Xuất phát từ tình hình đó, Uỷ ban nhân dân thị xã Kỳ Anh cùng các cơ quan chức năng có liên quan phối hợp thực hiện lập


Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế



tải về 479.44 Kb.
trang2/6
Chuyển đổi dữ liệu11.11.2017
Kích479.44 Kb.
1   2   3   4   5   6

2.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế


Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015 đạt trên 24,17% ; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó: Công nghiệp – Xây dựng: 67,14%, Thương mại – Dịch vụ: 29,53%, Nông nghiệp: 3,33%.

Giá trị sản xuất bình quân đầu người năm 2015 đạt trên 45 triệu đồng.


- Tổng dân số: 71.800 người.

- Tổng số hộ: 22000 hộ

- Tỷ lệ phát triển dân số: 1,08%

2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế


2.2.1. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục được tập trung chỉ đạo và tăng trưởng ở mức khá, từng bước hình thành chuỗi liên kết sản xuất.

Sản xuất nông nghiệp duy trì mức ở ổn định cả về diện tích và sản lượng, giá trị sản xuất ước đạt 377,481 tỷ đồng/464,3 tỷ đồng, bằng 81,30% KH, năng suất lúa đạt 41,87 tạ/ha, sản lượng 6.067 tấn, nâng tổng sản lượng lương thực đạt 6.082,8 tấn, bằng 94% kế hoạch.

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản: 442 ha, tập trung ở các xã: Kỳ Ninh, Kỳ Nam, Kỳ Trinh, .....; Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 6.610 tấn bằng 112%KH, trong đó sản lượng đánh bắt, khai thác đạt 5.250 tấn, sản lượng nuôi trồng đạt 1.360 tấn.

2.2.2.Việc quy hoạch, quản lý quy hoạch tiếp tục được tập trung chỉ đạo, chỉnh trang đô thị, hoàn thiện hạ tầng đô thị loại IV được ưu tiên nguồn lực:

Triển khai việc chỉnh trang đô thị như tập trung hoàn thiện hạ tầng đô thị loại IV ở các phường: Nâng cấp hệ thống thoát nước, vỉa hè và sửa chữa mặt đường các tuyến giao thông đô thị, khu vực phường Sông Trí, thị xã Kỳ Anh: đường Nhân Lý, đường Lê Quảng Ý, đường Lê Quảng Chí, đường Khu phố Hưng Hòa, đường từ Đài tưởng niệm đi vòng qua đến Chợ Kỳ Anh và hạ tầng ở 5 phường còn lại. Kiên quyết xử lý các sai phạm lấn chiếm lòng, lề đường, mái che, biển quảng cáo sai quy định; Phát hiện và xử lý 1.270/1.295 trường hợp vi phạm sử dụng lòng, lề đường, vỉa hè, hành lang an toàn giao thông; cưỡng chế tháo dỡ 42 ốt quán, 20 mái che. Chỉ đạo các xã, phường lập lại trật tự hành lang an toàn giao thông; Hướng dẫn, đôn đốc các xã dọc quốc lộ 1A thực hiện giải tỏa hành lang an toàn giao thông gắn với chỉnh trang đô thị.

Xây dựng Đề án về phát triển hạ tầng đô thị trên địa bàn thị xã Kỳ Anh đến năm 2018 đạt tiêu chí đô thị loại III; Đề án phát triển văn hóa, văn minh đô thị gắn với phát triển kinh tế đô thị. Xây dựng Bộ tiêu chí “Tuyến phố văn minh” và “Khu phố không rác” để triển khai thí điểm ở phường, rút kinh nghiệm, nhân rộng trên địa bàn. Thành lập Đội quản lý trật tự đô thị bước đầu phối hợp phòng chuyên môn và các xã, phường tổ chức kiểm tra, xử lý vi phạm về trật tự xây dựng, lập hồ sơ vi phạm đầy đủ theo quy định và xử lý theo pháp luật; ban hành Quy chế tạm thời quản lý trật tự đô thị, quy hoạch xây dựng trên địa bàn thị xã; trong năm đã cấp được 180 giấy phép xây dựng chính thức, 45 giấy phép xây dựng tạm, 04 giấy phép sửa chữa cải tạo cho các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân trên địa bàn thị xã.

2.2.3. Công nghiệp - TTCN, xây dựng tiếp tục tăng trưởng cao, thương mại - dịch vụ chuyển biến về chất lượng và đa dạng hóa các loại hình kinh doanh.

Giá trị sản xuất Công nghiệp - Xây dựng ước đạt 8.797,71 tỷ đồng, bằng 107%KH. Nhiều dự án lớn tiếp tục đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quả: Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 phát điện thương mại và hòa điện lưới Quốc gia 02 tổ máy, sản lượng điện sản xuất đạt 2.172 triệu kwh. Khu liên hợp gang thép Formosa được tạo điều kiện thuận lợi và tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công.

Thương mại dịch vụ phát triển mạnh với giá trị sản xuất: 4.076,1 tỷ đồng, bằng 159% so với năm 2014, tổng mức lưu chuyển bán lẻ và dịch vụ xã hội ước đạt 2.594 tỷ đồng, nâng giá trị ngành thương mại, dịch vụ chiếm 29,53% trong nền kinh tế. Chợ thị xã Kỳ Anh đã được các hộ tiểu thương và bà con nhân dân bước đầu đồng thuận, đã hoàn thành và đi vào hoạt động từ ngày 20/10/2015; Công tác quản lý thị trường được tập trung chỉ đạo, thành lập Đội Quản lý thị trường số 7 với biên chế 6 cán bộ quản lý trên địa bàn.

III. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG, XÃ HỘI

3.1. Giao thông

Thị xã Kỳ Anh có các loại hình giao thông đó là giao thông đường bộ và đường biển, phân bố khá hợp lý nên đã tạo được mạng lưới giao thông tương đối đồng bộ.

a) Đường bộ: Tổng chiều dài mạng đường bộ trong khu vực là 810,73 km (không kể 236 km đường trục chính nội đồng), trong đó:

- Quốc lộ: 55,8 Km, chiếm 6,88% gồm Quốc lộ 1 dài 34,8 Km, Quốc lộ 12C dài 21Km ( không tính 10 Km trùng Quốc lộ 1).

- Tỉnh lộ: 21 km, chiếm 2,59% ( đường tỉnh 555 gồm Thị xã lộ 10 và 14 cũ )

- Đường thị xã: có 6 tuyến/44,32 Km, chiếm 5,46% ( gồm một số đoạn của HL1, HL8, HL9,HL11, HL12,HL13).

- Đường trong Khu kinh tế : 46,81 Km, chiếm 5,77%.

- Đường đô thị (Thị trấn Kỳ Anh) : 47,2 Km, chiếm 5,82%.

- Đường liên xã, trục xã tổng chiều dài 99,11 Km, chiếm 12,22%

- Đường trục thôn xóm : tổng chiều dài 187,48 chiếm 23,12%

- Đường ngõ xóm : tổng chiều dài 309,01 Km chiếm 38,11 %.

b) Cảng biển:

Hiện tại Cảng Sơn Dương Vũng Áng đã có 07 cầu bến đi vào hoạt động (bến số 1+2 Cảng Vũng Áng, 02 bến chuyên dụng nhập than, 01 bến xăng dầu, 01 bến dịch vụ và 01 chuyên dụng của Formosa) với tổng lượng hàng thông qua các bến năm 2013 đạt trên 15 triệu tấn/năm; dự kiến trong năm 2014 sẽ có thêm 03 bến chuyên dụng của Formosa đi vào hoạt động và tổng lượng hàng thông qua của các cầu bến sẽ đạt trên 20 triệu tấn/năm; đến năm 2015 sẽ có thêm 08 cầu cảng chuyên dụng vào hoạt động và lượng hàng thông qua cảng sẽ đạt mức 35-40 triệu tấn/năm.

3.2. Cấp điện

Địa bàn thị xã mới có Trung tâm nhiệt điện Vũng Áng với tổng công suất 7.000MW. Hiện nay, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I công suất 1.200MW đã đi vào hoạt động; các Nhà máy nhiệt điện và điện khí của Formosa công suất 2.200MW đang chuẩn bị hòa lưới và hoàn thành vào năm 2016; Dự án Nhiệt điện Vũng Áng II công suất 1.200MW đang hoàn tất các thủ tục để chuẩn bị khởi công; Dự án Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng III với công suất 2.400 MW cũng đang được nhà đầu tư triển khai lập dự án.

Hệ thống lưới điện trên địa bàn khu vực trong những năm qua đã được đầu tư xây dựng khá hoàn thiện. Đến nay trên toàn khu vực đã sử dụng điện lưới quốc gia (đạt tỉ lệ 100% xã có điện), tỉ lệ hộ được dùng điện là 100%. Khu vực hiện đang được cấp điện từ lưới điện 110 KV quốc gia khu vực Trung Bộ, trực tiếp từ trạm biến áp 110/35/22KV – 25MVA Kỳ Anh.

Một số công trình năng lượng quan trọng được đưa vào sử dụng, hầu hết trên địa bàn các xã đều có trạm biến áp công suất lớn ... Các công trình chống quá tải lưới điện và đưa điện về các xã được chú trọng đầu tư.

Lưới điện 110kV: tuyến 110kV đi Kỳ Anh hiện tại là mạch nhánh. Lưới điện trung thế: Các tuyến điện trung thế cấp điện cho sinh hoạt và công cộng tại cảng Vũng Áng chủ yếu sử dụng cấp điện áp 35kV. Thị trấn Kỳ Anh còn tồn tại trạm trung gian 35/10kV, cấp điện cho khoảng 15 trạm hạ thế.

Lưới điện hạ thế ở khu vực nghiên cứu hiện đang sử dụng là lưới điện nổi 0,4KV, hiện tại nhiều khu vực còn là lưới điện nông thôn, bán kính dài và tổn thất còn lớn.



3.3. Cấp nước, thoát nước

Hiện tại trong khu vực đã xây dựng được 2 nhà máy xử lý nước cùng sử dụng nguồn nước hồ Kim Sơn:

- Nhà máy nước thị trấn Kỳ Anh được xây dựng tại đồi Cụp Bắp II có cao độ san nền 42m, công suất 3.000 m3/ngày.đêm. Nhà máy này cấp nước cho riêng thị trấn Kỳ Anh.

- Nhà máy nước Vũng Áng I công suất 5.000 m3/ngày.đêm, được xây dựng tại đồi Cụp Bắp I, cao độ san nền 62m. Nhà máy được xây dựng năm 2004.

- Ngoài ra, các hộ gia đình còn có giếng khơi và bể chứa nước mưa, đảm bảo 100% hộ dân có nước sạch, hợp vệ sinh phục vụ sinh hoạt.

- Hệ thống đường cống thoát nước thải sinh hoạt, sản xuất, nước mưa đã qua xử lý sơ bộ sau đó được thải ra kênh tiêu.

- Các dự án đầu tư và các Khu công nghiệp đã và đang xây dựng có khu xử lý nước thải riêng.

3.4. Bưu chính, viễn thông

Hạ tầng dịch vụ của ngành trong những năm qua được đầu tư khá mạnh theo hướng hiện đại hóa ngành công nghệ thông tin của cả nước, chất lượng dịch vụ đã đáp ứng tương đối tốt cho nhu cầu của khách hàng. Sóng điện thoại di động của các mạng di động lớn đã phủ rộng đến tất cả các xã trên địa bàn khu vực. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan Nhà nước trên địa bàn đã đạt một số kết quả nhất định.

Hiện nay mạng thông tin di động, hệ thống điện thoại cố định VNPT, cáp quang, Internet trên địa bàn được đưa vào hoạt động một cách ổn định đáp ứng tốt nhu cầu thông tin, trao đổi và làm việc trên địa bàn cho toàn thể tổ chức, bà con nhân dân, học sinh, sinh viên trên địa bàn phục vụ tốt nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội.

3.5. Giáo dục, đào tạo

Hiện nay trên địa bàn có 01 trường Cao đẳng nghề; 02 trung tâm dạy nghề và giáo dục thường xuyên; 01 Trung tâm dạy nghề tư thục đào tạo đa nghành nghề dịch vụ việc làm; 01 trung tâm chính trị cấp thị xã.

Chất lượng giáo dục, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS được nâng lên. Cơ sở vật chất trường học ngày càng được tăng cường. Trong vùng hiện có 02 trường TH phổ thông, quy mô 51 lớp học, với tổng số trên 4.500 học sinh; có 11 trường THCS, trong đó 07 trường đạt chuẩn quốc gia; 14 trường tiểu học và 11 trường mầm non các loại, đảm bảo 100% số trẻ em trong độ tuổi đến trường. Đặc biệt, 100% số xã, thị trấn có trung tâm giáo dục cộng đồng, góp phần thúc đẩy phong trào học tập của xã hội.

3.6. Y tế

Y tế khu vực đề nghị thành lập thị xã Kỳ Anh trong những năm vừa qua đã tạo đựơc chuyển biến tích cực trên một số mặt quan trọng, 100% số xã và thị trấn Kỳ Anh có cơ sở vật chất cho khám và điều trị bệnh như trung tâm y tế, các phòng khám đa khoa, các trạm y tế đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp, mỗi trạm được bố trí 1 bác sỹ, 3 y sỹ, 2 y tá. Chuyên môn nghiệp vụ và y đức của người thầy thuốc được nâng lên. Công tác phòng và điều trị bệnh cho nhân dân có tiến bộ, thực hiện tốt các chương trình Y tế quốc gia nên không để xảy ra dịch bệnh đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh trong vùng và phụ cận.



3.7. Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao

- 100% số xã, thị trấn có hội trường gắn với nhà văn hoá đa chức năng, có hệ thống truyền thanh đến xóm; 100% thôn, bản, khối có nhà văn hoá gắn với sân chơi. Phong trào xây dựng làng, cơ quan, đơn vị, gia đình văn hoá được mọi tầng lớp nhân dân ủng hộ và thực hiện với kết quả cao.

- Có 6 điểm đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia và cấp tỉnh là điểm đến của đông đảo du khách thập phương tham gia các hoạt động lễ hội, du lịch tâm linh.

- Phong trào văn hoá văn nghệ, TDTT diễn ra rộng khắp, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tập luyện TDTT, về văn nghệ quần chúng được nâng lên. Tham gia hội thi, hội diễn, các giải thể thao cấp tỉnh đạt thành tích cao.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương