VấN ĐỀ giáo dục chúng tôi viết Bài này để Kính nhớ ngày Giổ thứ 1



tải về 6.6 Mb.
trang9/29
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích6.6 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   29

Vì thế nó có thể coi như ý muốn của Tạo hoá “ như Luật Thiên nhiên nên dùng để làm tiêu chuẩn thì không có gì láo cả: lấy Ý của Tạo hoá biểu diễn qua Thiên nhiên để soi vào ý muốn của Tạo hoá được hiện hành trong xã hội loài người là phải, loài người có thể sai lầm, còn thiên nhiên vẫn không bị xuyên tạc hay nếu có đi nữa thì vẫn có thể dùng lý trí suy luận mà phân tích chối bỏ... không động đến uy quyền như đối với Tôn giáo, vì thế vẫn đễ làm hơn.

Đạo thiên nhiên đó đối với nước ta là Đạo làm Người hay là Việt Nho.

Theo đó thì yêu thương trung thực cũng là Tương Dung chân thực vì Tương Dung chân thực phải là một Nhân Đức mà đã gọi là Nhân Đức thì phải dựa trên một nền Triết lý Nhân bản. Có Nhân bản mới gọi được là Nhân đức thiếu nó chỉ là Đạo đức theo nghĩa Đạo của Tôn giáo mà không là Nhân đức theo Tính bản nhiên con Người.
Còn khi thiếu Triết lý thì không phải là Đức hiểu là Linh lực Nội khởi tự phát bởi Thâm tâm mỗi Người mà chỉ là công thức, là sự hoà đồng với công ước vậy thôi. Hay nói khác đó chỉ là Xã Đức, chưa là Nhân Đức vì chưa có nền tảng đích thực.
Bởi thế cần một nền Triết lý, nhưng không phải bất cứ Triết lý nào nhưng là một nền Triết lý xây trên Nhân tính con Người. Có y cứ trên Nhân tính thì con người mới có nền móng chung để nương tựa và để chấp nhận lẫn nhau.
Sở dĩ Tôn giáo hay gây chia rẽ vì Tôn giáo dựa theo quá nhiều Tập tục. Điều đó cần thiết ở giai đoạn sống cách biệt nhưng trở thành Nhân tố Chia rẽ trong thời đại liên châu, cần những cái gì phổ biến, thế mà tập tục vì là sản phẩm của từng nơi, từng thời, nên là toàn yếu tố dị biệt nên người xưa nói = “Tập tương viễn” nghĩa là Tập tục làm người ta xa nhau. Phải có Tính mới làm cho người ta gần lại Tính tương cận gần lại là đoàn kết yêu thương.
Vì thế mà cần học hỏi nghiên cứu tài bồi nền Triết lý về Nhân tính. Đến nỗi tôi coi đó là sứ mạng hiện đại của người Trí thức của mọi Tôn giáo. Sứ mạng có nhiều, nhưng khi nói đến Trí thức thì tất nhiên phải nói tới học hỏi nghiên cứu.

Nghiên cứu Tôn giáo hay Triết lý đều khác với nghiên cứu các ngành khác ở chỗ vừa đi về Nguồn suối vừa là những điều thiết yếu cho con Người. Mà vì hoàn cảnh đặc biệt của lúc này nên nghiên cứu Triết lý cần cho Nhân loại hơn vì hiện nó đang tan rã chia ly mạnh mà chưa tìm ra được nền móng kết hợp. Đó là điều ít được nhận ra.
Hiện nay ai cũng cho đức Tương Dung là cần. Mọi tôn giáo đều hô hào, nhưng đồng thời hết mọi Tôn giáo đều nỗ lực cổ võ học hỏi Đạo của mình, còn Nền móng chung của mọi con Người thì không ai ngó ngàng chi tới hết. Thế nghĩa là nếu phải nói toạc ra thì hết mọi Tôn giáo đang vô tình Gieo Gió rồi sẽ có ngày con người phải Gặp Bão, bão Hận thù, Đâm chém, Đốt phá.
Bởi vậy những người yêu nước chân thành, những người có lòng Nhân ái thực, những người chịu xem ra thì nhất định phải hoạt động cho sự lớn mạnh của một cội Gốc chung cho mọi con Người, cho mọi người Dân: Vi Cội gốc đó có được vun tưới tài bồi mới có ngày nở ra hoa trái thực.

Nền móng đó là Nhân bản Tâm linh cũng là nền Đức lý của Việt Nam chúng ta xưa kia, nhưng nay chúng ta đã đánh mất, mà vì chưa đâu đưa ra được nền móng mới thay vào, nên chúng ta phải làm phục hoạt lại nền Nhân bản của Tiên tổ đã sống giữa cảnh đa Giáo nên đã giàu kinh nghiệm về Tương Dung và đã được kết đúc vào Việt Nho.
Vì thế nó đã chứng tỏ cái khả năng hiện thực đức Tương Dung chân thực cho nên khi ta làm phục hoạt lại được cái tinh hoa đó thì một trật chúng ra có Đức Tương Dung cũng như có được cơ sở tinh thần chung cho mọi người dân trong nước, đồng thời có thể đóng góp vào thế giới trong việc định hướng đời sống con người hiện đang lạc hướng. Và rồi cuối cùng là tìm trở lại được cái tinh hoa cả Tôn giáo là Bác ái, Từ bi. Như thế là với Một hòn đá mà được Ba chim. Đó là một viễn tượng huy hoàng đủ sức đem lại cho chúng ta lòng can đảm cần thiết trong con đường mới này, một đường đòi phải có Trí, Nhân, Dũng đến tột độ.

Phải dùng Trí tuệ một cách bền gan mới nhìn ra nổi đường hướng mới như mỗi lần Nhân loại bước vào một khúc quanh lịch sử. Lúc còn đi đường thẳng thì chỉ việc theo đường đã có sẵn. Còn ở khúc quanh thì đi đường cũ sẽ là đi vào đường cụt: trước sau gì ác quả cũng sẽ tới. Thế nhưng con đường mới chỉ hiện ra cho những người có óc thông minh trí tuệ và bền bỉ lam việc. Ngoài ra còn phải có đức Dũng cảm phi thường vì bước chân lên đường mới cũng có nghĩa là hành xử khác với lân nhân, khác với sự xét đoán của dư luận quanh mình. Đã thế thì không thể trông chờ sự khuyến khích mà chỉ phải dọn sẵn Linh hồn đón nhận chỉ trích, ruồng bỏ, khinh bỉ hắt hủi, cô đơn, cám cảnh.... nhưng cũng phải chấp nhận, vì thâm tin rằng “Thiên Chúa là Yêu Thương” nên bao nhiêu cố gắng cho sự lớn mạnh của Yêu thương cũng chính là những cố gắng cho chân Đạo. Đàng khác phải nhớ rằng có còn Tổ quốc mới còn Đạo, cho nên hiện tại tuy đành ưu tiên cho Tổ quốc nhưng tựu kỳ trung cũng là lo cho Đạo, lo cách sâu xa nền móng.


Vì những lý do rất nghiêm trọng như thế cho nên mặc dầu ý thức được biết bao khó khăn chờ đón, tôi vẫn cương quyết nói rằng sứ mạng của người Trí thức các Tôn giáo lúc này là phải gây nên sự trỗi dậy mạnh mẽ Tinh thần Quốc gia, một Đạo lý về Tổ quốc, tức là một nền Triết lý Nhân sinh. Xưa nay ai cũng nghĩ là mình đang phụng sự Tổ quốc nhưng xét về phương diện học hỏi Nền móng vẫn trống trơn, ngoài những bổn phận Công dân thì về đàng Đạo lý Quốc gia hoàn toàn không có gì. Điều đó lỗi không tại người Tôn giáo, nhưng chỉ vì hiện Tổ quốc chưa có Chủ đạo. Làm thế nào cho Tổ quốc có được một Chủ đạo thì đó là bổn phận của mỗi người Công dân, và tôi gọi đó là sứ mạng vì nó bao hàm sự tìm kiếm và đi tiên phong nên khó hơn nhiều, vi thế mới phải chờ mong ở những phần tử sáng suốt nhất Trong mọi Tôn giáo và cả Ngoài các Tôn giáo nữa.

X.- CHUNG QUANH QUYỂN HIẾN CHƯƠNG GIÁO DỤC

( Phụ trương III )


“ Quyển Hiến chương giáo dục đã đưa lại cho chúng tôi một câu hỏi liên quan tới Kinh điển và Sinh ngữ. Về kinh điển chúng tôi sẽ trả lời trong quyển “từ Việt Nho tới Hán Nho” ở đây xin trả lời về vụ Sinh ngữ.
Một hai độc giả chống việc bắt học thuộc lòng, một hai người khác chống việc đưa Sinh ngữ vào Tiểu học.

Về điểm nhất xin thưa rằng đó là kinh nghiệm bản thân của chúng tôi. Lúc xưa chúng tôi không hề gặp người Pháp nào, còn giáo sư thì cũng chỉ trình độ sơ học tức là nói dăm ba câu vụn vặt, làm sao mà có thể dạy cho học trò giỏi sinh ngữ. Trong lớp tôi có mấy bạn rủ nhau học thuộc lòng các bài lecture. Sau mấy tháng trời đột nhiên thấy nói tiếng Pháp được. Tất nhiên giọng nói dở nhưng đã có thể nói những chuyện thông thường và sau vài năm đã có vẻ lưu loát, tất nhiên là một thứ tiếng Pháp hàn lâm. Trong khi đó có những bạn đồng lớp chuyên học ngữ luật và vocabulaire học hết quyển tự vị Barbier từ vần A đến Z thế mà không nói được mặc dầu nhiều người trí óc thông minh.

Đến nay tôi mới nhận thêm được bằng chứng là lối học thuộc lòng mà chúng tôi bó buộc “sáng tạo” ra khi xưa lại được chứng minh là phương pháp dạy ngoại ngữ hay nhất, đã được một số giáo sư công nhận.

Trong đó tôi xin kể tới phương pháp Mim-Mem (mimic-Memorize) do ông William L.Clark áp dụng trong quyển “Spoken American English” phương pháp đã đặt trọng tâm vào việc học thuộc lòng một số bài, con ngữ luật thì chỉ được coi là thứ yếu và luôn luôn đi sát bài mẫu học thuộc lòng. Những bài đó không cần dài nhưng buộc phải học rất kỹ để có thể đọc cách tự nhiên như nói, trong khi đó làm cử động y như lúc nói chuyện thường. Kết quả đã tỏ ra hữu hiệu hơn tất cả các phương pháp khác.

Và điểm đưa Sinh ngữ vào tiểu học, có thể lớp tư, ba (10,9) bị một số kêu là quá sớm. Nhưng chúng tôi thấy ngoài những lý lẽ đã đưa ra trong quyển Hiến Chương thì còn một khám phá của khoa ngữ học đó là cơ cấu mà trước kia ngữ luật không biết.

Vì ngữ luật ngừng lại ở đợt Ý thức, còn cơ cấu nằm sâu trong Tiềm thức.

Chính nó mới giải nghĩa được tại sao trẻ nít chỉ nghe những câu vắn, rời, không trọn vẹn thế mà rồi chúng nói rất đúng đó là nhờ cơ cấu ngôn ngữ đã in vào tiềm thức, mà khi đã in vào tiềm thức thì khỏi cần suy nghĩ, vì suy nghĩ thuộc đợt ngoài ý thức.



Tiềm thức tác động mạnh nhất cho tới lối 12 tuổi, chung quanh tuổi đó lý trí ý thức phát triển dần lấn đất của tiềm thức. Chính điều đó giải nghĩa tại sao học Sinh ngữ càng sớm càng mau, càng muộn càng dở. Muộn quá thì chỉ con có ý thức xoay xở, nên người học muộn phải vừa nói vừa nghĩ đến ngữ luật chứ không thể buột miệng nói ra như khi học còn nhỏ. Vậy muốn cho cơ cấu Sinh ngữ dễ được in vào Tiềm thức thì nền cho học lối lớp tư ba trở đi.
Và tất nhiên phải học thuộc lòng mỗi tuần một bài, không cần dài chỉ cần một phần tư trong quyển English for today đã đủ, miễn phải học thực kỹ, đọc trơn tru đến độ Mim-Mem. Ban đầu có thể tuần một bài đã đủ, quan trọng là ngày nào cũng bắt đọc. Như thế hết tiểu học thì hầu hết các em đã nói được rồi. Đó là những điểm trái với “phương pháp” được áp dụng hiện nay gởi trọn vẹn cho ý thức tức học đã muộn thế mà trọng tâm lại đặt ở ngữ luật và mots de famille. Dậy như thế thì có thêm giờ sinh ngữ cũng không nói được, và lúc phải nói thì phải vận dụng toàn ý thức, tức vừa nghĩ đến ngữ luật vừa nghĩ đến các tiếng rời. Kết quả là một thứ ngoại ngữ kỳ cục, được rặn ra một cách rất khó nhọc. Ai cũng than phiền về chuyện học sinh quá kém ngoại ngữ. Cái đó quá rõ và nó không vẻ vang tí nào cho lề lối đang áp dụng hiện nay mà phải bênh vực. “

Bài nói truyện với một nhóm sinh viên Công giáo, nhưng vấn đề có tầm chung cho mọi tôn giáo trên cả hoàn cầu, nên xin đổi chữ công giáo ra tôn giáo và in thêm vào phụ trương ./.

Y.-NGUN GỐC THÁI HÒA CỦA NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC
Theo Triết gia Kim Định thì muốn xây dựng một nền Giáo dục thì phải đề cấp tới hai phần chính:

Phần thứ nhất là Hiến chương tức là đường Hướng Giáo dục như Định hướng giáo dục, Mục tiêu của Giáo dục, Nội dung Giáo dục của các cấp từ Tiểu, Trung tới Đại học được y cứ vào Bộ sách Dân tộc.

Phần thứ hai là phần Lập pháp gồm phần soạn thảo Chương trình Giáo dục các cấp, phần này thuộc về Bộ Giáo dục.
Trong các Cơ chế Xã hội như Kinh tế, Giáo dục, Văn hoá, Xã hội, Chính trị thì Cơ chế nào cũng quan trọng cả, các Cơ chế lại có mối Liên hệ Cơ thể với nhau, không thể tách rời, tựu trung thì Kinh tế và Giáo dục là hai nền tảng của các cơ chế khác, nên việc đầu tiên là Xã hôi phải lo cho toàn dân có ăn no mặc ấm nghĩa là “ Phú chi “để Cải tiến Dân Sinh, và đồng thời phải “ Giáo chi “ để “ khai Dân Trí “ hầu “ chấn hưng Dân khí “ .

Không chấn hưng được Dân khí để xây dựng các Cơ chế Xã hội cho phát triển điều hoà thì không thể có đủ Nội lực để giữ nước được yên và phát triển nước được giàu mạnh, trong đó Phú Chi đứng hàng đầu, vì không có ăn là không tồn tại, lại nữa “ không có Thực thì không vực được Đạo làm Người “
Vậy một số vấn đế cấp bách được nêu ra:

1.- Con Người là ai? Từ đâu đến ? và khi sống thì làm gì ? và khi chết đi về đâu?

2. Khi sống trong Xã hội thì làm sao mà đoàn kết với nhau để sinh tồn mà Xây Nhà Dựng nước và Giữ nước ?

3.- Muốn đoàn kết với nhau thì cần phải có những yếu tố nào?

4.- Trong cuộc đấu tranh cho cuộc sống hàng ngày thì mỗi cá nhân gặp những khó khăn gì với chính cá nhân mình, những khó khăn nào trong Gia đình cũng như khó khăn đối với Thiên nhiên, đối với Cộng đồng cũng như đối với Quốc gia khác.

5.- Phải làm gì đ xây dựng đời sống Tinh thần và Vật chất giúp cho Gia đình được an vui hạnh phúc?

6.- Muốn xây dựng các Cơ chế xã hội được tiến bộ và bền vững thì phải làm sao?

7.- Muốn chống nạn ngoại xâm “ Dĩ cường lăng nhược “ thì phải làm những gì?

8.- Cuối cùng là khi qua đời thì còn lại những gì, nếu có linh hồn thì đi với ai và về đâu như ông Hồ ?
Đó là những câu hỏi mà cộng đồng Nhân loại phải trực diện để giải quyết cho ổn.
Để trả lời những câu hõi trên thì phải cậy đến ngành Giáo dực vì “ Bất Học vô thuật” Không học để biết “ cách làm Người “ sống Hoà với nhau cũng như “ cách Làm ăn “ được hiệu quả thì con người bị rơi vào vòng khổ lụy,

Muốn trả lời thoả đáng những vấn đề trên thì cần phải một sự hiểu biết Rộng và Sâu và sự hiểu biết phải có Hệ thống. Hệ thống đó phải Thống nhất và phải có Mối Liên hệ Nhất quán HÒA.

Câu trả lời nằm trong nền Văn hóa Thái Hòa Việt, đó là Việt Nho t Cơ cấu Ngũ hành với Tinh thần Triết lý An vi.
Việt Nho có Cơ cấu: 2-3, 5 từ Ngũ hành và Nội dung là:
Số 2: Thái hòa

Các cặp tiểu Thái cực bắt nguồn từ Thái cực được sinh hoá theo hai Chuần tắc:
1.-Chấp kỳ Lưỡng đoan : tất cả mọi cặp đối cực trong Vũ trụ đều được phân ra từ Thái cực có cùng Bản thể nên không loại trừ nhau mà phải chấp nhận nhau.
2.- Doãn chấp Kỳ Trung: Tuy cặp đối cực có mâu thuẩn với nhau nhưng phải đối thoại với nhau theo đưòng lối Chính trung tức là lẽ Công bằng để đạt tới giải pháp lưỡng lợi mà hoà với nhau, đó là nguồn mạch của Tiến bộ trong trạng thái Quân bình động nên luôn ổn định nên luôn luôn Hòa gọi là Thái hòa , đó chính là nguồn sinh sinh hoá trong Vũ trụ theo Dịch lý.
Số 3: Con Người Nhân chủ: Con Người không Duy Tâm để bị kéo Lên mà bị Mê tín dị đoan, cũng không duy Vật đè Xuống để dơ nắm tay chém giết cướp dật nhau mà đi dành miếng ăn, mà sống theo Dịch lý cũng là Thiên lý nên phải tự Lực tự Cường để có cuộc sống tự Chủ thuận theo Thiên lý, nên con Người Nhân chủcon Ngươi tự Chủ, tự Lực, tự Cường.
Số 5: Nguồn Tâm linh ( Hành Thổ ) là : Nguồn Sống / Nguồn Sáng ( thuộc trục Tâm linh : Thủy / Hỏa )

Nguồn Sống Vật chất.

Nguồn Sáng: Tinh thần:
1.- Nhân / Nghĩa; Hùng / DũngViệt Nho

2.- Từ bi / Trí tuệ; Hỷ xả nơi Phật giáo

3.- Bác ái /Công bằng; Tha thứ nơi Kitô giáo.


Những giá trị cao cả của Việt Nho, Kitô giáo và Phật giáo mang Bản chất Hoà.

Việt Nho và Triết lý An vi được tóm lại vào 6 chữ : ” THÁI HÒA. NHÂN CHỦ, TÂM LINH “ nhờ cách tác hành ( của các Hành Ngũ hành ) theo lối: CHÍ TRUNG HÒA.
Cần hiểu rõ nền Văn hoá Thái hòa Việt để nhận ra Tinh thần Hoà nằm tiềm ẩn trong Vũ trụ quan và Nhân sinh quan của Việt Nho, sở dĩ tinh thần Hoà tỏa lan như thế là nhờ mọi Cơ cấu Vũ trụ và Nhân sinh đều được sắp xếp theo Cơ cấu Ngũ hành từ cặp đối cực Âm / Dương hòa. Âm Dương hoà là cặp đối cực tổng quát gọi là Thái cực có cấu trúc Nhất nguyên lưỡng cực, nhờ “ tương thôi “ tức là vừa đấu tranh vừa hợp tác nên cặp đối cực luôn được Tiến bộ và Ổn định nhờ đạt thế Quân bình động.

Ta thấy từ Thái cực Âm Dương được phân ra hai cặp đối cực Thủy / Hỏa, Mộc / Kim. Ngũ hành là Cơ cấu của Vũ trụ và Nhân sinh.
( Xem bài Bàn về Cơ cấu Ngũ hành của Việt Nhân trên vietnamvanhien.net.index )
Chúng ta thấy Tinh thần Hoà của Việt Nho lan tỏa khắp mọi cấp bậc, do động lực của nguồn Dịch lý Âm / Dương Hòa:
1.- Trên Cấp Vũ trụ: thì Âm / Dương hoà: chúng ta thấy các cặp đối cực Gái / Trai, Mái / Trống, Cái / Đực, Nhụy Cái / Nhụy Đực khi kết hợp làm Một với nhau hay Lưỡng nhất thì tạo ra nguồn Sinh sinh Hóa hóa trong Vũ trụ.

Khi Sức Ly Tâm / Sức Quy Tâm, Tán / Tụ, Thời gian / Không gian, Vũ / Trụ . . . có đạt thế Quân bình động hay Lưỡng nhất thì mới duy trì được nguồn Biến dịch Bất biến trong Vũ trụ ở trạng thái Quân bình động tức là cái Hoà linh động theo từng Thời điểm nối tiếp nhau .
2.- Trong con Người. Khi một Người sống theo Tiêu chuẩn Tình / Nghĩa lưỡng nhất thì đạt Thân an / Tâm lạc.
Muốn có Tình Nghĩa thì phải Tu Thân theo Ngũ Thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín , ( Lễ, Trí, Tín đều có hai chiều, có thể tóm lại thành Nghĩa, nên Ngũ thường có thể gom lại thành Nhân / Nghĩa )

3.- Trong Gia đình. Khi Gái / Trai sống theo Tình / Nghĩa Vợ / Chồng hài hòa thì thuận hòa với nhau mà lập nên Tổ Ấm làm nền tảng cho Xã hôi.
4.- Trong Quốc gia khi mọi công dân đều hành xử với nhau Theo Tình / Nghĩa Đồng bào với lòng Bao dung để giúp đoàn kết với nhau mà chung Sức xây dựng và bảo vệ Nước.
Ngũ thường thuộc về Cá nhân, Ngũ luân thuộc về Công thể. Ngũ luân là 5 mối Liên hệ Hòa theo Nhân / Nghĩa trong xã hội, các mối Liên hệ đó là :

a.- Vợ / Chồng,

b.- Cha Mẹ / Con cái,

c.- Anh Chị / Em,

d.- Nhân dân / Chính quyền,

e.- Đồng bào với nhau cũng theo Tình / Nghĩa .
5.-Trong Lộ đồ Trị, Bình thì phải đem Đạo lý Nhân sinh vào Các Cơ chế Xã hội để thiết lập cho đươc Các Cơ chế xã hội vừa Tiến bộ vừa ổn định, nên không thể không đem Tinh thần Dịch lý của nền Văn hoá Thai hòa vào một cách thích hợp. Đó là :
Về Chính trị thì cặp đối cực Nhân quyền / Dân quyền phải điều hòa sao cho Lưỡng nhất

Về Kinh tế thì cặp đối cực Công hữu / Tư hữu phải điều hòa sao cho Lưỡng nhất.
Về Giáo dục thì cặp đối cực Thành Nhân / Thành Thân phải điều hoà sao cho Lưỡng nhất.

Về Xã hội thì cặp đối cực Dân sinh / Dân Trí phải điều hòa sao cho Lưỡng nhất.
6.- Trên bình diện Quốc tế thì theo Tinh thần “ Tứ hải giai Huynh / Đệ “ , mọi người đếu lấy Tình thương / Lý Công chính và đức Tương dung mà xử Hòa với nhau.
7.-Trên cấp Triết lý thì: Khi Triết lý Vô vi / Triết lý Hữu vi Lưỡng nhất thì đạt An vi để có An hành mới sống Hoà với nhau được.
Do đó mà Trung Dung có câu:
Trung giả Thiên Hạ chi đại Bản: Hai bên ( Chấp kỳ Lưỡng đoan ) biết chấp nhận nhau là điều tiên quyết để đối thoại với nhau mà giải quyết Bất Hòa.
Hoà giả, Thiên Hạ chi đạt Đạo: Hoà là khi cã Vũ trụ đạt được Tiết nhịp hòa của Đạo Đạo Âm Dương hoà, Hòa được là nhờ hai bên hành xử theo lối Chính Trung ( Doãn chấp kỳ Trung )
Thiên Địa vị Yên: Khi mọi thứ trong Vũ trụ đều sắp xếp theo Cơ cấu Ngũ hành, tức là theo các cặp đối xng với nhau qua Tâm hay Trục đối xứng.
Vạn vật dục yên: Khi đó thì vạn vật đều được nuôi dưỡng để Tồn tại và Phát triển nhờ được vận hành theo Dịch lý..
CHÍ TRUNG HÒA: Có hành xử mọi thứ theo lối Chính trung ( Công bằng ) thi mới đạt Thái Hòa.
Triết gia Kinh Định đã mài miệt 50 năm mới khai quật lên được nền Văn hoá Thái hòa Dân tộc Việt , nn Văn hóa này đã bị nạn “ Dĩ Cương lăng Nhược “ của Bắc và Tây phương làm cho tiêu trầm qua hàng ngàn thế kỷ.

Triết gia đã để lại cho chúng ta những công trình độc đáo bao gồm những tư tưởng rộng sâu được trích ở trên, giúp khai ngộ chúng ta về nền Giáo dục Lưỡng diện mang bản chất Tiến bộ và Thái hòa, nên Giáo dục mang bản chất Thái hòa, nhcó một Hệ thống Cơ thể Thống nhất được liên kết bởi nét Nhất quán tiểu Thái cực mang Bản chất Tiến bộ luôn ở trạng thái Quân bình động ( Dynamic equilibrium ) hay luôn Ổn định..
Qua đó, chúng ta có thể lần ra:
1.- Giáo dục là gì? Dạy con Người điều Nhân ái giúp con Người làm điều Công chính, tức là theo tiêu chuẩn Nhân / Nghĩa .
2.- Mục tiêu của Giáo dục: Đào luyện cho con Người thành Nhân để có Tư cách để không làm điều Bất công và thành Thân để có Khả năng hầu ăn nên làm ra mà sống, khỏi phải ăn cướp.



3.- Hướng của Giáo dục: Thống nhất trong Hòa hợp, tránh lối Đồng nhất theo con đường cực đoan bóp nghẹt sự sống của con Người. Thống nhất trong sự Chân thực nghĩa là chấp nhận mọi Khuynh hướng dị biệt, dành cho mỗi khuynh hướng một chỗ đứng, tất cả sinh hoạt phải tuân theo một Tiết nhịp hài hòa giúp cho sự sinh hoạt cộng đồng được tồn tại và phát triển, đồng thời cũng thống nhất trong hành động nghĩa là không chỉ Cưỡng hành để áp bức bóc lột nhau hay Lợi hành mà cấu xé nhau mà An hành theo Chính nghĩa để sống hòa với nhau. ( An hành là lối hành Chiết trung giữa Cưỡng và Lợi hành )

Muốn vậy phải đi lên tận nguồn Tâm linh mới đủ hai chiều Rộng Sâu mới dung thông nổi mọi Dị biệt, đó là Thái cực .

4.- Phân biệt hai lối Giáo dục:
Đồng nhất: Là lối Giáo dục độc hữu, nhồi sọ và Suy nghĩ hộ.
Giải phóng: là lối Giáo dục thanh thoát, không lấy sách vở làm tiêu chuẩn tối hậu, tránh công kích để Dung thông với nhau.
5.- Triết lý nhân sinh là Triết lý nuôi dưỡng và thăng hoa cuộc Sống con Người , mọi Người: Trong 3 nhu yếu của Thiên Tính về: Thực Sắc, Diện, thì:

Thực để nuôi sống Vật chất cho được khỏe mạnh.( Phú chi )

Sắc, Diện để thăng hoa cuộc sống Tinh thần con Ngưòi cho được minh mẫn. ( Giáo chi )
Đó là nhu yếu thiết thân, chứ không cần đến lý tưởng cao vút trên Trời hay sâu tận dưới Đất khó mà đạt tới.
Thực, Sắc, Diện là nhu yếu của mỗi con Người và mọi Người để đáp ứng với Tinh trạng Đạo Tâm suy đồi, Nhân Tâm ly tán hiện nay.
Muốn được vậy thì phải cần tới Triết của Đông phương với Triệt Thượng và Triệt Hạ. Triệt Thương để vươn tới nguồn Linh lực nơi Tâm linh, để nối kết mọi người lại với nhau, Triệt Hạ để khám phá ra những định luật Khoa học nơi Vật chất để giúp mọi người Ăn nên Làm ra và đồng thời phải làm sao cho hai lãnh vực Thượng Hạ được Lưỡng nhất thì mới cung cấp điều hòa nhu yếu Vật chất và Tinh thần cho con Người phát triển toàn diện, như vậy mới đạt Minh Triết.
6.- Hai nền tảng của Giáo dục: Huấn linh & Bác vấn
Huấn linh: Muốn huấn linh thì phải có Cơ sở Tinh thần đề y cứ vào mà đào luyện mà bồi dưỡng cho nhập thần như Thần linh, đây là chiều Sâu, như vậy thì phải vươn tới nguồn Tinh thần nơi Tâm linh.
Bác vấn: phải Quảng vấn tức là học Rộng. Bác vấn là chiều Rộng để hiểu thấu những định luật Khoa học về Vật chất .
Ngoài ra phải điều hòa cho Hai chiều Rộng / Sâu hay Khoa học / Tâm linh được lưỡng nhất hay hoà hợp cân đối với nhau.
7.- Bộ sách Dân tộc: Là những yếu tố làm nên Dân tộc như Đất đai, Giòng máu, Tiếng nói tuy quan trọng, nhưng một Cơ sở Tinh thần làm cho Dân tộc được vững mạnh và trường tồn lại quan yếu hơn.

Sứ mạng của nền giáo dục Quốc gia chính là gây dựng vun tưới cho Cơ sở Tinh thần nói trên. Nó làm cốt tuỷ cho cái gọi là Huấn linh, tức là huấn luyện cho dân nước có một cái Hướng sống lý tưởng. Để chu toàn Sứ mạng trên, điều cần trước hết là phải có Bộ Sách Dân Tộc. Mà đã là sách Dân tộc thì phải có Kinh Điển.

8.- Nội dung của Bộ sách Dân tộc phải gồm 4 Pho: Kinh, Triết, Sử, Văn

BỘ SÁCH DÂN TỘC

Những yếu tố làm nên Dân tộc như Dất đai, Giòng máu, Tiếng nói tuy quan trọng, nhưng một Cơ sở Tinh thần làm cho Dân tộc được vững mạnh và trường tồn lại quan yếu hơn.

Sứ mạng của nền giáo dục Quốc gia chính là gây dựng vun tưới cho Cơ sở Tinh thần nói trên. Nó làm cốt tuỷ cho cái gọi là Huấn linh, tức là huấn luyện cho dân nước có một cái Hướng sống lý tưởng. Để chu toàn Sứ mạng trên, điều cần trước hết là phải có Bộ Sách Dân Tộc. Mà đã là sách Dân tộc thì phải có Kinh Điển.
Sách Kinh điển phải hội đủ các điều kiện sau: Nhân bản, Tâm linh, Giải phóng, Bình dân và Trường tồn ( lâu đời ), như đã bàn ở trên.
Nhân bản: Đáp ứng được Nhu yếu thâm sâu của con người hợp với Thiên lý.

Tâm linh: Nguồn Sống ( Vật chất ) và nguồn Sáng ( Tinh thần ) .

Giải phóng: Phải biến dịch, luôn đổi thay.

Bình dân: Ai ai cũng tham dự vào được.

Trưòng tôn: Không là nhu cầu giai đoạn.
Triết lý là những sách bàn về Đạo lý hàm chứa trong Kinh Điển, bằng đua ra một số khía cạnh nào đó, bàn cho xác đáng và có lý giải, vì thế Triết lý không đáp ứng đủ năm điều kiện trên kia, thí dụ lối Văn có luận chứng gãy gọn, hệ thống, chứ không là lối Văn âm u hàm hồ của Kinh Điển.

Triết lý thường xuất hiện về sau, không bao gồm được những thế hệ xa xưa như Kinh Điển. Vì thế, Kinh điển chỉ có một mà Triết lý thì có nhiều: mỗi giai đoạn cần một triết lý mới, Viễn Đông đã có những nền triết lý của Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng Thư đời Hán, rồi Chu Trình đời Tống và Vương Dương Minh v. v. . .



Khi Triết lý không y cứ trên Kinh Điển, thì thường bàn tùm lum những vấn đề ngoài Thân Tâm con người và ta sẽ gọi là Triết học, thí dụ Triết học duy niệm của Tây Âu.
Sau triết lý là Văn chương như Thơ, Phú, Tiểu thuyết, Tuồng, Kịch . . , nó có nhiệm vụ nhắc nhở đến Đạo lý cho người đã học và đang bận những việc khác không còn thì giờ rảnh rổi để học, đúng hơn đã học về căn bản rồi, nay cần học hỏi để phát triển thêm.

Văn chương thuộc Văn hoá hậu trường, nên phải viết một cách nghệ thuật, nghĩa là dùng những câu nói khéo, những ý tưởng đẹp và lôi cuốn, để cho người ta dễ nghe ,dễ chấp nhận. Cũng vì thế mà Văn nghệ phải thay đổi dạng thức luôn luôn, nên Văn nghệ năng thay đổi hơn Triết.



Văn nghệ đổi mười, Triết chỉ đổi một hai, còn Kinh Điển không bao giờ thay đổi. Vì thế mà Kinh Điển là sợi giây nối kết các thế hệ khác xa nhau rất nhiều .Sự phân biệt trên giúp ta giải quyết những thắc mắc giữa Tiến hoá và Truyền thống.

Về phía trung thành với Truyền thống đã có Kinh, còn phía Tiến hoá theo thời đã có Truyện tức là Triết lý và Văn nghệ. Tiền nhân chúng ta đã phân ra : Kinh , Sử , Tử , Truyện hay cách khác là Kinh, Triết, Sử, Văn.

a.- Kinh

Kinh tức là Kinh Ðiển ( canon ) gồm những sách nền tảng nhất đóng vai trò của Thánh Kinh trong các Tôn giáo. Chúng ta không có Thánh Kinh thì phải có Kinh Ðiển theo nghĩa sách bao gồm các “ Kinh ” nghiệm sống của người xưa, tàng chứa những chân lý sâu xa mà chúng ta phải coi như điển chương, như mẫu mực, phần mà ai cũng học hay ít ra phải đọc, phải có trong gia đình để một nơi đáng kính. Những sách thuộc về Kinh Điển Việt Nam, ta có thể kể :


A1.- Một số truyền kỳ thuộc thời Hồng Bàng như : “ Lĩnh Nam chích quái ” Việt Điện u linh “, Truyền kỳ mạn lục ” . . .
A2.- Một số sách Nho giáo là của chung của Dân tộc Viễn Đông, mà Bách Việt đã đóng góp một phần quan trọng, đó là di sản cố cựu quen thuộc và đáp ứng được tất cả năm tiêu chuẩn của sách Kinh, những sách do các Thánh nhân viết thì gọi là Kinh, các hiền giả thuật lại lời Thánh nhân thì gọi là Truyện ( Thánh nhân chế tác viết Kinh, Hiền giả trứ thuật viết truyện ) Đó là các quyển như Tam Tự kinh, Minh Tâm bảo giám, Đại học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, ngũ Kinh như Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Phật giáo, Đạo Đức Kinh & Nam Hoa Kinh .. .
Kinh Thi là Kinh Dân viết Sách

Kinh Thư là Kinh Dân làm Chủ

Kinh Dịch là Thuật Quyền biến

Kinh Lễ là kinh khi Người ở với Người

Kinh Xuân Thu Kinh Đem Đạo lý Nhân sinh vào Đời

Kinh Nhạc là Kinh Hoà, Nhạc là bà Chúa của nghệ thuật. ( Kinh này đã để mất )
A3.- Một số Ca dao, Tục ngữ,Ngạn ngữ, một số bài Thơ, bài Hát được truyền tụng nhiều.

b.-Triết



Triết là sách giải nghĩa Kinh Ðiển cho hợp với cảm quan thời đại. Nó sẽ là con thoi đi từ Kinh Ðiển vào đời sống cũng như vào Sử Văn, giúp cho tất cả thêm phần ý thức sâu xa về Đạo, về Đời. Nó cũng đóng vai trò Hiện đại hoá kinh sách như Văn, nhưng khác ở chỗ đi tận nền và cách bao quát, có hệ thống . Thiếu Triết thì Kinh trở nên mớ chữ chết khô.

Nói tóm lại, ta có thể khai thác trong các Kinh Điển, trong các truyện trên để tìm ra những điểm chính về Nhân sinh quan và Vũ trụ quan của Tổ tiên ta.

c.- Sử

Sử gồm có Huyền sửLịch sử:

Huyền sử là Sử vượt không gian và Thời gian, Huyền sử là nhng Huyền thoại, nhất là Nhân thoại . Nhân thoại chất chứa nền tảng Tinh thần của Dân tộc để ý cứ vào đó mà xây dựng Gia đính và Quốc gia.

Còn Lịch sử là sử của những Biến cố thăng trầm của Dân tộc xẩy ra trong Không gian và Thới gian xác định .

Nói đến đây là muốn Sử chỉ một bản tóm lược, thường là bản văn dùng làm “ khung lịch sử ” chung cho mọi người trong nước hầu như thuộc lòng, bất ký ai dù thất học cũng phải đọc qua. Vì thế nó phải có địa vị trong bộ sách dân tộc. Quyển sử này không thay thế những sách Sử Địa từ Trung cấp trở lên đến Đại học và các pho Sử bác học. Những loại này thuộc văn học sẽ tuỳ thời, tuỳ tài giáo khoa hay những khám phá mới mà thay đổi .



Sử nói ở đây chỉ là bản tóm nên cần vắn tắt, kiểu như Tam Tự Kinh, hay “ Ðại Nam quốc sử diễn ca hoặc một phần quyển “ Thiên Nam ngữ lục ” hoặc làm ra một quyển bằng văn vần, ngũ ngôn chẳng hạn.

Một khi được chấp nhận thì không nên đổi nữa, để giữa đồng bào có thêm “ mối tình giáo khoa ”, vì ai cũng học theo đó, lấy đó làm khung ( để chấp nhận hay tranh luận ) làm tiêu điểm .

Ta chỉ cần viết lên những mốc biến chuyển lớn của lịch sử để ta thấy được những nét chính của sinh hoạt Dân tộc ta. Nếu ta có được một cuốn Việt Sử ca gọn gàng cho dễ học và dễ nhớ hầu ai cũng thích đọc và học thì quý lắm “.

Huyền sử thuộc lãnh vực Nội khởi ( inward world ) còn Lịch sứ thuộc Ngoại khởi ( Outward world ), nên Lịch sử là tấm gương phản chiếu l mờ của Huyền sử ( The outworld is the dim reflection of inward world ), Nho bảo là : “ Hữu ư Trung tất hình ư Ngoại “, người bình dân bảo: “ con Người làm sao Bào hao làm vậy “ . .
d.-Văn

Cũng là một lối mở rộng Kinh vào đời sống như Triết nhưng không theo lối lý luận chặt chẽ như triết mà đi theo lối Nghệ thuật như thi Ca, Tiểu thuyết, Tuồng kịch, hoặc nghiên cứu kiểu Văn học. Như vậy văn ở đây hiểu theo hai nghĩa :

Trước hết là những áng văn kiệt tác, trong dĩ vãng gọi là nhân văn cổ điển ( classics ), thí dụ truyện Kiều. Phần này một khi được vào sổ bộ, thì cũng bất biến, nhưng không buộc mọi người đọc ít ra tất cả, vì thế có nhiều cổ điển, không hạn chế số .

Hai là những động tác Văn học, Văn hoá Văn nghệ đi sát thời cuộc, cũng như đi mạnh vào chi tiết, vào từng khía cạnh. Phần này biến chuyển luôn, thí dụ từ Nam Phong rồi đến Tự Lực Văn Ðoàn cho đến ngày nay, ít ra có ba giai đoạn văn học.

Văn theo nghĩa này thì chúng ta không thiếu, ngay cả trong cảnh tỵ nạn cũng được gọi là khá phong phú; chỉ cần duy trì và gia tăng phẩm chất. Tóm lại theo nghĩa hai thì đã và đang có rất nhiều và hay biến đổi.



Về sau, mỗi giai đoạn chỉ để một vài đại biểu để trở thành Cổ điển .

Triết cũng thay đổi nhưng tới hạn lâu hơn nhiều, mỗi giai đoạn có thể bao gồm nhiều trăm năm, thí dụ bên Tàu sau Tuân Tử, Mạnh Tử đời Chiến Quốc, thì đến Ðổng Trọng Thư đời Hán, rồi Chu Trình đời Tống, tiếp đến đổi mới ngày nay . . . “
Đây là một công trình to lớn và khó khăn, cần phải có sự đóng góp của nhiều người, cần phải có thời gian và nhiều công sức, nhất là phải có một tổ chức như Bộ Giáo dục để quy tụ những người có khả năng và tâm huyết, và phải có đủ tài chánh mới thực hiện đuợc. Một số điều kiện này ở trong nước đã có, nhưng chưa có một Chủ đạo rõ ràng để khởi công. Còn ở hải ngoại, nếu chúng ta tìm được số người có một học vấn uyên thâm và quảng bác nâng đỡ chúng ta, để cho chúng ta thỉnh ý, giúp cho những bài viết của chúng ta bớt sai lầm đi. Nhưng trong thực tế hiện nay ở đây, chúng ta chưa có cái may mắn đó .
Vậy thì chúng ta cứ bắt đầu theo khả năng khiêm tốn của chúng ta, chẳng thà chúng ta cứ bắt đầu mà không nên việc, còn hơn là chúng ta cầu toàn ngồi mà đợi, đợi cái không bao giờ sao!
Chúng tôi mạo muội, viết một số tài liệu cho các trẻ em ở cấp tiểu học trung học, may ra có giúp được chút gì cho thầy cô dạy Việt và chữ Nho, nhất là quý vị đang định cư các nước trên thế giới. Chúng tôi trích ra một số Kinh Điển làm tài liệu cho các thầy cô, rối thu gọn lại cho các trẻ em, và góp vài ý kiến chính như là phần triết được rút ra từ các tài liệu được trích. Phần lựa chọn bài học cũng như chương trình học là do sự sắp xếp của Thầy Cô.

Khi đã có Bộ sách Dân tộc rồi thì ta sẽ hết lúng túng khi bảo con cháu tránh nạn vong bản, vì ta biết “ Bản ” đó nằm ở sách nào, có thể đưa cho chúng đọc để chúng không bị lúng túng trước rừng sách vở ( chắc người Việt tỵ nạn khắp nơi cảm thấy sâu xa về sự cần thiết có một bộ sách Dân tộc hơn bao giờ hết ). Làm thế sẽ tránh được cho chúng khỏi mất nhiều thỉ giờ đọc những sách không mấy giá trị vừa uổng công vừa mất tin tưởng vào Dân tộc. Trái lại khi đã có Bộ sách Dân tộc thì ta biết liền đâu là chỗ y cứ, đâu là sợi giây tinh thần để tâm hồn được ràng buộc với các nhóm Lạc Việt sống rải rác khắp năm châu bốn biển .” ( Kim Định )



9.- Tìm cho nhân loại một nền móng Tinh thần Thống nhất.
Đấy là một mục phiêu cao thượng quý hóa xiết bao, rất đáng làm hứng khởi mọi Tâm hồn quảng đại bao la, rất thích hợp với ý hướng Triết lý Nho giáo nhằm “an bang tế thế” (trị quốc bình thiên hạ). Tuy nhiên học về Tam giáo cũng có ba bảy đường, y như trong thực tế Tam giáo không phải chỉ có tạo nên được bầu khí tương dung tốt đẹp như vừa kể trên, mà trái lại cũng đã gây ra những vụ xích mích, bách hại, đả kích nhau.

Bức họa vẽ Phật pháp trên tòa sen.



Lão tay cầm sách Đạo Đức Kinh tay luyện linh đơn trong lò Bát quái,

Đang khi đó Khổng lòm còm dưới Đất như trẻ con, là một bằng chứng.

Bên Lão Trang thì tràn đầy những bài đả kích Nhân Nghĩa của Khổng Nho.

Bên Nho cũng không chịu kém như ta có thể thấy chẳng hạn trong bài thơ :


Phật thị thuyết pháp, Lão thị đàm kinh, Khổng Tử kiến chi, tiếu nhi truỵ địa” :
Họ Phật giảng pháp, họ Lão bàn kinh, Khổng Tử xem thấy, cười lăn ra đất”.

Đó là những nét đen làm hoen ố bức tranh Tương dung mới nhắc tới ở trên.

Nguyên nhân tại đâu? Xét ra thì tại những Học giả, những con Đạo đã gây nên những bóng đen đáng tiếc kia, đã không hiểu đúng hay ít ra không giữ đúng được cái ý nghĩa uyên nguyên của chữ Đạo, chữ Giáo như chúng ta tìm thấy ở đầu chương.

Nho thì đâm ra tầm chương khoa cử. Thích thì đi về Tôn giáo, còn Lão chuyên về Huyền đạo. Nhân đó đâm ra khích bác nhau.

Rõ ràng là đồng minh trong Triết lý mà cạnh tranh trong Tôn giáo.
Vì vậy cần thiết phải nhắc lại để quy định cái hướng học hỏi của chúng ta. Trên ta thấy có bốn nấc của nghĩa chữ Đạo chữ Giáo, thì trong việc học hỏi ta cũng có thể chia ra bốn nấc tương đương.
1) Đợt cuối cùng phải kể đến là đám Danh học, Hình học mà người tiêu biểu là Huệ Thi với câu phê phán của Tuân Tử: “ Huệ tử tế ư từ nhi bất tri thực”. Huệ tử vướng mắc ở lời nói nên không nhìn ra thực tại. Phải xếp vào hạng này các thứ học từ chương, huấn hỗ, những người chuyên về văn nghệ duy mỹ dễ bị cái tội tế ư từ này, Tây Phương kêu là Duy từ ngữ (terministers). Đấy là cái học của “loài ve, kêu suốt mùa hè, đến lúc gió lạnh thổi, nguồn cơn thật bối rối”, bởi vì xem vào sở học thì toàn hư từ rỗng tuếch. Với họ cần nhắc lại khẩu hiệu “ từ đạt nhi dĩ hĩ ” (res et non verba: cốt sự mới quan trọng chứ không phải là hư từ).
2) Đợt trên một chút có thể xếp hạng học Duy tư, Duy niệm (conceptualistes) mà Khổng cho là “ tư nhi bất học tắc đãi ”. Suy tư suông mà không thực học (ý nghĩa chữ học của Khổng) thì nguy lắm. Đấy là cái học mọt sách, chỉ chú ý học mà không chịu xem cái học đó có hướng đến cái gì ơn ích chăng, thật không ăn nhằm chi với Đạo Nhân sinh của thánh hiền, mỗi lời nói ra là để cứu dân khỏi cảnh lầm than cơ khổ.
3) Đợt cao hơn chút nữa là bám lấy một Tôn giáo tư riêng, rồi lấy danh từ lý sự mà tranh hơn tranh kém, đạo này cao đạo kia thấp. Khổng Tử trách Tử Cống phí thì giờ so sánh ông này thấp ông kia cao (Tử Cống phương nhơn… XIV. 31). Những con Đạo này càng đông thì bầu khí bất Tương dung càng trở nên ngột ngạt nặng nề, chỉ cần xem chính bản thân của họ: cuồng tín, hẹp hòi mà hết muốn xét tới cái Đạo của họ giữ. Vì với hạng đó thì đạo nào cũng chẳng làm họ trở nên đại độ bao dung được ( phi đạo hoằng nhơn ).

Lục Cửu Uyên than:

Đạo Lớn bị người làm nó ra Nhỏ

Đạo Công tự người làm nó ra Tư

Đạo Rộng tự người làm nó ra Hẹp”
Đạo Đại nhơn tự Tiểu chi

Đạo Công nhơn tự Tư chi

Đạo Quảng nhơn tự Hiệp chi

Mấy thứ đạo câu chấp nhỏ nhen đó mà người tri thức để cho ngoai ra ở đâu thì có ngày chiến tranh Tôn giáo bùng nổ ở đấy.



Chúng ta nên trung thành với Truyền Thống mà coi óc bất Tương dung như dấu chứng những người đó không đủ khả năng cảm nghiệm được tinh thần của Đạo. (L’intolérance est considéré comme une inaptitude à l’expérience religieuse. Herbert, 92).

Lão Tử nói Tri Thường Dung ”. Người biết được đạo Thường Hằng thì có bụng Bao dung. Bởi cái Đạo đó đã đạt tới cái độ Viên Mãn mênh mông, không còn bị lệ thuộc vào những cái nhỏ nhen câu chấp.

Chúng ta phải cố gắng đừng để vướng mắc vào một trong những lối học ở trên dù là từ hay tư hay giáo, vì tất cả sẽ làm cho hết còn thấy thực chất của Đạo “tế ư Từ, tế ư Tư, tế ư Giáo nhi bất tri Thực”. Học kiểu Văn nghệ sĩ, Văn học (từ) Tôn giáo (Phật giáo, Lão giáo) đều không phải Triết lý nên dễ mắc ứ đọng.

Muốn tránh những bế tắc đó, muốn có thể “ hoằng Đạo ” : làm cho cái Đạo ta theo trở nên rộng lớn, thái công, bao la thì cần chúng ta phải đem hết chú ý nhằm vào đối tượng của Minh Triết là Tính và Mệnh.

Gắng sức nhấn mạnh vào Tính lý Đại đồng và tính chất bổ sung trong phương tiện.



Xin trích câu nói của Tôn Hoàng Đế (1163-89) rằng:

Dùng Phật giáo mà trị Tâm; dùng Đạo giáo mà trị Thân, dùng Nho giáo mà trị Thế.”
Điều này tuy đã bàn ở trên, nhưng vì khuynh hướng đi trật đường hãy còn rất mạnh, nên xin nhắc lại đối tượng đó, đối tượng của Đạo của cái Đức thiết yếu để đắc Đạo bằng một đoạn văn khác của sách Trung Dung.
Đức đó là Thành là Trung, Đạo đó là Tâm là Tính.
Vì thế mới nói “Doãn chấp kỳ trung: 允 執 其 中 ”. Phải tín Thuận phải Trung với cái Tâm của mình trước nhất. Chu Hy giải thích chữ Trung là “ tận kỷ chi vị trung : 盡 巳 之 爲 中 ”. Trung là sống cho tận cùng cái Kỷ, hiểu là Đại ngã Tâm linh nơi mình. Creel dịch rất sát là “ to be true to the principles of our natures”, sống trung thực với những nguyên tố cấu tạo nên Bản tính chúng ta. Chữ Trung ở đây lót bằng chữ Tâm nó đứng trên chữ Tình mà dưới chữ Tính. Với Tính ta phải dùng một động từ khác là thành. “Duy thiên hạ chí thành, vi năng tận kỳ tính: 唯 天 下 之 至 誠 爲 盡 其 性 ” (T.D. 22), chỉ có bậc chí thành mới hiện thực hết được cái Tính. Chữ Tận đây dịch là biết chưa đủ, phải có một động từ nào nói lên sự biết toàn vẹn đến nỗi Chủ tri và Thụ tri trở nên một. Chữ Tận “ 盡 “ giống như chữ suất trong câu “ suất tính chi vị Đạo: 率 性 之 爲 道 ”.

Muốn nhấn mạnh cái trình độ Trung đến cực điểm, để không còn chỗ nào so le trống hở, đến nỗi cả hai biến thành một đó, chúng ta nên viết hai chữ “ Trung Thành : 誠 “ bằng chữ hoa, để phân biệt với những chữ thành chữ trung khác. Các chữ đó dầu khi có đối tượng chân chính đi nữa cũng mới chỉ là “phó sản” của chữ Thành chữ Trung trên, bởi vì chính nó mới chỉ là sự trung tín với lời nói nọ, với việc làm kia, thành thực đối với Đạo này, người nọ tuy bấy nhiêu có thể là chân chính, nhưng đấy cũng mới là những đối tượng tư riêng, chỉ có giá trị khi hướng theo đối tượng của hai chữ Thành, Trung viết lớn, vì ở đây nó nhằm vào tính phổ biến, nên người đã “ Chí Thành: 至 誠 “ thì cũng trở nên một với phổ biến không còn bị lệ thuộc vào cái chi tư riêng nữa nhưng trở nên bao la man mác đến nỗi sách Trung Dung cực tả bằng câu “ Chí Thành như Thần :至 誠 如 神 “ (T.D. 22). Bậc Chí Thành thì giống như Thần nghĩa là mênh mông u áo có đấy mà cũng có đây: khắp hết y như Trời nên gọi là Thiên Đạo “Thành giả Thiên chi Đạo dã : 天 之 道 也 ” (T.D 20). Bậc Chí Thành là Thiên Đạo khác hẳn với những cái thành tư riêng đã nói trên vì ở đó chưa có sự hòa đồng. Giữa Đạo với Người thành còn một khoảng cách, chưa đạt độ Tận kỳ Tính; muốn nối lại phải thêm chữ Chi để chỉ thuộc về “ Thành chi giả, Nhơn chi Đạo : 誠 之 人 之 道 也 ” (T.D. 20), người đã có lòng thành (chưa hẳn là Thành) thì mới là Nhơn đạo. Chữ chi ở đây trỏ vào một cái thân ngoại Vật “ hay nói theo danh từ Triết Tây là Đối tượng : objet, chỉ một vật gì đã vất ra đấy “jectum” ở đàng trước mặt ob (objet), nghĩa là giữa mình và vật có một quãng cách, sách Nho gọi đó là “ Khúc: , nghĩa là đã bị xa lìa cong vạy nên gạt xuống bậc nhì và dùng một động từ có tính cách rất “ hiện sinh : 現 生” là “Hữu : ” mà chỉ thị y như G.Marcel trong Être et Avoir (avoir là có cái gì còn Être là trở nên cái gì). Vì thế Avoir kém hẳn Être. Avoir est décrit comme déchéance de l’Être, comme une non coincidence avec l’Être. Tramf. 4, p.124), thì đây Trung Dung cũng cho Hữu vào bậc thứ nhì sau Thành “ kỳ thứ trí Khúc, Khúc năng Hữu Thành: 其 次 致 曲, 有 誠 ”, sau hạng Thành thì đến hạng Khúc, hạng Khúc có thể chiếm lấy (avoir) được Thành (T.D. 23). Chiếm lấy là tỏ ra mình chưa là (Être) cái ấy, mới phải tìm cho có. Học giả Couvreur đã dịch câu trên rất sát bằng tiếng La Tinh: quod non est rectum potest accipere integram bonitatem “une nature défectueuse peut devenir parfaite”. Câu tiếng Pháp không sát bằng câu La Tinh vì chữ accipere có nghĩa chiếp lấy, nên mạnh mẽ hơn chữ devenir, tuy vậy còn giữ đủ ý và cũng giúp cho ta hiểu câu “ tu Đạo chi vị Giáo: 道 爲 之 ” ở đầu chương. Tác giả sách Trung Dung lại quảng diễn thêm “tự Thành minh vị chi Tính. Tự minh thành vị chi giáo : 自 誠 明 爲 之 ,自 明 誠 爲 之 ” (T.D 21). Tự nhiên mà Thành thì gọi là Đạo, hợp với câu “ S22uất Tính chi vị Đạo: 率 性 之 爲 道 ”, nhưng lúc Tính đã bị che khuất đi phải soi sáng phải minh giải mới hiểu ra để mà thi Hành thì gọi là Giáo ( tự minh Thành vị chi Giáo), cùng nghĩa với câu “ tu Đạo chi vị Giáo” ở trên. Một ý mà nói nhiều kiểu giúp ta thưởng thức được làn tư tưởng tuy nhất quán nhưng rất phong phú và sâu thẳm, cả hai câu đều nói lên Thành giả: :Être, Thành chi giả: 誠 之 : Avoir. Avoir không bằng Être. Thành chi giả không bằng Thành giả. Vậy cần phải xóa bỏ chữ chi đi, dĩ nhiên không phải trong câu văn, nhưng trong bản thân của mình. Điều đó sẽ có nghĩa là phải xóa bỏ mọi quãng xen kẽ, nghĩa là tẩy trừ những cái tư riêng môi giới, những cái đó có rất nhiều, đội lốt muôn vàn tên nhưng quy ra hai mối là Tham dục hay Tư lợi Tư dục.

Cần phải bỏ những cái Tư đó mới tới chỗ Đồng nhiên của nhân loại, mới mong kiến Tính ( 見 性 ) và suất Tính ( 率 性 ). Chữ kiến Tính cũng là Suất Tính “ . “ Trong ống nhòm đổ tiếng Hư vô” (Nguyễn Công Trứ)

Chữ kiến Tính của nhà Phật, chữ Xuất Tính của nhà Nho. Tuy tên gọi có khác nhau, nhưng xét đến chỗ rốt ráo cùng cực (trong ống nhòm) tức là xem vào chỗ tập trung then chốt thì cũng cùng một tên đều phải đi qua một con đường Hư vô. Hư vô ở đây có nghĩa là làm cho mất đi, biến đi những cái gì tư riêng hạn hẹp. Phật sẽ đưa ra thuyết Thái hư với những phương châm diệt dục để diệt tận gốc rễ những tư dục làm cho hiện diện “Như Lai ” tinh ròng như chưa bị tì ố, đó là cái tính Bản nhiên linh diệu. Còn Khổng lăn lộn vào đời mà cũng hiện thực được bốn bước vô (IX. 4) “Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã”, nghĩa là cố trút những cái tư riêng có thể cản ngăn hay bẻ quặt sự Thành Trung của mình vào nẻo ngang trái, để đưa đi Trung Thành với những cái đâu đâu mà không phải Trung với Tâm và Thành với Đại Ngã tức là Tính. mà Tính ( )với Mệnh ( ) với Thần ( ) là một… tất cả đều trỏ vào một thực thể u thâm nhưng lại cực kỳ quang minh linh diệu và ở ngay trong thâm Tâm của ta.Tất cả chương trình cùng mọi phương tiện học hỏi đều phải thiết tha nhằm vào việc làm sáng tỏa ra cái đức Minh đó. Đấy mới thật là Cửa của Đạo học mà Kinh Dịch nói là: “ Thành Tính tồn tồn, Đạo nghĩa chi môn: 誠 性 存 存 道 義 之 門 “


MỘT VÀI NGỘ NHẬN CẦN TRÁNH
Ngày này là thời đại của Cao tốc và Mì ăn liền, nên việc trở về Nguồn của Văn hoá Dân tộc là việc bơi Ngược Dòng, vì lối sống của T Tiên chúng ta là đi trên con Đường mòn, còn ngày nay người ta mê mãi đi trên Đại lộ huy hoàng của Khoa học Kỹ thuật.

Một bên là hướng Nội và hướng Ngoại sao cho Nôi / Ngoại Lưỡng nhất, một bên là Hướng ngoại hay Phóng ngoại.

Lối sống của Tổ Tiên chúng ta là nương theo Dịch lý của Đại Đạo Âm / Dương Hòa để tiến thân trên Lộ đồ Tu, Tề, trị, Bình, theo quan niệm:

Vật hữu Bản / Mạt, Sự hữu Thuỷ / Chung, Tri kỳ Tiên / Hậu tắc cận Đạo hỹ: Mọi vật đều có Gốc / Ngọn, mọi việc đều có Đầu / Đuôi, biết được thứ tự Trước / Sau mà sống , tất gần với Đạo vậy!

Đó là cách sống hàng ngày bằng cách thức hiện mọi việc theo Trình tự: Gần / Xa, Nhỏ / To, Đơn giản / Phức Tạp, Tầm thường / Phi thường. Tinh vi / Vĩ đại .
Theo Dịch lý đó là những cặp đối cực Lưỡng nhất, khi đụng tới cái Này thì cũng động tới cái Kia , vì đó là hai mặt không thể tách rời của một thực thể.

Vây khi làm việc gì cũng khởi đầu theo Trình tự đó.

Nên muốn đạt tới Xa thì phải làm việc Gần trước rối tuần tự làm tới việc Xa, muốn có cái To thì phải làm những cái Nhỏ gộp lại, muốn làm cái Phức tạp thì phải biết làm những cái Đơn giản, muốn làm việc Phi thường thì phải bắt đầu bằng những việc Tầm thường, muốn hiểu cái Vĩ đại thì phải hiểu những cái Tinh vi trong Vĩ đại.

Ví dụ: Muốn hiểu Thái Dương hệ thì phải hiểu cấu trúc của một Nguyên tử, vì “ El Pluribus Unum; Out of Many : One ( Đa + Nhất = I ) .

Còn đa số chúng ta cứ “ dục Tốc nên bất đạt “, trong công cuộc xây Nhà dựng Nước và Cứu nước chúng ta luôn tìm những Lý tưởng cao xa mà làm, chỉ tìm việc Lớn mà thực hiện, nhưng Lực bất tùng Tâm, không bao giờ tới Đích , nên cuối cùng cứ chạy lộn quanh ,mà không bao giớ tới Đâu cả.
Thói thường chúng ta chỉ ưa cái gì ở Xa hơn thứ ở Gần nên bị vong Thân, khinh cái Nhỏ, cái Tầm thường, cái Đơn giản, mà mơ cái To, cái Phức tạp, cái Phi thường, cái Vĩ đại, mà không có bắt đầu làm từ nền tảng là cái Nhỏ, cái Đơn giản, cái Tầm thường cái Tinh vi, nên kết quả những thứ đó vẫn chỉ la giấc mơ không bao giờ thực hiện nổi!

Quả là “ Vật khinh Hình trọng: cái Việc xem ra thì Nhỏ nhưng Vị thế của nó lại quan trọng nên To.

Làm công việc theo trình tự Tiệm tiến trên là con đường mòn của Tổ Tiên chúng ta.
Xem thế Tổ Tiên chúng ta không có quê mùa lạc hậu như chúng ta tưởng ! Do đó mà chúng ta nên theo “ Tiển Tích “, theo Truyền thống để sống thuận với Thiên lý hay Dịch lý mà sống cho sung mãn. 1 mà chúng ta
MỘT SỐ ĐÓNG GÓP CỦA CHÚNG TÔI
Dựa theo Tinh Thần Thống nhất được T. G. Kim Định bàn ở trên, chúng tôi đã viết 15 cuốn lớn và gần 100 vấn đề khác thuộc nền Văn hóa Thái hòa Dân tộc trong đó có cuốn “ Khi Đông / Tây Giao hội “, cuốn này là một Tổng hợp Đông / Tây, Kim / Cổ.( Xem Vietnamvanhien.net.index )

Trong cuốn này chúng tôi đã đi tới tận nền Cơ cấu chung cũng như Nội dung của Việt Nho, của Thánh Kinh Cựu và Tân ước, cũng như nền Dân chủ Hoa kỳ.

Theo tinh thần Đông phương, cả ba đều bắt nguồn từ Dịch lý của Đại Đạo Âm Dương hoà, Nguồn Chủ đạo Hoà của nền Văn hoá Thái hòa Việt theo Tinh thần Triết lý An Vi, nơi đây là chốn “ Nhân Tâm Thiên lý hồn nhiên nhất Thể “ .
Ngoài ra chúng tôi còn viết thêm Bài “ Bàn về Ngũ hành” để nêu lên những Điểm chính về Cơ cấu và Nội dung của Việt Nho và Triết lý An vi - Hiện thể của Chủ Đạo Hòa -
Cả hai cuốn được xem như công trình Khai Hoang, tuy còn nhiều hạn chế, nhiều thiếu sót, nhưng cốt để gợi ý, để giới thiệu cho thế hệ kế tiếp đào sâu rộng thêm và Hệ thống lại để xây dựng cho được Bộ sách Dân tộc tương đối hoàn chỉnh, vì nền Văn hoá một phần được cấu tạo bởi phần Kinh điển bất biến ( thuộc nguồn Tâm linh ) nhưng phần khác lại là Dịch lý là thuật Quyền biến luôn đổi thay ( Thuộc lãnh vực Khoa học ), phần này phải làm sao cho hợp với hoàn cảnh từng giai đoạn trong thế giới hiện tượng, nhất là khi đem ra áp dụng phải liên tục hoàn chính, một mặt bỏ đi những phần không thích hợp, hai là thêm vào những phần cần bổ khuyết sao cho hợp với tình trạng nước nhà cũng như thế giới bên ngoài hầu đạt được mục tiêu tối hậu.

Đây là công trình lớn lao và khó khăn, phải có Ban Tu Thư Trung Ương của Quốc gia, gồm những những Vị Tài Đức đầy Nhiệt huyết, phải có Tài chánh dồi dào và cũng phải có thời gian lâu mới mong hoàn thành được, còn một ít người thì không làm nổi. .

Đặc biệt công trình này cần phải có những Vị Cựu và Tân học thuộc nhiều lãnh vực mới cáng đáng nổi, nay các vị Cựu học có khả năng ngày một ít đi, nếu để muộn quá làm cho sự liên tục giữa hai thế hệ Cựu Tân bị đứt quảng thì khó mà hoàn thành được.

T. G. Kim Định khi đã đi dạy Triết ở Đại Chủng viện đã thông thạo nhiều ngoại ngữ, mà còn đi học 10 năm về “ Hautes Études chinoises “ ỡ bên Pháp để nghiên cứu Kinh Điển Nho của Trung Hoa và Việt Nam.

Khi đi vào công trình Rộng Sâu này, Lớp Cựu phải học hỏi lãnh thêm vực của lớp Tân, và Lớp Tân cũng phải học hỏi thêm lãnh vực của lớp Cựu, đây là một ngăn trở cần phải vượt qua, vì lý do này mà nhiều người đã bỏ cuộc, đó là phần chữ Nho đối với lớp Tân cũng như phần Khoa học và sinh ngữ với lớp Cựu.
Khi Bộ Sách Dân tộc được hoàn thành thì nhất định con dân sẽ không bao giờ bị Lạc Hồn Dân tộc, và cũng từ đó Con Cháu hết còn làm tôi mọi cho thứ Văn hoá “ trục Vật “ Ngoại lai!

Cuốn “ Khi Đông, Tây giao hội “và bài “ Bàn v Ngũ hành “ của chúng tôi đã được đăng trên trang mạng vietnamvanhien.net dưới mục đề “ Nền Văn hoá Thái hòa Việt tộc “ của Việt Nhân và Nguyễn Quang, xin quý Vị tuỳ nghi sử dụng để may ra có giúp ích được chút gì chăng ?
Chúng tôi cũng theo dõi một số sinh hoạt của giới Trẻ về Văn hoá, thấy lòng lớp Trẻ rất hăng nồng trên bước đường dấn thân vào công trình xây dựng Văn hóa nước nhà, đây là điều rất đáng khích lệ.

Là người đi trước, chúng tôi không thể không thông đạt cho giới Trẻ một ít kinh nghiệm về hành trang cần có trên “ con Đường Ngược Dòng “ này, hiện rất ít người lưu ý tới, con đường mòn này không có huy hoàng như người ta tưởng, mà là con đường gập ghềnh đầy sỏi đá và chông gai , nên lớp Trẻ phải chuẩn bị Tinh thần, để đáp ứng với bước đưng trước mắt vừa khó khăn để vượt qua vừa phải cô hành, vừa phải Kiên trì đlầm lủi bước tới suốt cuộc đời mình, có thế mới mong tới đích.

T.G. Kim Định đã cô hành suốt đời để khai quật lên công trình lớn lao đó, thế mà chẳng được đón nhận suôn sẻ mà còn bị búa rìu dư luận cũng như Kính nhi viễn chi!
Công trình của T.G. Kim Định vừa Rộng như đại Dương, lại vừa Sâu như đáy Biển, muốn nghiên cứu, chúng ta không chỉ rong ruổi trên Chiều Rộng mặt Biển, mà phải ngụp lặn Sâu tận Đáy Đại Dương, rồi còn phải lần mò mọi ngỏ ngách trong đó để tìm ra tinh thần Nhất quán của Công trình ( hay Nhất / Đa liên kết với nhau: El Pluribus Unum: Out of Many : One ).
Nói cách khác muốn tìm hiểu chiều Rộng thì phải Suy tư để tìm ra các Định luật Khoa học vận hành trong thế giới Hiện tượng để biết cách khai thác Vật chất mà sống, còn muốn đi vào Chiều sâu thì phải bỏ Suy tư để Quy tư ( vô niệm ) về nguồn Tâm linh, nghĩa là dùng Trực giác, Tình cảm để cảm nhận mà thể nghiệm vào Thâm Tâm, mà nhận ra phải có Tình Người mới giúp ăn ở Hòa với nhau. Có sống cho vẹn Tình trọn Lý thì mới sống chung yên ổn với nhau được,

Lý Chiều Rộng / Tình Chiều Sâu tuy là cặp đối cực, nhưng cần được Lưỡng nhất sao cho Suy tư / Quy tư Hòa hợp với nhau thành Thực thể Lý / Tình lưỡng nhất để vừa Tiến bô vừa Ổn định theo trạng thái Quân bình động của Dịch lý.

Suy Tư thuộc lãnh vực năng lượng Sáng, Quy tư thuộc Năng lượng Tối.

Năng lượng Tối / Năng lượng Sáng có lưỡng nhất thì mới thành Thái cực hay cách khác Tâm linh / Khoa học có trở thành lưỡng nhất mới cấu thành Vũ trụ.
Nói cụ thể, muốn đi vào công trình của Kim Định thì trước tiên phải Học, phải nghiên cứu ( chứ không phải đọc lướt qua ) cho thấu triệt 33 cuốn cùng vô số cuốn sách Tham khảo Đông Tây về Triết học, về Cổ văn thuộc Văn hoá, thuộc Sử Trung Hoa, Việt Nam và cả Thế giới, cùng nhưng hiểu biết đại cương về các môn Vật lý vi thể , Hoá học, Toán học, đặc biệt là các sách về Tân Nhân văn như Cơ cấu luận, Tâm lý miền sâu, Khảo cổ học, Nhân chủng học, Di truyền học , Môi sinh học. . .

Điều quan trọng hơn là phải nhận ra phần Tinh thần độc đáo của T. G. về Văn hoá Việt Nam, đặc biệt về Nhân sinh quan. Vũ trụ quan cùng Lộ đồ Tu, Tề, Trị, Bình để Dựng nước và Cứu nước.
Với thành tâm thiện chí, là ngưòi đi trước đã suốt đời mò mẫm trên con đường học hỏi về Văn hoá, nay đã ngoài Cửu tuần, nhưng càng ngày, mình càng nhận ra bể học mênh mông, mình càng học thì càng thấy rõ Tri thức của mình còn hạn chế lắm, Tư cách mình vẫn còn kém cõi hơn mình nghĩ, nhờ thế mà lúc nào mình cũng khiêm cung mà cố vươn lên cả hai mặt Khả năng và Tư cách.

Tự phụ và tự mãn là hàng rảo cản bước tiến của chúng ta, cách học của Tổ tiên chúng ta cũng “ tử công phu “, phải trải qua 5 bậc: Bác học, Quảng vấn, Thận tư, Minh biện và Đốc hành, nói gọn lại là “ Sôi Kinh nấu Sử “ và Tri Hành hợp nhất, có như vậy thì sau một thời gian dài học hỏi Tiền Nhân, may ra mình mới có thể đóng góp “ một số ý kiến mới nhỏ nhoi thuộc của riêng mình “, nên suốt đời chúng ta nên khiêm cung mà học hỏi nhau.
Một chướng ngại khác có thể vấp phải là người ta có thể cho rằng ngày nay nền Chính trị Quốc gia cũng như các Cơ chế Xã hội như Kinh tế, Giáo dục, Xã hội . . . đều rối ren, sao không tìm cách sửa đổi ngay mà lại tìm “ việc khó khăn dài lâu, nghĩ là vô bổ “ mà làm, đó là Bộ sách Văn hóa Dân tộc ?

Thưa vì Văn hoá là Mạch sống chung của Dân tộc, Tinh thần Văn hóa là Chủ đạo Hòa của Dân tộc, cũng là Chủ đạo của các Cơ chế Xã hội.

Khi có Chủ Đạo Hoà thì các Cơ chế luôn được Tiến bộ và Ổn định theo Dịch lý.
Chủ Đạo Hoà mới là Thánh Kinh của Dân tộc. Chủ Đạo Hoà cũng ví như Thánh Kinh của Do Thái, tuy đã bị phiêu bạt khắp thế giới hàng ngàn năm và bị bách hại cho điêu linh, nhưng nhờ cuốn Thánh Kinh làm nơi Quy tụ mà Dân tộc Do Thái mới theo Truyền thống mà về Quê cũ xây dựng lại Cơ đồ được giàu mạnh như ngày nay.
Còn Chủ Đạo Bất Hoà ( Đấu tranh giai cấp ) như Chủ nghĩa Mác thì đương nhiên sẽ đưa các Cơ chế Xã hội tới rối loạn.
Nói cách khá, con bệnh của Dân tộc chúng ta là căn bệnh Nội thương, cần phải chữa đúng căn bệnh bên Trong, chứ không thể chữa Ngọn nơi Hiện tượng bên Ngoài, không thể lấy dầu cù Là mà xoa bóp ngoai da được, vì có chữa được hiện tượng rối ren này thì hiện tượng rối ren khác trầm trọng hơn lại hiện ra, nên phải cn phải có Linh dược Văn hóa như Thần linh mới hiệu nghiệm, Linh dược đó chính là Nhân / Nghĩa nhập Thần, hay Bác ái / Công bằng hay Từ bi / Trí Huệ Lưỡng nhất từ nguồn Tâm linh.

Những danh từ trên tuy thường được nói nơi cửa Miêng, nhưng thực sự đã phai nhạt trong Lòng, nên không ảnh hưởng gì đến đường ăn lối ở của nhiu người. mọi rối ren bắt nguồn từ đấy.

Quả là : “ linh tại Ngã, bất linh tại Ngã “ vì mình có nói tới nhưng mình không thực sự làm đúng, nên cuối cùng chỉ có Hình thức ( nơi cửa Miệng ) mà dánh mất Nội dung ( trong Lòng mình ) nên không có hiệu quả gì trong lối sống hành xử của mình!

Việc này Tổ Tiên chúng ta gọi là Ố Đạo .
Lý do là các Cơ chế sai đều là do con Người làm ra, con Người nghĩ sai nên mới làm sai, muốn không làm sai thì không chỉ một Cá nhân mà Toàn Dân phải Nghĩ và Làm đúng. Có Nghĩ đúng mới Làm đúng. Nghĩ và Làm đúng những gỉ ?
Thưa: Nghĩ đúng thì tiên quyết phải làm sao cho ai ai cũng có Nhân Tình và Nhân tính.
Nhân Tình để có “ Tư cách Làm Người thì con Người phải trau dồi Nhân cách để có thể yêu thương, Kính trọng và Tương dung nhau hầu không bị phân hóa mỗi người ra từng xứ Cô đơn như những hạt cơm rời, mà phải liên kết hài hòa với nhau làm thành một Khối.
Nhân Tính để có “ Khả năng Làm Ăn “ “ thì phải trau dồi Khả năng hầu biết ăn ở Công bằng “ có Đi có Lại “ với nhau, để “ tự Ăn nên Làm ra “, chứ không chà đạp lên nhau, cướp bóc nhau mà sống.

Khi mọi người sống tương đối sao cho Tình / Lý hài hòa thì có thể đoàn kết một Lòng, chung Trí và góp Sức mà xây dựng Gia đình và Xã hội cho được tốt đẹp hơn.

Đây là sứ mạng chính của Giáo dục, còn vấn đề Hoa Lá Cành như Văn học nghệ thuật tuy cũng” Cần “ nhưng không “ Thiết “ bằng.
Cái khó khăn nhất là mỗi người có một Bản sắc khác nhau, nếu không tìm ra mẫu số chung và phương cách để Đoàn kết với nhau ( tức là Thù đồ nhi Đồng quy ) mà cải tiến Dân Sinh, nâng cao Dân Trí thì khó mà vươn lên vực dậy được.

Nếu không có mẫu số chung về Tinh thần ( Chủ Đạo Hòa ) để đoàn kết với nhau thì lại rơi vào tròng CS.

Đó là nền Chính trị mang bản chất Bất Hòa, dùng xảo trá Bịp bợm để dụ số đông vào tròng, rồi dùng luật rừng buộc phải tuân theo mà Độc trị!

Vậy muốn được sống Tự do thì mọi người phải thương yêu nhau mà sống ngay chính với nhau, ngược lại muốn sống theo lối mối manh lừa bịp nhau để sa vào tròng Nô lệ thì mất hết Tự do.

Lựa chọn nào thì kết quả nấy.

Mọi người có Lòng Nhân, biết sống Công chính với nhau thì được Tự do, còn những người Bất Nhân hành động Bất công, dùng mánh mung bất chính hiếp đáp nhau thì sẽ sa vào tròng Nô lệ!
Đây là con đường Gian nan và Khó khăn, “ Trọng nhiệm nhi lộ viễn: Gánh thì nặng mà đường thì xa “, nên cần có Kết đoàn, có đường Hướng chung cùng đi tới và Quyết tâm mới mong hoàn thành được, chứ để cho “ cõi Lòng hẹp hòi “ và “ cái Trí thô thiểnđánh mất mối tương Dung của Dân tộc, để cứ mê mãi trên bước đường “ Khôn Độc Dại Đàn, Tham Dĩa Bỏ Mâm “ thì gây Cản trở lớn cho con đường Cứu và Dựng Nước.
Việc xây dựng Đạo lý Nhân sinh để mở cõi Lòng hẹp và nới cái Trí nông của toàn Dân là nhiệm vụ của các Tôn giáo và của các nhà Văn hoá.
Còn việc đem Đạo lý Nhân sinh vào Đời là của các nhà làm Chính trị.
Việc xóa bỏ nền chính trị Độc tài để xây dựng nền tảng Dân chủ Quốc gia là của toàn Dân, qua sự dắt dìu của những thành phần Trí thức yêu nước.
Vậy không có sự Kết hợp theo Tình và sự Phân công hợp Lý theo Lý và kế hoạch để bắt đầu vừa Học vừa Làm thì chẳng thể làm gì được cho việc Nước lớn lao!
Xin đừng có nại lý do này nọ mà lẩn tránh việc lớn lao cấp thiết !
Đây là sư thật hiển nhiên, chứ không là chuyện Đạo đức rởm.

Trân trọng,
Việt Nhân

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------

THAM KHẢO: I +II + III + IV +V



I.- MẤY Ý NIỆM VỀ VĂN HOÁ ĐÔNG PHƯƠNG CẦN ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH

Trình độ Văn hóa khác với bản chất Văn hóa



Nói đến duy trì những giá trị Truyền thống, phát huy Văn hóa Âu Châu… ta thường gặp thấy những mối e ngại ngấm ngầm, chẳng hạn Văn hóa Á Châu có tính cách tĩnh chỉ, thiếu Tiến bộ, nay khôi phục lại có khỏi làm ngăn trở việc Tiến gấp rút của nước nhà chăng ?.

Và dưới con mắt nhiều người, những ai đang cố gắng tài bồi cho nền Quốc học, chấn hưng Văn hóa Đông Phương, đã không gặp được sự nâng đỡ, lại thường bị coi là lạc hậu.

Đó là một tình trạng có hại cho tiền đồ Văn học, nhưng ít người nhận ra bởi những sự kiện lớn lao chua xót đập vào mắt, tức là tình trạng các Dân tộc Á Châu vì chậm tiến nên bị đè bẹp trước sức mạnh của các nước hùng cường Tây Phương.

Điều đó chỉ có ai loạn óc mới dám nghĩ đến chuyện chối cãi. Phương chi sách vở đều đồng thanh một giọng như vậy cả. Ông Tennyson viết “năm mươi năm của Âu Châu còn có giá trị hơn cả một chu kỳ của Cathays”. Mieux vaut cinquante ans d’Europe que tout un cycle de Cathay (thời Trung cổ người Tây Phương gọi nước Tàu là Cathay).
Những câu nói kiểu đó có một phần sự thật, nhưng quá đơn sơ, không đủ bao hàm một tình trạng phức tạp hơn nhiều.

Nietzsche có lần đã viết “không gì nói dối bằng sự thành công”.

Quả thật Văn minh cơ khí là một thành công cực kỳ vĩ đại, nhưng chính vì thế nó cũng đã là một lời nói dối khổng lồ, làm cho ta quên đi rất nhiều Chân lý; nó là một môn bài che đậy biết bao lời ngộ nhận mà không mấy học giả tránh khỏi khi phê phán về văn hóa Á Châu; nó khiến nhiều người sống yên hàn với một mớ ý niệm đã lỗi thời mà không nghĩ đến kiểm điểm lại, còn lên mặt ngạo đời.

Ở đây chúng tôi thử làm chuyện đó bằng đưa ra một số sự kiện ít được nhắc tới và vì thế loan tin trước là sẽ không đẹp đẽ cho lắm, chúng tôi thấy bất đắc dĩ phải làm thế để mong phần nào lập lại thế quân bình cho sự phê phán xưa nay thường oan uổng quá nhiều cho nền văn hóa Á Châu. (La pensée chinoise. Granet. tr 27 có nhắc tới sự bất công này. Nhiều tác giả cũng nói đến: Creel, Needham, Zenker, Forke…)

Sự oan uổng đó không cần minh oan chút nào nếu đấy chỉ là vấn đề thể diện.
Nhưng Nhân loại hiện đang trải qua cơn khủng hoảng Tinh thần, mà xem ra văn hóa Á Châu có thể giúp vào việc tìm ra ngõ thoát. Do đó sự lên tiếng trở nên cần thiết.
Lầm lẫn căn nguyên. Căn nguyên đầu tiên của sự bất công đó là tại người ta đã quy công cho văn hóa Âu Châu tất cả những sự hào nhoáng của giàu sang “Giàu có sinh Lễ nghĩa”, những Lễ Nghĩa đó người ta gán cho Văn hóa, nhưng thực ra chính Giàu sang tô điểm cho Văn hóa.

Điểm này ít được nhận ra bởi nó tinh vi; đàng khác vì Giàu sang và Văn hóa liên hệ nhau rất mật thiết, “chính Giàu sang làm nảy sinh Văn hóa”. Đó là luận án của giáo sư Clough đại học đường California nhan đề “Grandeur et décadence des civilisations”. Payot.

Điều nhận xét này giúp ta có một ý niệm đúng đắn về tính chất của mỗi nền Văn hóa, nên cần được lưu ý. Đây là một thí dụ rất thông thường:



Hai người Việt Nam một thuộc thượng lưu trí thức, một ở bậc nông thôn thất học. Ta thấy ngay một đàng lịch thiệp, ăn nói lý sự, khéo léo, cử chỉ có thể hào hoa phong nhã… một đàng quê kệch, nói năng vụng về thô thiển, cử chỉ co rúi rụt rè… Trong trường hợp này không phải nói ai cũng đồng ý, đó chỉ là chuyện khác Trình độ học thức gây ra do giàu nghèo, chứ không phải do tính chất Văn hóa, bởi cả hai người cùng ở trong một nền Văn hóa Việt Nam.

Câu chuyện đơn sơ là thế, nhưng nó sẽ hết đơn sơ khi người giàu kia là Tây còn người nghèo nọ là Đông. Lúc ấy sự phán đoán sẽ không chỉ còn là trình độ học thức mà nó sẽ lấn sang phạm vi tính chất Văn hóa Đông Tây không nhiều thì ít, nhất là phạm vi ảnh hưởng Giàu sang và Văn hóa rất mật thiết. “Miệng nhà sang có gang có thép: Tây giàu bộn nên miệng có cả vàng!” Vì giàu mà số người được học bên Âu Mỹ giàu gấp trăm lần bên ta, Văn hóa thêm biết bao cơ hội tiến bước.



Việt Nam năm nay (1960) được lối 12000 sinh viên tức trong số 1000 dân thì có 1 sinh viên. Đang khi năm 1948 bên Mỹ đã có 160 sinh viên (theo tài liệu Civilisation de 1960 của Fourastié).

Nay chắc còn đông hơn nữa. Nói số tròn: chênh lệch nhau từ 1 đến 200. Về phương diện khác cũng thế, chẳng hạn bên Mỹ có 1200 dàn nhạc đang khi bên ta 1 dàn cũng còn dở sống dở chết.

Sự khác biệt đó sẽ gây lầm tưởng về tính chất Văn hóa Đông Tây không sao kể xiết.

Một thí dụ: người ngoại quốc ở Sài Gòn thường phàn nàn không thể tìm được cái gì để tiêu khiển khả dĩ ứng đáp được trình độ của họ, đang khi đó ta có những bản nhạc sáng tác rất công phu vẫn nằm chình ình kia, không sao tìm ra được năm ba triệu để đưa ra trước công chúng. Nếu tìm ra được số tiền đó, những du khách đến Việt Nam lúc trở lui sẽ có thể mua thêm ít đĩa hát, để khi trở lại quê nhà thư thả bỏ ra nghe lại những nhạc điệu xa xôi, bấy giờ họ dễ dàng thưởng thức những nét nhạc tinh vi của Việt Nam. Các bộ môn khác cũng thế: quan niệm của họ về Văn hóa đối với nước ta sẽ khác hẳn với tâm trạng hiện nay qua những lời phàn nàn nhắc trên…



Cái khó bó cái Nhạc, nó bó Hội họa, nó bó Triết học, nó bó Văn nghệ…” và cái Nghèo không cho nảy nở biết bao mầm mống Nhân tài.

Với người ngoại quốc ta đành nuốt tủi không sao nói lên được, nhưng với người cùng hội cùng thuyền, cũng nên phân tích như thế, biết đâu lại không động tới những người có thể thành Mạnh Thường Quân… Dầu sao cũng là để khỏi thất vọng


Về tính chất Văn hóa của ta: tại Nghèo hơn là tại tính chất Văn hóa kém.
Nếu hỏi: không kém sao lại không tiến bộ để giàu sang được như người thì lỗi ấy tại Văn hóa chứ còn tại đâu?

Thưa rằng chưa hẳn như thế, cứ xem như nước Nhật cũng cùng ở trong một đại gia đình văn hóa với Tàu và ta, vậy mà trong ba mươi năm đuổi kịp đà tiến bộ của các nước Âu Châu đi trước hơn một trăm năm. Vậy không phải do Văn hóa cho bằng do nhà cầm quyền không thức tỉnh kịp thời.



Một nền văn hóa tốt đẹp đến đâu, nếu guồng máy Quốc gia bị giao phó vào tay một người vô Tài mà lại Độc tài, thì đủ làm hư cả Vận mệnh một nước một châu, đến khi thức tỉnh thì đã bị trói lại để làm đà tiến cho người.

Những cái đó ta gọi là sự may rủi của nước; nói theo kiểu xưa là số mệnh. Chế độ nào cũng có thể xảy ra, Tây cũng như Đông; việc nước Văn minh hơn bị thua nước kém Văn hóa là chuyện xảy ra thường xuyên trong lịch sử.

Mông Cổ không văn minh thắng Tàu, Roma ít văn minh thắng Hy Lạp là Tổ văn minh… và nếu xem cổ sử thì hầu như đó là một luật: Sumérie bị Babylon, Babylon bị Assyrie, Assyrie bị Crète, Crète bị Hy Lạp. Nước thắng là man rợ dùng võ lực. Đến khi nước đó trở nên Văn minh lại bị đợt man rợ sau… cứ thể để Văn minh thêm sinh khí tiến dần. Cho nên ta thua Tây cũng là chuyện không có gì lạ lắm (Civ. III. 329) (1)

(1) Viết tắt, chỉ bộ Histoire de la Civilisation của Will Durant và được ghi rõ số La Mã theo thứ tự bản dịch nhà Payot.



Còn chuyện đói khổ, thì đó là cái nạn chung cho loài người, may ra rồi đây nhờ khoa học sẽ thanh toán nổi chăng; chí như trở về trước thì chẳng nền Văn minh nào thoát cả.

Đây hãy nói riêng về Âu Châu mà ta thấy phong phú dư dật như nay, trước kia cũng đói khổ như các nơi: giữa khoảng 970 đến 1100 có 60 trận đói đã sát hại người bên Pháp… Không một người nông dân nào bên Anh có thể quên được những trận đói trong các năm 1086 và 1125. Giám mục thành Trèves thế kỷ 12 lấy làm kinh hoàng trước cảnh tưởng nông thôn là đói giết ngựa để ăn thịt (Civ. IX. 272). Ông Fourastié cho biết Âu Châu cũng mới thoát nạn đói từ thế kỷ 19. Tác giả kể chuyện những người trong họ ông hằng ngày đi làm ngoài đồng bao giờ cũng chỉ được một lạng rưỡi bánh khô và một củ hành luộc. Chính bố ông là người đầu tiên trong họ được ăn no ngoài những ngày cưới xin đình đám. Tác giả tính đổ đồng thì mức sống năm 1900-1931 cao hơn 10 lần mức sống những năm 1800-1831. (Civilisation de 1960 de Fourastié p.12).

Về cách ăn thì thường ăn bốc ( ? ) , cứ hai người ăn cùng một đĩa, uống cùng một ly. Đồ ăn chưa có cách ướp lạnh nên thường có hơi, do đó người ta ưa dùng đồ gia vị để át mùi. (Civ. XII tr.356).

Đã nghèo đó thì khó thoát được nạn bẩn thỉu. Chỗ ở người nông nô thời trung cổ thật là hôi hám và chật chội; nhà thường bằng tranh có một gian, họa lắm mới được hai gian, đồ ăn thức đựng làm bếp để cả trong nhà; dưới đất có một cái ổ bằng lông với rơm rạ, tất cả nhà nằm chung lộn trong đó, kể cả khách… (Civ. XII tr.270).

Bên Pháp và Anh người ta ngủ trần truồng trong mọi giai cấp” (Civ. XII p.339). Những đêm đông giá lạnh người ta thường đem các giống vật (bò ngựa) vào nhà để thêm hơi ấm (id tr.274), gần nhà là một đống phân, tất cả vật cũng như người trong trại đều đóng góp vào đó. (Civ. XI tr.271). Bẩn đến nỗi có nhiều câu chuyện kể rằng quỷ Satan phải đuổi người nông nô ra khỏi hỏa ngục, bởi chính quỷ cũng không chịu thấu mùi (Civ. XII tr.276).

Trong thế kỷ 14 ở Paris, người ta thường đổ bình đêm tuột xuống phố qua cửa sổ, chỉ báo hiệu bằng một câu vắn “ý tứ nước” (gare! L’eau). Nhà cầu là một món xa xỉ. Người ta thường tự tiện ngay ra ở sân trên chân thang hay ngoài ban công, ở điện Louvre cũng thế. Sau trận dịch tễ năm 1531 có chỉ thị buộc mỗi nhà ở Paris phải có nhà cầu nhưng chỉ thị cũng không được áp dụng luôn.

Bởi túng ăn và bẩn thỉu là duyên cớ cho những trận dịch tả nhiều hơn mọi kỳ trong lịch sử”. Dịch vàng xảy ra năm 550 và 664 giết hại đến 2/3 dân số Islande. Bên Anh cũng bị những trận như vậy ở thế kỷ 6, 7. Pháp Đức bị dịch đốt ruột gọi là mal des ardents những năm 994, 1043, 1130. Còn nhiều bệnh khác như bệnh tóc (plica polimica) người ta hay quy căn cho đủ thứ, nhưng hầu chắc là tại dân ở chen chúc trong những thành tường xây bít kín, điều kiện vệ sinh sạch sẽ hết sức thậm tệ (lamentable), số trẻ con chết không có thống kê nhưng chắc phải đến 50% (Civ. XII tr.549).



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   29


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương