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, doanh nghiệp nhỏ và vừa của người nghèo, hộ nghèo, phát triển kinh tế hộ gia đình:

- Trong điều kiện kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, các hộ sản xuất hàng hóa, các cơ sở kinh doanh nhỏ và vừa trong mọi lĩnh vực, ngành nghề đang và sẽ phát triển nhanh, thay thế dần các hộ gia đình sản xuất đơn lẻ, tự cung tự cấp và nhất là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và hội nhập, nhu cầu hợp tác trở thành cấp thiết đối với hộ nghèo nếu muốn giảm nghèo vền vững.

- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, có hiệu quả, thúc đẩy cạnh tranh và tạo lòng tin để các doanh nghiệp và nhân dân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất. Khuyến khích kinh tế tập thể và tư nhân phát triển lâu dài. Đặc biệt là tập trung khuyến khích hình thành và phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, liên kết, các hợp tác xã của người nghèo, hộ nghèo trong mọi lĩnh vực ngành nghề; đáp ứng tốt yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi có hiệu quả; phát triển các dịch vụ đô thị như vệ sinh môi trường, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, các dịch vụ sản xuất và đời sống khác; tập hợp người nghèo, hộ nghèo, xã viên để từng bước mở rộng ngành nghề, vươn lên sản xuất kinh doanh tổng hợp.

- Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ vốn đầu tư để khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và mở rộng các hoạt động khuyến nông, tư vấn, hỗ trợ thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác để hình thành các chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản an toàn; từng bước nhân rộng mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ và phát triển các làng nghề gắn với du lịch và xuất khẩu.



- Thực hiện mô hình các Tổng Công ty, hoặc Công ty hợp đồng trực tiếp với xã và hộ nghèo phát triển vùng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm nhằm bảo đảm cho hộ nông dân nghèo có thể tiêu thụ sản phẩm với mức giá không thấp hơn chi phí sản xuất chung.

c) Tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng các phường - xã nghèo, khu vực nông thôn và vùng nghèo:

- Tiếp tục triển khai các cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, xây dựng nông thôn mới. Tập trung công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn. Tăng mức ngân sách hỗ trợ đầu tư và hỗ trợ lãi vay ngân hàng để thực hiện Chương trình nước sạch, Chương trình vệ sinh môi trường nông thôn (nhà vệ sinh, hầm biogas)...

- Xây dựng cơ chế quy định trách nhiệm của Chính quyền địa phương (cấp quận - huyện, phường – xã, thị trấn) phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành, có sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng ở các xã - phường nghèo đã được thành phố và quận - huyện đầu tư.

- Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động trợ giúp cho các xã nghèo và vùng nghèo như giúp phương tiện sinh hoạt; xây nhà vệ sinh tự hoại, gắn điện kế; tập trung đầu tư phát triển hệ thống giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi nội đồng; đẩy nhanh tiến độ dự án đầu tư, kiên cố hóa hệ thống thủy lợi kênh Đông - Củ Chi, bờ bao sông Sài Gòn; các công trình phòng chống lụt bão; góp phần cải thiện điều kiện sống và chất lượng cuộc sống vùng nông thôn, ngoại thành và người nghèo, hộ nghèo.

- Các quận - huyện, phường - xã, thị trấn tăng cường vận động thực hiện kế hoạch đầu tư nâng cấp hẻm, khai thông, nạo vét cống rãnh, làm sạch đường phố, đầu tư xây dựng thêm nhiều công trình phúc lợi công cộng theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm, từng bước làm thay đổi bộ mặt các xã - phường nghèo theo hướng tích cực hơn.

3. Nhóm giải pháp phát triển đời sống văn hóa, tinh thn và tăng cường thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho người nghèo, hộ nghèo:

a) Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, nâng cao trình độ dân trí và trình độ nghề nghiệp cho người nghèo là một trong những biện pháp trọng tâm của quá trình phát triển và mang tính quyết định đối với chương trình giảm nghèo thành phố.



- Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ miễn giảm học phí và tiền cơ sở vật chất nhà trường cho học sinh, sinh viên thuộc diện hộ nghèo. Hỗ trợ học bổng từ Quỹ Vì người nghèo, Quỹ khuyến học và các Quỹ xã hội, từ thiện khác cho học sinh nghèo vượt khó - học giỏi hàng năm; giảm ít nhất 50% các khoảng đóng góp khác cho nhà trường. Cụ thể:

+ Đối với hộ nghèo có thu nhập dưới 10 triệu đng/ngưi/năm: Tiếp tục thực hiện chế độ miễn 100% học phí và tiền cơ sở vật chất đối với các em học sinh từ mẫu giáo đến hết bậc phổ thông trung học đang học tại các trường công lập và ngoài công lập trên địa bàn thành phố. Đối với các trường ngoài công lập, mức học phí được miễn tương đương với mức học phí của các trường công lập cùng cấp.

- Từ năm học 2011 đến năm 2015, để thực hiện tốt chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình hộ nghèo thuộc nhóm hộ này, có con thứ 3 trở lên đi học chỉ được giảm 50% học phí và tiền cơ sở vật chất trường học theo quy định.



+ Đối với hộ nghèo có thu nhập trên10 triệu đến 12 triệu đng/ngưi/năm: Thực hiện chế độ giảm 50% học phí và tiền cơ sở vật chất cho tất cả học sinh từ mẫu giáo đến hết bậc phổ thông trung học.

- Từ năm năm học 2011 đến 2015 để thực hiện tốt chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình hộ nghèo thuộc nhóm hộ này, có con thứ ba trở lên đi học sẽ không giảm học phí và cơ sở vật chất trường học theo quy định.

Đồng thời, thực hiện chính sách khuyến khích miễn, giảm học phí cho học sinh thuộc diện hộ nghèo học các trường nghề, trường công nhân kỹ thuật và các trường trung học chuyên nghiệp của thành phố.

- Phối hợp với các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn thành phố thực hiện chế độ giảm học phí và cấp học bổng cho sinh viên thuộc diện hộ nghèo (theo chuẩn nghèo mới); ưu tiên cho vay vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Quỹ Vì người nghèo để đóng học phí và trang trải chi phí học tập cho các đối tượng này.

- Tập trung thực hiện các biện pháp hạn chế thấp nhất trường hợp con em hộ nghèo trong độ tuổi phải bỏ học hoặc nghỉ học vì lý do mưu sinh của gia đình. Tổ chức vận động đối tượng tham gia các lớp học phổ cập giáo dục (hỗ trợ tập sách giáo khoa và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các em học tập); phấn đấu hoàn thành chương trình phổ cập trung học phổ thông đối với thành viên diện hộ nghèo trong năm 2009.

- Có chính sách khuyến khích và tạo cơ hội cho thanh niên nghèo (nhất là khu vực nông thôn) học tập (văn hóa và học nghề) và tìm việc làm, có thu nhập ổn định cuộc sống sau khi tốt nghiệp; tổ chức đào tạo nghề mới cho những người thất nghiệp hoặc chuyển đổi nghề, nhất là lao động nghèo ở khu vực nội thành và các quận mới.

Bên cạnh các chính sách hỗ trợ, nhằm thực hiện tốt chủ trương sinh đẻ có kế họach, từ năm 2011 đến năm 2015, khi thực hiện miễn giảm học phí và tiền cơ sở vật chất trường học, sẽ áp dụng biện pháp chế tài ( không thực hiện miễn giảm cho thành viên thứ ba trở lên của hộ) đối với các hộ gia đình nghèo vi phạm sinh con thứ ba.

b) Tăng cường thực hiện các chính sách thích hợp và hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, hộ nghèo; giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi. Hỗ trợ miễn, giảm chi phí cho người nghèo khi khám và điều trị bệnh; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận dễ dàng các dịch vụ y tế.

- Thực hiện chính sách mua bảo hiểm y tế bắt buộc cho thành viên của hộ nghèo có mức thu nhập từ 8 triệu đồng/người/năm trở xuống và đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ; đồng thời, hỗ trợ người nghèo 50% chi phí mua thẻ bảo hiểm y tế bắt buộc đối với hộ có thu nhập trên 8 triệu đến 12 triệu đồng/người/năm theo phương thức tổ chức vận động hộ nghèo đóng 50% chi phí mua thẻ bảo hiểm y tế và ngân sách thành phố hỗ trợ 50%. Do mức thu chuẩn nghèo thành phố cao hơn mức chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2006-2010; thành phố vận dụng luật Bảo hiểm y tế cho hộ nghèo thành phố giai đoạn 3 (2009-2015) theo chế độ của nhóm đối tượng cận nghèo theo Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2009 và Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-TC ngày 14 tháng 8 năm 2009 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính. (thực hiện chế độ người nghèo đồng chi trả 20% chỉ số khám chữa bệnh).

- Tiếp tục thực hiện các chương trình khám chữa bệnh chăm lo sức khỏe cho người nghèo. Thiết lập hệ thống cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ toàn diện tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu; cải thiện, nâng cấp cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các trạm y tế xã - phường; đào tạo các nhân viên y tế cộng đồng, các kỹ thuật viên y tế để bảo đảm tiến hành tốt các công việc chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe và triển khai các hoạt động y tế dự phòng; tăng cường phòng chống các bệnh truyền nhiễm; đặc biệt chăm lo cho đối tượng là người nghèo ở các vùng sâu, vùng xa. Khống chế các bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm thường gặp như: sốt rét, lao, bướu cổ, phong, tâm thần. Chú trọng công tác vệ sinh phòng dịch, đảm bảo cung cấp nước sạch, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường sống.



- Đẩy mạnh việc kết hợp chăm sóc sức khỏe với các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, đồng thời nâng cao chất lượng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản. Duy trì xu thế giảm sinh một cách vững chắc và nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Tăng cường các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe, hạn chế các tập tục lạc hậu và lối sống có hại cho sức khỏe đối với người nghèo, hộ nghèo.

c) Về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo:

- Tiếp tục thực hiện chính sách xây dựng nhà tình thương, sửa chữa nhà ở cho hộ nghèo còn khó khăn về nhà ở theo đề án hỗ trợ nhà ở cho người nghèo đã được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt.

- Thực hiện chương trình di dời, giải tỏa, tái định cư cho 3.000 đến 5.000 căn của hộ nghèo sống trên kênh rạch, các khu nhà lụp xụp trong hẻm sâu theo quy hoạch chỉnh trang đô thị; nâng cấp các khu dân cư đã xuống cấp và xây dựng các khu chung cư mới. Hoàn thành chương trình di dời hộ dân sống ven sông biển và vùng trũng thấp có nguy cơ sạt lở và các khu dân cư mới ở huyện Cần Giờ và Nhà Bè.

- Đẩy mạnh thực hiện các chương trình cho vay vốn để người nghèo tự sửa chữa nhà, mua nhà dành cho người thu nhập thấp. Dự kiến mỗi năm, giải quyết từ 5.000 đến 10.000 trường hợp vay tiền để sửa chữa nhà; cho từ 200 đến 300 hộ vay tiền để mua nhà dành cho người có thu nhập thấp.

d) Về Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn:

- Đẩy nhanh tiến độ điều chỉnh nội dung dự án và triển khai lắp đặt đồng hồ nước cho hộ nghèo ở các quận - huyện.

- Tích cực vận động doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước, tổ chức nước ngoài và nhân dân xây dựng trạm cung cấp nước sinh hoạt cho những khu vực có nhu cầu bức xúc về nước sinh hoạt.

- Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình vệ sinh môi trường nông thôn (theo Quyết định số 26/2008/QĐ-UBND ngày 01 tháng 4 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố về phê duyệt Chương trình vệ sinh môi trường nông thôn thành phố giai đoạn 2008- 2010; cho vay vốn xây dựng nhà vệ sinh tự hoại, hầm biogaz (tập trung tại các quận ven, huyện ngoại thành).

đ) Về chương trình trợ giúp pháp lý cho người nghèo:

- Mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp luật để người nghèo có thể tiếp cận với các dịch vụ trợ giúp pháp luật.

- Khuyến khích các tổ chức xã hội tham gia các hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo để thường xuyên và kịp thời phổ biến những quy định của pháp luật, chính sách của nhà nước giải đáp, tư vấn về pháp luật cho người nghèo.

e) Đẩy mạnh các vận động cộng đồng xã hội ủng hộ chăm lo cho những hộ nghèo không có điều kiện và khả năng tổ chức cuộc sống có tích lũy để vượt qua mức chuẩn nghèo (hộ già yếu, neo đơn, không còn khả năng lao động…) :

- Có chính sách hỗ trợ và vận động các hộ nghèo có thành viên là người tàn tật, bại liệt, người bệnh tâm thần, người già yếu…, đưa những người này vào các Trung tâm Bảo trợ xã hội của thành phố hoặc các cơ sở bảo trợ xã hội tại cộng đồng nuôi dưỡng, chăm sóc. Đối với hộ có thành viên là người khuyết tật, bại liệt, người bệnh tâm thần, người già yếu nuôi dưỡng tại nhà mà hộ không có khả năng nâng thu nhập thì ngoài tiền trợ cấp xã hội (theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ) hưởng 150.000 đồng/tháng/suất, vận động quỹ xã hội từ thiện hỗ trợ thêm từ 350.000 đến 500.000 đồng/tháng/hộ để đảm bảo ổn định cuộc sống.

- Có chính sách hỗ trợ chi phí mai táng đối với hộ nghèo khi có tang chế: Quỹ Vì người nghèo các cấp và Quỹ xã hội từ thiện hỗ trợ mỗi suất hỏa táng từ 3- 4 triệu đồng để khuyến khích thực hiện hỏa táng và giúp giảm bớt gánh nặng của gia đình khi có tang chế; đồng thời khuyến khích người dân thực hiện hình thức hỏa táng.


g) Quan tâm thích đáng việc thực hiện bình đẳng về giới

- Tăng cường phát triển nguồn lực, đào tạo nghề cho phụ nữ nghèo, ưu tiên tạo việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ, tạo điều kiện cho chủ hộ nghèo là phụ nữ tiếp cận đầy đủ và bình đẳng các dịch vụ xã hội cơ bản.

- Hỗ trợ phụ nữ làm kinh tế, tạo việc làm và giảm nghèo thông qua việc mở rộng huy động vốn và hình thành Quỹ tín dụng hỗ trợ phụ nữ nghèo; khuyến nông, khuyến lâm, đào tạo nghề phi nông nghiệp cho phụ nữ; thành lập các tổ hợp tác nhằm tạo việc làm cho phụ nữ và hỗ trợ lẫn nhau trong kinh doanh; chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em, cải thiện môi trường sinh hoạt của địa phương; phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em và nâng cao chế độ ăn uống hợp dinh dưỡng cho gia đình, bảo vệ sức khỏe bà mẹ; thực hiện phong trào nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc; Đồng thời, phát động phong trào sử dụng tiết kiệm nhiên liệu, năng lượng và dùng các nguồn năng lượng sạch trong sinh hoạt gia đình.

h) Chính sách ưu đãi về thuế và miễn giảm các đóng góp cho hộ nghèo:

- Kiến nghị Trung ương có chính sách miễn hoặc giảm thuế hợp lý cho các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp có dự án hỗ trợ tạo việc làm cho người nghèo, hộ nghèo. Đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của hộ nghèo đề nghị được miễn thuế 2 năm đầu và giảm 50% cho từ một đến hai năm tiếp theo. Kiến nghị Trung ương miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp kể từ năm 2010.

- Tiếp tục thực hiện việc miễn giảm thu thủy lợi phí, miễn thu tiền đóng góp Quỹ phòng chống lụt bão đối với một số đối tượng nông dân, công dân ngoại thành; miễn hoặc giảm một tỷ lệ nhất định các khoản lệ phí, khoản đóng góp ở địa phương.

i) Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với Chương trình mục tiêu “3 giảm”; phòng, chống các loại tệ nạn xã hội…; từng bước nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho người nghèo; làm nền tảng vững chắc cho người nghèo ổn định việc làm và xây dựng cuộc sống mới:

- Tổ chức vận động hỗ trợ thêm máy vô tuyến truyền hình cho các ấp nghèo, các tụ điểm văn hóa; mở thêm các tủ sách lưu động ở vùng sâu, vùng xa thuộc các xã nghèo. Hội Nông dân thành phố và Hội Nông dân các cấp vận động hỗ trợ cho hộ nông dân nghèo chưa có máy vô tuyến truyền hình mỗi hộ 1 máy, nhằm đảm bảo 100% hộ nông dân có máy truyền hình.

- Tổ chức các đội thông tin lưu động thường xuyên về các xã nghèo, tập trung tuyên truyền, vận động nâng cao trình độ hiểu biết thông tin, giới thiệu những gương vượt khó, kinh nghiệm, cách làm hay để vượt nghèo, để vận động người nghèo cùng học tập, phấn đấu làm ăn, cải thiện đời sống của chính mình.

- Khuyến khích trí thức, văn nghệ sĩ thâm nhập thực tế, hòa nhập với cuộc sống của người nghèo để sáng tác những tác phẩm, công trình phục vụ cho việc cải thiện đời sống văn hóa cho đồng bào nghèo.


Каталог: Lists -> VBPL DB -> Attachments
Attachments -> QuyếT ĐỊnh của ubnd thành phố Về việc phê duyệt quy hoạch chung quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh
Attachments -> Ủy ban nhân dân quậN 12
Attachments -> QuyếT ĐỊnh của ubnd thành phố Về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
Attachments -> QuyếT ĐỊnh phê duyệt Chương trình phát triển hoa, cây kiểng trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011-2015
Attachments -> QuyếT ĐỊnh của ubnd thành phố V/v Phê duyệt đồ án điều chỉnh quy hoạch chung quận 5
Attachments -> QuyếT ĐỊnh của ubnd thành phố V/v Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung quận 11
Attachments -> Hoäi khkt xaây döÏng tp
Attachments -> Qđ-ub-đt tp. Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng năm 2000 quyếT ĐỊnh củA Ủy ban nhân dân thành phố
Attachments -> Xx nhân dâN

tải về 0.52 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương