VấN ĐỀ giáo dục chúng tôi viết Bài này để Kính nhớ ngày Giổ thứ 1


Chính vì tính chất đa năng trên, nên chữ Nho toả ra một sức chinh phục huyền bí như có ma lực, ví nó tham dự vào cả



tải về 6.6 Mb.
trang8/29
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích6.6 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   29

Chính vì tính chất đa năng trên, nên chữ Nho toả ra một sức chinh phục huyền bí như có ma lực, ví nó tham dự vào cả Hội hoạ, cả Biện thuyết cả Âm nhạc và nhất là Triết lý, nên rất xứng là Linh tự, Linh ngữ, với nghĩa chư Linh là phổ biến, là tác động với toàn thể các cơ năng.

Ðiều này còn được biểu lộ ngay trong lối viết đặc biệt của chữ Nho bao gồm cả ngang dọc, tả hữu.

Trong nhân loại chỉ có lối viết hàng ngang hầu hết từ Tả qua Hữu, hoặc tự hữu qua tả như Séurite.



Riêng có Nho thì kiêm cả hai: từng chữ thì từ Tả qua Hữu, từng dòng thì từ Hữu qua Tả. Nếu nói Việt tộc có phần đóng góp nào vào đây thì rõ rệt là lối: “ Tả nhậm ” này.
Người Tàu cũng quý trọng bên Chiêu ( Tả ) lắm, nhưng là thâu hoá về sau kiểu mái nhà cong, chứ còn ban đầu đời Thương, Chu, Tần đều thờ bên Mục ( Hữu ). Nhưng dầu vấn đề nguồn gốc có sao đi nữa, thì Tả nhậm vẫn được kể là nét đặc thù của Viêm Việt. Và nếu viết tự Hữu sang Tả nếu không là con dấu của Lạc Việt thí ít nhất cũng là con dấu của của Liên bang Việt Nho. Vì thế, nói Nho là của riêng Tàu đúng có ngoài mặt, còn sai bề trong, mà cái trong lại mạnh kiểu ngấm ngầm, nên gây ảnh hưởng vào lối viết từng chữ không còn hẳn là hàng ngang và từ Tả qua Hữu, nhưng toàn diện ( en surface ) theo lối nhận xét của ông Margoulies. Và như thế nói lên rõ rệt phần đóng góp của Viêm Việt vào sự thành lập chữ Nho.” ( Nguồn gốc văn hoá Việt Nam : Kim Ðịnh )

b.- Khả năng Diễn tả và tính chất Hài hước



( Cảm nghĩ về chữ Nho của Bá tước Keyserling )

“ Chữ Tượng ý đẹp tạo cho người học óc thẩm mỹ, dù người đó không để ý đến, vì người viết chữ xấu bị xem như ít học. Thứ đến cần phân biệt những nét chấm nét phẩy nhỏ tí luyện cho mắt cái nhìn được sâu sắc. Hậu quả của lối chữ Tượng ý này là luyện tập cho người Tàu có được cảm quan về hình thái cực kỳ phát triển, khiến họ không thể sản xuất cái gì xấu. Tôi còn thán phục trình độ trí thức của họ.



Vì với chữ Nho người ta chỉ nói bằng Biểu tượng, nên không thể đọc mà không suy nghĩ, nhờ đó họ có tài điều hợp.
Thứ đến là chữ Tượng ý nói lên được nhiều tư tưởng hơn hẳn chữ Tượng thanh. Chỉ có những người không hề nghĩ ra được một tư tưởng thâm sâu mới cả gan cho rằng có thể nói ra hết những điều mình nghĩ. Vì đó là một phép lạ không một ngôn ngữ nào có thể làm được hết, bởi mỗi ngôn ngữ hơn thế nữa mỗi thời đại đều có những giới hạn của mình mà không một thiên tài nào vượt qua nổi, cũng không mong gì sáng tạo được một ngôn ngữ có khả năng đó, vì hướng tiến hoá là đi tới minh – nhiên –hoá tức là đi đến sự nghèo –nàn –hoá ngôn ngữ.
Tiếng Pháp không thể nói lên được nhiều bằng tiếng Ðức, tiếng Anh hiện nay nói lên được ít hơn tiếng Anh thời đại Elisabeth. Ðây là mới xét về những cái có thể giải nghĩa, huống hồ những cái vượt mọi khả năng bày tỏ nhưng lại rất thật, như những thực thể thuộc Siêu hình, Tôn giáo. Những cái đó không thể bày tỏ trong ngôn ngữ ta, nhưng có thể với chữ Nho: chỉ cần đặt biểu tượng này bên biểu tượng kia là chúng bao trùm và định tính được cái vô biên, y như một góc mở định tính được không gian vô tế vậy.

Người có học xem những chữ ấy biết được ngay người ta định nói gì, mà nếu chưa biết trước, thì sẽ được học biết nhiều hơn so với sự giải nghĩa dài giòng.

Thí dụ Toàn thể Nho giáo có thể biểu thị trong 3 chữ:

Chí Trung Hoà.
Chí biểu thị sự Tập trung

Trung biểu thị Trung điểm ( Nội ).

Hoà nói lên sự Hoà hợp với bên ngoài ( Ngoại )
Chỉ ba chữ đó không những nói lên hết những gì đã viết trong Tứ Thư, mà còn cả những điều hàm ngụ trong đó, mà chính ngay Khổng Tử cũng không biết.
À ! Nếu mà tôi viết được chữ Nho, tôi sẽ vui lòng hy sinh mọi lối phát biểu khác . Vì khi mọi lời nói đã vắng lặng rồi thì những tâm hồn tĩnh mịch vẫn nhìn được chân lý trước mắt qua chữ Nho. Ðành rằng đó không phải là lối phát biểu khách quan, mà chì là gợi ý, nên người đọc phải có cảm tình y như đối với lối nói bóng gió, vì thế có những bất tiện trong nhiều trường hợp cần xác định chẳng hạn về áp phe, về khoa học hay cả Triết học nữa.

Về phương diện này những Thi sĩ hay Văn hào muốn nói kiểu gợi ý thua xa những tác giả ưa nói kiểu minh nhiên: chẳng hạn như Mallarmé kém Beaudelaire. Thế nhưng đem lời trách móc bóng gió kiểu đàn bà và Mallarmé mà gán cho chữ Nho là lầm,vì nó là phương tiện biểu lộ khác hẳn với ngôn ngữ và văn tự của ta nên so với những công thức toán thì hơn, và phải là người ngây thơ lắm mới dám chê Toán không thể định nghiã được thực thể mà nó chỉ nói lên luật tắc, vì thực ra nó bao hàm nhiều hơn cũng như xác thực hơn bất cứ ngôn ngữ nào. Vậy mà đó cũng là tính chất của chữ Nho, nên về phương diện chữ Nho không kém mà còn hơn hẳn chữ Tây, chính vì nó giống Toán học ở khả năng biểu lộ trực tiếp những liên hệ mà không một ngôn ngữ nào đạt nổi.

Vì thế mà mọi tư tưởng của Hiền triết đều có vẻ nghịch lý. Cái đó là điều dĩ nhiên, vì bất cừ chân lý nào cũng bắt buộc phải mang vẻ nghịch lý đối với người không biết, nhất là những chân lý sâu xa thì chỉ nổi bật lên được khi đặt bên cạnh một nghịch điểm. Nhưng tính chất nghịch lý trong Nho giáo đặc biệt ở chỗ mang sắc thái Hí hước; tôi chưa thấy châm ngôn nào của Nho mà không làm tôi cười thoả thích khi trong mình mạnh khỏe, nếu phải tìm ra nguyên uỷ của sự việc thì vì tôi đã tìm thấy trong những châm ngôn đó hương vị của cuộc sống mạnh mẽ hoà hợp với vũ trụ. Hí hước là một cái gì rất sâu xa. Và chỉ có những người có thiện tâm thanh thản, có khả năng cảm nghiệm sâu xa đến độ có thể biểu lộ ra một sự đối nghịch, mới có được hí hước. L‘humuor est chose profonde: a de l’humuor celui qui sait exprimer un con traste profondément senti du point de vue d‘un esprit bienveillant et serein . ( 1 )

( 1 ) : Câu này vì tác giả nói một cách ngoắt nghéo nên có phần khó hiểu, và nay căn tính của Hí hước cũng còn có nhiều người chưa biết, như đã được chứng tỏ trong việc phiên âm chữ l’humuor của Anh thành u mặc. Tiếng Pháp thì mượn luôn cả mà không dám dịch, vì không tìm ra từ nào ám hợp mà nói lên tính chất của hí hước .



Có Hí hước khi nào nhìn thấy sự trái ngược trong một sự vụ nhưng lại đủ lòng khoan hoà để chấp nhận sự vụ, mà còn biểu lộ được sự trái khoáy cách khoan hoà, nghĩa là không làm thiệt đến ai “ Thiện hí hước hề. Bất vi ngược hề .” là vậy.

Nói không để châm chọc ai như kiểu châm biếm, mà chỉ để chơi ( hí ) và cười đùa ( hước ). Vậy cũng có thể dịch là hài hước.

Như vậy ta thấy muốn hí hước phải cần đến hai đức tính là lòng khoan hoà và sự hiểu sâu. Có thể nói cả hai là một, vì khi hiểu thục sâu thì nhận ra chõ hội thông của những câu trái ngược, nên chấp nhận cách an nhiên. Bá tước Keyserling nhận xét rằng Nho giáo sản xuất ra nhiều tay hí hước hơn hết các nền văn hoá , mà cao viễn đến độ có thể hí hước cách lạnh lùng kiểu như Bồ Tùng Linh ( Journal C.P. 59 ) .

Tôi cho rằng nhận xét của keyserling rất đúng và thêm rằng sở dĩ được như vậy là vì Nho giáo đã tạo đủ điều kiện thuận lợi: trước hết đối nghịch thì không đâu phổ quát bằng Âm Dương, còn về sâu xa để có thể cùng chấp nhận thì cũng không thể hơn nguyên lý “Âm trung hữu Dương căn ”, tài năng cá nhân thì đâu cũng có, nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho hí hước nẩy nở trọn vẹn thì quả không đâu bằng Nho vậy . . . .



( Kim Ðịnh: Tinh hoa ngũ điển )

c.- Nho giáo gắn liền với đời sống dân tộc Việt



( Lối chân minh triết: Tinh hoa ngũ điển. Kim Ðịnh )

Bà mẹ Việt Nam quả là hình bóng của nền Minh triết Lạc Việt; người không đi trên những đại lộ huy hoàng xán lạn, nhưng âm thầm lặng lẽ hoặc bước trên những lối mòn, những ngỏ ngách quê hương tầm thường, xem ra chẳng mấy quan trọng.
Cũng như thế nền Minh triết Việt Nho luôn đặt trên các nẻo đường mòn của Dân tộc, thoạt xem tưởng không có gỉ sâu sắc, có cũng được mà không cũng chẳng sao. Vì thế từ lúc tiếp xúc với nền Văn minh xán lạn Thái Tây, nhiều người Á Ðông đã giả từ những nẻo đường xưa cũ để tiến bước theo lối ngoại nhân. Nhưng rồi từ đó hết theo bên này lại ngả sang bên kia với muôn vàn đổ vỡ, khiến phải dần dần hồi tâm mà nhìn lại . . .
Ðể rồi mới nhận ra những cái Tầm thường bấy lâu không hẳn chỉ có thế, mà còn tiềm tàng một cái gì Phi thường. Và lại nhận ra không nơi đâu có được cái lối Bình thường của chúng ta, theo lời nhận xét của Bá tước Keyserling thì không một nơi nào trên thế giới lại có sự lạ lùng này:

Nền Minh triết ý thức lại lấy ngay đời sống Bình thường của Dân gian làm mẫu mực. Không nơi nào lối sống thông thường theo bản năng lại trở thành tiêu biểu hoà hợp cho một nền Tư tưởng phong phú.

Và cũng không nơi nào đời sống lại được tổ chức theo Đạo lý cao và sâu hơn, đến nỗi ánh Đạo soi thấu những hiện tượng mà bình thường ta không thấy có liên hệ chi cả ( Journal II .87 ).Tại sao lại có việc kỳ lạ đó ? Ðể trả lời chúng ta thử xét xem ít nhiều sự kiện:

C1.- Sự Thờ cúng Tổ tiên

Ðây là một Cổ tục của dân gian nên đâu đâu cũng có, kể cả các xã hội La Hi. Tục đó thường mang ý nghĩa Bái vật: cúng giỗ Ông Bà để con cháu được giúp đỡ, làm ăn phát đạt . . .

Một niềm tin như thế bao hàm nhiều điều kiện: như tin sau khi chết linh hồn con người vẫn tồn tại, và có khả năng bảo vệ hay sửa phạt con cháu . . . Ðó chỉ là những niềm tin thiếu tính chất khách quan, vì thế đã bị trí thức khước từ.

Trái lại Việt Nho lại dựa vào đó để biến thành Lễ Gia Tiên, với nhiều ý nghĩa như Luân lý tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ, hoặc với ý nghĩa Tâm linh, trở lại Hội thông với mọi Tổ, tức với Bản tính đồng nhiên của con Người. ( Xem Căn Bản, chương II )

C2.- Lễ Hội mùa Xuân

Trong Lễ hội này Trai Gái họp nhau chia ra hai phe Nam Nữ cùng nhau hát Đối, rồi những cặp nào thuận nhau thì Hợp thân ngay trong rừng hoặc trên mặt ruộng, nên cũng gọi là “ Dã hợp ”, người Hán gọi là Bôn, thường thêm tiếng Dâm vào thanh Dâm Bôn, để tỏ ý chê trách . . Nhưng trong tâm trạng của dân gian thì Dã Hợp chính là lễ cầu cho được mùa màng, mà năm nào bỏ thì thất mùa. Ðó là niềm tin thuộc tôn giáo Phong nhiêu của khối dân Viêm Việt, nó phảng phất tính chất Bái vật Vu nghiễn nên rất dễ bị trí thức coi khinh. Thế nhưng Việt Nho lại biến việc đó thành tác phong giúp Trời Đất trong việc nuôi dưỡng dân: “ Tán thiên địa chi hoá dục ”. Và cũng từ những mầm mống song đôi: như hai bè Nam Nữ, trước Sông và Núi, giữa Ðất Trời . . . , mà thiết lập nên Triết lý có Lưỡng nghi tính cực kỳ phong phú, với vô số cặp đôi đủ mọi phương diện:


Siêu hình như Âm / Dương.

Tôn giáo như tế Trời / tế Ðất ( Nam giao ).

Chính trị như Vua / Tôi, Cha / Con Làng / Nước ( Xuân tế Ðế, Thu tế Thường )

Luân lý như: Nhân / Nghĩa, Cương / Nhu, Tình / Lý . . .
Tóm lại, trên nền tảng hát đối của thôn dân, Việt Nho đã kiến tạo nên nét Lưỡng nhất tính phổ quát, mà chúng ta không thể nào gặp được ở nơi khác. Vì vậy, ngày nay Triết học các nơi chỉ có một chiều, thì ở đây lại Lưỡng hành với ba chiều kích.

C3.- Sau Âm Dương thì đến Tam Tài

Ban đầu cũng chỉ là một niềm tin của dân Viêm Việt, nói lên niềm tin con Người đồng nhất thể với Thiên Địa. Ðó là niềm tin có tính cách Đồng cốt đi với cái nồi Ba biên, với những lời lên đồng kiểu :“ Phụ đồng phụ chổi, thổi lổi mà lên, ba bề bốn bên, sôi lên cho chóng ” Thế nhưng đã được văn gia tiếp và rút ra từ đó thuyết Nhân chủ: con người là một Vua trong Tam Tài: nếu Thiên là hoàng, Ðịa là hoàng thì Nhân cũng là hoàng. Rồi từ Nhân chủ đi tới nền Dân chủ cách cụ thể, được biểu lộ bằng “ phần Điền “, cũng như được hưởng mọi “ Tự do “ trong biên cương của đời sống Công thể: nói vắn tắt là “ được Ăn được Nói “, tức là hai thứ quyền mà dân gian thuộc các nền văn hoá khác xưa kia không được hưởng.



C4.- Ngũ hành

Ngũ hành cũng là một niềm tin có tính chất tai dị, đã đẻ ra những thuyết Âm Dương, Ngũ hành, Phong thuỷ . . . , nhưng rồi cũng được văn gia dựa vào đó để tạo thành thuyết tiến hoá “ Nhân giả Ngũ hành chi đoan dã ”, đem lại cho Triết lý nét động đích rất đặc trưng không nơi nào cá cả, vì theo đó con Người phải đóng góp phần quan trọng vào mọi việc để đẩy đến chỗ chí cực, nên gọi là “ Ngũ hoàng cực ”. Ngũ chỉ cái gì toàn thể, tức là muôn việc đều quy vào một mối làm nên một mối Cơ thể, cũng gọi là “ Thiên Địa chi Tâm ”. Còn Hoàng là Vua, tức không lệ thuộc bên ngoài nữa nhưng tìm tiêu chuẩn hay sự trọn hảo ngay nơi lòng mình, khi được như vậy thì gọi là đến “ chỗ chí cực ” . Nên có thể nói “ Người không làm nữa, mà là tế tự ”, ( il ne s’agit pas, il officie ) .Cũng là Ngũ hành, Âm Dương nhưng nếu ở đợt Bái vật thì con người sẽ làm một số điệu bộ cử chỉ Tôn giáo như khấn vái lâm râm, hương nhang nghi ngút, trái lại nơi người đạt Tâm thì là làm mọi việc tới chỗ Chí cựcQuân tử vô sở bất dụng kỳ cựctức phải đưa vào việc cả Tình, Ý, Chí. Việc nào cũng làm đến chỗ chí cực, thế gọi là “ Ngũ hoàng cực ”, tức đừng tìm cao cả bên ngoài con Người, nhưng ngay trong con Người, ngay trong những việc bổn phận hàng ngày. Ðó là đường đi tự Ngũ hành đến Ngũ hoàng cực.



C5.-Lễ

Ai cũng biết Lễ là nét đặc trưng trùm lên Nho giáo. Vì Lễ bao gồm cả Chính trị, Kinh tế, cả Vũ trụ quan, Nhân sinh quan . . . Thế mà xét tới nguyên uỷ thì chỉ là Tục lệ của dân gian, nên Lễ chỉ là Lệ được thăng hoa.

Lễ quan trọng nhất của dân gian là chia cho đều mọi cái mà trong đó Tài sản là nền tảng. Vậy Lễ cũng chính là biết Quân phân tài sản, quân phân Tự do, Kinh nể . . . nhưng làm cách trang trọng để văn sức những mối Giao liên của con Người. Lâu ngày người ta quên Nội dung ban đầu của nó, để rồi phát triển quá mức phần nghi thức có lợi cho nhà Vua, cho người trên, đâm ra lưu trễ sính lễ, tức là cái bệnh rút ruột trát ra ngoài.

C6.- Thiên siêu ngôi

Ðây là một chuyển hoá khác, tế vi hơn, nên khó nhận ra, đó là Thượng đế Nhân hình lên đến Thiên Siêu ngôi, để cuối cùng chỉ còn là Lý phổ biến, cũng gọi là Thiên lý: “ Thiên lý tại Nhân Tâm ”. Ngoài ra còn có một số chuyển hoá khác nữa, nhưng ít quan trọng hơn. Trở lên là một số chứng tích nói lên sự liên tục từ thôn dân, cũng gọi là Chất gia, hay nói chung là từ Bái vật đi lên Tâm linh, là lối đi vừa tiến bộ mà đồng thời vẫn hợp với “ Trời ”, tức vẫn bảo trì được nền Thống nhất giữa dân gian và kẻ sĩ. Hai đàng chỉ khác nhau về bình diện Tâm thức, nhưng vấn đề thì vẫn là một, và đó là đường đi của Việt Nho: không đi trên những Đại lộ huy hoàng mà trong những nẻo Đường mòn.

Bây giờ ta thử rút ra vài nhận xét, mà điều trước tiên là: Thoạt mới nhìn người ta tưởng là chẳng có chi cao cả, mà chỉ là những gì sà sà mặt đất. Phải nói ngay rằng nhận xét đó đúng, nhưng đấy mới chỉ là phần của Chất gia, có thể bao gồm cả Bái vật, cả những kinh nghiệm thông thưởng gọi là Thường nghiệm, và đó là chỗ sách Trung Dung nói:

Quân tử chi đạo phí nhi ẩn; phu phụ chi ngu khả dĩ tri yên

Nhưng không chỉ có thế, mà còn có Hình nhi thượng của Văn gia, và lúc đó thì dù thánh nhân cũng không thể biết hết . Thí dụ: Lễ hội Trống quân thì với Dân gian chỉ là việc “ Vợ Chồng”, nhưng với Văn gia lại là “ Thiên Ðịa Nam giao ”. Cả hai cùng một đường đi, nên nói: “ Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ Phu Phụ ”, cực kỳ chí giả, sát hồ thiên địa ”. Chính vì thế mà nét đặc trưng của Nho là: Có mà như không . Thoạt trông như không có Triết, nhưng nhìn kỹ thì lại thấy không những có Triết, mà còn là nền Triết sâu rộng nhất, ích lợi nhất trên đời, đến nỗi trở thành nền Minh triết .
II.- ANH NGỮ

Trong thế giới khoa học ngày nay, Anh ngữ đã trở thành tiếng nói thông dụng nhất thế giới, và nhất là về phương diện Khoa học, tiếng Anh đã có một gia tài từ ngữ đồ sộ rất chính xác. Không ngôn ngữ nào có thế qua mặt được về phương diện đại diện cho Ðịa.

Excerpt from The Tiding ( 06/04/04 ): In praise of English. by George Weigel, senior fellow of the Ethnic & Public policy center in W.D.C.

“ It’s frequenly said that English has become the world language, because of it plascity, its ability to create and absorb new words as the technological revolution roars ahead at full throttle. I’d argue that what give English its unique strength is not so much its flexibility as its subtlety ”

III.- QUỐC NGỮ: TIẾNG VIỆT

1.-Ba Phương diện của Tiếng Việt

“ Quốc ngữ của ta có thể bay bổng cung mây, mà cũng có thể xác định như Khoa học rất tinh mật, nên nhiều người muốn dùng ngay Quốc ngữ làm Linh Tự Linh Ngữ. Nhưng không thể được, vì khi quá Thông dụng thì mất tính chất U linh. Tiếng Việt là một thứ tiếng khá tiến bộ. Muốn biết một ngôn ngữ có phải là thứ tiếng tiến bộ không, ta phải xét về 3 phương diện: Thuật ngữ, Âm thanh và Ngữ pháp.

a.- Thuật ngữ



Thuật ngữ : Tiếng nào giàu thuật ngữ ( technical terms ) là tiếng phát triển.

Thuật ngữ gồm hai loại:

a .- Những danh từ khoa học kỹ thuật mới đặt ra gần đây. Tây phương phát triển khoa học kỹ thuật, các dân tộc khác mượn lại của họ. Chúng ta phải mượn họ bằng hai cách, hoặc bằng cách phiên âm, hoặc một số ta mượn của Tàu, hoặc bằng cách dùng thẳng tiếng của họ, vì chúng ta đã chọn Anh văn làm Tam giác ngữ.

b .- Trong tiếng nói hàng ngày, tiếng Việt vô cùng phong phú, so với tiếng Anh và tiếng Pháp. Trong các mối liên hệ phức tạp hàng ngày cũng như các cách thức làm việc, tiếng Việt đã tỏ ra có một cách diễn tả vô cùng phong phú so ngay với tiếng Anh, và tiếng Pháp. Ví dụ: Trong khi Pháp chỉ có chữ Porter, Anh chữ carry, thì tiếng Việt nào: Mang, ôm, vác, gánh, khiêng, đội, bồng, bế, khiêng, ẳm, đeo, xách . . . Tiếng Pháp chỉ có chữ oncle, tiếng Anh uncle, thì tiếng Việt lại có: Chú, Bác, Cậu, Dượng. Chữ Tante ( Pháp ) , chữ aunt ( Anh ) thì là có thể là: Cô, Dì, Thím, Bác –gái, Mợ. Chữ belle-soeur ( Pháp ), sister-in law ( Anh ) thì là : Em-chồng , Chị -chồng, Em-vợ, Chị -vợ, Em-dâu , Chị-dâu.

Ngoài danh từ chung, tiếng Việt lại ghép với chữ khác để tạo nên vô số danh từ kép khác. Với chữ Tiếng, ta có thể ghép thành: tiếng động, tiếng hét, tiếng kêu, tiếng ồn, tiếng đồn, tiếng khóc, tiếng cười, tiếng than, tiếng gõ cữa, tiếng hát, tiếng thơm, tiếng xấu, tiếng đồn, mang tiếng, nổi tiếng, khét tiếng.

Trong khi tiếng Pháp chỉ có Je , tu , tiếng Anh có I , you , tiếng Tàu với Ngộ, Nị , được dùng chỉ chung cho mọi người, đàng này tiếng Việt lại có từng tiếng để chỉ cho từng người để tỏ thứ bực cũng như quan hệ thân sơ, ví dụ : ông, bà, cô, bác, dì, dượng, cậu, mợ, anh em, cháu chắt . . . .

Những tiếng này không những để chỉ những ngưồi thân trong gia tộc, mà còn được áp dụng cho những người trong nước, để tỏ mối tình Đồng bào: những ai hơn tuổi Cha mình thì gọi bằng Bác, kem tuổi cha mình thì gọi bằng Chú . . . . , những người nhỏ tuổi như con mình, cháu mình thì gọi bằng Con , bằng Cháu . . . “

b.- Âm thanh



( Lê Văn Siêu: Nguồn gốc văn học Việt Nam, trang 129 – 137 )

“ Tiếng Việt là một thứ tiếng rất giàu âm thanh, nhưng ngoài tính chất tính chất Tượng thanh như những tiếng khác, còn có tính chất Tượng hình, có thể tổ tiên chúng ta đã có phần đóng góp không ít cho tiếng tượng hình của chữ Nho. Một đàng dùng hình để diễn tả, đang khác dùng âm thanh để diễn tả hình.

a.- Âm Í chỉ những gì nhỏ nhít : con chí, bé tí, chuột chí, mắt tí hí . . .

b .- Âm U chỉ những gì đang bằng phẳng mà vồng lên: mu rùa, khóc chu lên, nhu nhú, ngồi du dú, khóc hu hu, lụ khụ, ủ rủ . . .

c .- Âm Ơ chỉ trạng thái tâm lý lạ lùng như: bơ vơ, ngơ ngác, ngờ ngợ, dớ dẩn, đờ đẩn, phờ phạc, vớ vẩn, lơ mơ . . .

d.- Âm Ị chỉ những gì nặng nề, béo mập: béo phị, mặt sị xuống, ì ạch, cái bị . . .

e.- Âm Ọ chỉ những gì đen đủi, xấu, người xấu nết: Mặt nhọ, chơi nhọ ( chơi xấu ), con bọ (ăn bám đáng khinh ), con vọ ( chim ăn đêm , làm hại nhà nông ) quạu cọ ( cáu kỉnh , bẳn gắt ) . . .

g .- Âm Ò lấy tiếng cò làm gốc Tả con vật khẳng khiu, hay đi lò dò bờ ao để mò tôm tép: dò ý, dò đường, thò tay mà mò ( nghe ngóng ý tứ , vì chưa chắc ) . .

h .- Âm Ấp diễn tả một việc làm từ trtên cao xuống dưới thấp : Gà ấp ( gà nằm trên ), ngả sấp, lấp đất, nấp ( cúi xuống để ẩn mình ) vấp (đụng phải vật dưới thấp có thể té xuống ) . . .

i .- Âm Ập cũng diễn tả việc làm từ cao xuống, nhưng nhanh hơn: lưỗi dao phập xuống, run lập cập ( không ngăn nổi ), dập tất ngọn lửa, đập đá, ngập nước, đổ sập . . .

k.- Âm Ót diễn tả việc từdưới thấp lên cao: cao chót vót, nhót ( thò tay xuống lấy nhanh và khẻ vật gì ), thót lên mình ngựa, vót ( lấy dao gọt dần cho dưới to trên nhỏ ), tót vời ( cao quá, không gì sánh nổi ) trót dại ( lỡ dại với người trên ), xót thương ( tình thương của người trên đối với kẻ dưới ) . . .

l.- Âm Út cũng diễn tả những vật từ to đến nhỏ và từ thấp lên cao:

Sút cân ( lớn thành ốm ) con út ( con sau cùng ) cái bút ( ngòi nhỏ và nhọn ) hút nước (hút nước từ thấp lên cao ) , mút, cút ( đuổi đi cho xa ), đút đầu, thút thít ( khóc nho nhỏ ), trông ngút ngàn ( trông thấy xa và rộng ) .

m.- Âm Ong tả hình dáng những vật cong: Con ong, cai nong, trái bòng bong, cái vòng, cái lọng . . .

o.- Âm Oằn tả sự cong vòng nhiều lần: Tóc quăn, Xoăn xoe ( Cứ quanh quẩn hoài bên mình ), băn khuăn, quằn quại, loanh quanh, ngoằn nghèo. . .

p .- Âm Oay tả thể động theo đường cong nhiều lần: Xoay, con quay, khoáy nước, loay hoay, ngoắy, viết ngoắy, quấy . . .

q.- Âm Om tả việc ở trên ngó xuống một hang sâu: Lom khom, nom ( nhìn chăm chú ), lửa lom nhom, ( lửa mới bén vào củi ) , nhóm lửa, cái đóm . . .

r.- Âm Op: chỉ những vật đang bị to bị lảm nhọ lại hay đương tròn bị làm méo đi bằng cách ép lại, sự ép ấy gọi là bóp: vật bị méo đi một góc gọi là móp, Tóp (đang lớn bị bóp nhỏ lại gọi là tóp, hóp ( cây tre nhỏ ), chóp nón, cái thóp ( trên đầu ), thở thoi thóp.

s .- Âm Uột chỉ vật đang ở trong tay mà nó trốn chạy mất: buột tay hay tuột tay, vuốt, chuốt ( dũa cho tròn và nhẵn ), tuốt ( tuốt xương lột da ), trắng muốt ( không còn chỗ nào là không trắng nữa ), lạnh buốt ( làm mất cảm giác ), con chuột ( rất nhanh, nắm trong tay dễ bị tuột ) .

t.- Âm Ua để tả sự vui : Sao tua rua ( những sao dìu dất với nhau ở trên trời ), đua ( tranh đua vui chơi ), khua ( phá tan sự im lặng ) . . ”

c.- Ngữ pháp

“ Trong khi Âm thanh phát triển từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp. Ngữ pháp lại phát triền từ phức tạp đến đơn giản. Trong khi các ngôn ngữ khác như Pháp Anh thì có văn phạm rất phức tạp, nào vô số cách ( mode ) và vô số thì ( temps ), thì tiếng Việt chì có những chữ đã, đang, sẽ.

Về địa vị của tiếng Việt trong gia đình ngôn ngữ thế giới, chúng ta có thể nói : Tiếng Việt có nhiều âm thanh nhất, có Ngữ pháp giản dị tới mức tối đa, có nhiều danh từ cá biệt trong tiếng nói hàng ngày. Như vậy tiếng Việt phải là tiếng tiến bộ và rất phát triển.

Cái ưu điểm của tiếng Việt lại còn có liên hệ mật thiết đến chữ Nho là nguồn cội tư tưởng của Tiên nhân, ngày nay chúng ta đã có vô số danh từ Hán Việt ( Nho Việt ), con đường thuận lợi dẫn tới đời sống Tâm linh, mặt khác là chuyển ngữ từ tiếng La tinh, nên cũng rất thuận lợi để du nhập thêm các danh từ khoa học của Anh và Pháp ngữ. Quả thật tiếng Việt xứng đáng Ðại diện cho Nhân để nối kết vối chữ Nho đại diện cho Thiên và Anh ngữ đại diện cho Ðịa. “ ( Kim Định )

2.- Nói: Tính thể siêu linh của tiếng Việt Xét qua cơ cấu Vài Ba

“ Tiếng nói là một phát minh rất sớm của con người. Có thể vì đó mà Hy Lạp “ nói đầu trước hết có Lời “. Vì sớm sủa nên rất quan trọng nó mang theo những đức tính của nền văn hóa mà nó chuyên chở.

a.- Tiếng Noí bày tỏ Tính thể con Người

Bởi vậy nghiên cứu tiếng nói của một dân chính là xử dụng một chìa khóa đa năng mở vào nhiều kho tàng ẩn náu của nền văn hóa ấy, thí dụ nhạc tính trong tiếng Việt tạo nên do Âm, Thanh, Vần, Nhịp và đủ đề tài không những cho Ngữ học là điếu tất nhiên, mà luôn cho Văn chương và cả Tư tưởng nữa.

Hôm nay, chúng tôi thử bàn về điểm cuối cùng, tức về liên hệ giữa cơ cấu tiếng Việt và Việt lý xem hai đàng ăn chịu với nhau đến đâu.

Trong các cơ năng hiển hiện của con người, Tiếng nói bày tỏ Tính thể con người nhiều hơn hết. Con người được định nghĩa là nơi Giao hội của đức Trời đức Đất, Tiếng nói cũng vậy nó đứng giữa vật chất và tinh thần, vì thế nó chỉ còn có Thanh âm mà Thanh âm là cái đã thoát khỏi hình hài khí chất, nó là nhịp cầu nối thể chất ở đợt tinh vi cùng cực (thanh âm) với cái vô hình là Ý niệm và Tư tưởng. Chính do chỗ đó mà ta có thể xét xem ngôn ngữ của một dân có tinh thần nhiều hay ít. Hãy nhớ lại câu định nghĩa Thần trong Kinh Dịch là Thần vô phương. Thần không ở nơi nào nhất định, thế có nghĩa là Thần có tính cách uyển chuyển, biến động và thấu triệt.… Vật nào càng giàu thể tính năng động và thẩm thấu thì càng giàu siêu linh tinh thần.

b.- Hai loại tiếng Nói: Cơ cấu và Ngữ luật

Theo tiêu chuẩn đó ta có thể chia tiếng nói của loài người ra hai loại: một loại đi theo cơ cấu, một loại vâng theo ngữ luật.

Theo Cơ cấu thì uyển chuyển và giàu khả năng thẩm thấu. Theo Ngữ luật thì bị ràng buộc bằng cả một hệ thống mẹo luật gọi là Ngữ luật gồm động tự, danh từ, quán từ (article), giống, số, cách v.v… thì hợp tác nhau đóng khung câu nói xuống theo một cấu trúc ngữ pháp nghiêm nhặt cột chặt các tiếng vào một ý nghĩa không thể hoán vị, hễ hoán vị là trật ngữ luật và trở nên vô nghĩa. Có thể nói chung đó là các tiếng Âu Tây. Loại hai đi theo Cơ cấu thì không có những thứ như trên, không Thì, không Cách, không Số, không Quán tự, Trạng tự hoặc nếu có thì cũng đứng rời không ảnh hưởng nhau để dễ bề hoán vị mà Cơ cấu chỉ định đặng mang theo ý nghĩa khác nhau tuỳ theo vị trí. Thí dụ “ vào được ” khác với “ được vào “. Đó là tiếng Tàu và tiếng Việt. Ông Burton Watson (1) nhận xét rằng Ngữ luật tiếng Tàu rất đơn giản chỉ gồm có Thực tự và Hư tự (full words and empty words) (chi, hồ, giả, dã). Hư tự thường dùng như Quán tự để nối kết hoặc giải nghĩa, nhưng cũng thường bỏ luôn. Phương chi tiếng Việt với cơ cấu rõ hơn và Hư tự giàu hơn.

(1) Early Chinese Literature, Columbia Univ, Press N.Y.1962 p.146-170.


Về cơ cấu chỉ việc xem thí dụ với 5 tiếng dưới đây: hễ hoán vị một chữ là có ý mới.

Sao không bảo nó đến

Nó đến sao không bảo

Không bảo nó đến sao

Sao bảo nó không đến

Sao nó bảo không đến

Không bảo sao nó đến

Sao nó đến không bảo

Không sao bảo nó (cứ) đến

Nó không đến bảo sao


(Tôi nhớ láng máng xưa kia đã đọc thí dụ này đâu đó, có lẽ của L.M Lê Văn Lý thì phải và với nhiều xếp đặt hơn)

c.- Cơ cấu tiếng Việt

Quả là một sự uyển chuyển và năng động vô địch chứng tỏ trình độ cao cấp mà Việt ngữ đạt được trong việc đi đến cơ cấu. Lấy về đàng số mà nó thì cơ cấu thượng thặng phải gồm ba bộ số: 2, 3 và 5.

C1.- Năng động tính



Số 2 nói lên tính chất năng động căn bản. Muốn động phải có hai hạn từ: động bao hàm sự di chuyển từ A đến B, bước chuyển động cùng cực là từ Vô tới Hữu, từ Có tới Không, nên số 2 nền tảng phải là từ Có tới Không.

C2.- Nhân chủ tính



Số 3 nói lên Nhân chủ tính. Vì Nhân chủ nên đứng ở giữa, không hề lệ thuộc vào hai thái cực nhưng độc lập như một chủ nhân ông. Số 2 là số căn bản có đầy trong Trời Đất giữa Sáng Tối, Đất Trời, Đực Cái, Cứng Mềm. Thế nhưng duy trì được số 2 trong văn hóa phải có một nền Nhân chủ mới đủ mạnh để duy trì, và sự duy trì được biểu lộ bằng số 3, nên số 3 là số Nhân chủ, là số chỉ được đề cao trong văn hóa có Nhân chủ tính. Chứ như trong duy Vật hay duy Tâm thì không có số 3 vì con người thuộc vào một trong hai bên, vào Trời hay Đất, duy Vật hay duy Tâm, và chỉ có Một tức nguyên lý Đồng nhất được đề cao rất mực. Còn số 3 bị gảy bỏ. Pháp gọi là tiers exclu = triệt tam. Tertium non datur.

C3.- Tâm linh



Số 5 là số ngũ hành thành bởi 2+3 cũng gọi là “Vài Ba “ hay “ Tham Lưỡng “ tức nói lên tác động cùng cực của con người. Muốn làm được tác động cùng cực thì phải là con người Nhân chủ (số 3) còn tác động cùng cực là nhảy từ Có tới Không, phải hiểu là cõi không u linh đầy tràn diệu hữu gọi là Tâm linh. Chính vì thế mà để tóm tắt thì quen nói số 5 là số Tâm linh, hay là số Thẩm thấu cùng cực. Tóm lại sự uyển chuyển (do cơ cấu) nói lên sự thẩm thấu cùng cực, thẩm thấu biểu lộ tình chất Tâm linh (số 5). Tâm linh biểu lộ bằng số 2 (từ Có đến Không) và tính chất Nhân chủ số 3. Chi tiết hóa như vậy rồi bây giờ chúng ta thử đi vào phân tích tiếng Việt.

3.- Tóm lược tinh tuý

Đó là tóm lược tinh tuý của bộ cơ cấu “ Vài Ba, Tham Lưỡng “ .

a.- Số 2



Số 2 quan trọng như nền tảng được bàn trong bài Nét Song trùng (Kinh Hùng). Đây là nền tảng tối quan trọng nên văn hóa nào thiếu nó thì sẽ gieo tai họa. Hiện nước ta đang phải rên xiết dưới ách độc tài chuyên chế phi nhân của cộng sản thì cũng vì cộng sản thiếu nét song trùng. Bởi cộng sản là duy Vật.

A1.-Tại họa đánh mất số 2 trở nên Duy Lý một chiều

Chữ ấy nói lên sự thiếu nét Song trùng một cách công khai lộ liễu, nên sự hiểm độc, đi đến thái thậm. Chính cái độ thái thậm nọ làm cho nhân loại giật mình mới nhìn nhận ra căn nguyên tai hại, chứ trong thực tế thì văn hóa Tây Âu đã đánh mất nét Song trùng từ khuya. Heidegger kêu là đánh mất nét gấp đôi (the twofoldness). Chính sự đánh mất này là nguyên uỷ sâu xa tại sao văn hóa Tây Âu trải qua 25 thế kỷ không sao kiến tạo nổi một nền triết lý Hòa giải, như chúng tôi đã mình chứng điều đó trong quyển sách mang tựa đề như trên và đề nghị ra một nền triết lý Hòa giải đặt nền trên Việt lý (rất tiếc bản thảo quyển này đã bị mất vào dịp tị nạn năm 75) là vì cuối cùng chúng tôi khám phá ra trong triết Việt có nét Song trùng nọ, nó hiện hình vào cùng khắp những gì quan trọng như vật biểu là Tiên Rồng, cai trị nước được biểu thị bằng bánh Trời bánh Đất, quê nước được kêu là Sông Núi v.v… cái gì cũng đi cặp đôi như thế.



Vậy sự đi cặp đôi nọ cũng thấy nhan nhản trong tiếng Việt một tiếng nói gọi là độc âm, nhưng lại ưa đi đôi theo lối nhị âm một cách tràn ngập: chợ búa, chăn màn, giường phản, làm lụng, ngổn ngang, hồ hởi, lè phè… (Theo môn Việt Ngữ Lý (1) thì ban đầu tiếng ta đi đôi. Về sau chịu ảnh hưởng Tàu nên mới đi vào hướng một).

(1) Mỗi khi nói tới Việt Ngữ Lý là tôi quy chiếu tới cụ Mai Ngọc Liệu người đã mở ra một trường phái riêng về ngữ lý học đặc biệt Việt Nam. Tôi đã được đọc một vài bài thấy các khám phá của Cụ có nền tảng nghiêm túc. Xin chờ đọc cụ Mai Liệu để biết thêm về ngữ lý của ta.

A2.-Thực tự và Hư tự

Thường thì không mấy người để ý đến lối đi cặp đôi đó vì tiếng nào trên thế giới chẳng có, thí dụ blanket, table thiếu chi. Nhưng khi nhìn lại liền nhận ra đó là tiếng đa âm nên cần cả hai âm mới đủ nghĩa, nói mar không đủ, phải thêm ket vào mới có nghĩa là chợ. Còn tiếng Việt nói chợ là đủ, âm búa không cần cho ý nghĩa, thêm vào có thể coi là thừa, là Hư tự, có người cho là vô ích. Kỳ thực thì nó không còn nằm trên cấp vô ích với hữu ích, nhưng đã vươn vào vòng Trong.

Trong bộ triết lý An vi tôi hay dùng chữ vòng Trong thay cho siêu hình, là vì vòng Trong tàng ẩn ngay trong sự vật, khác siêu hình đi luôn vào cõi ý niệm, kêu là lý giới như của Plato. Còn “ vòng Trong “ là cái gì vẫn nằm trong sự vật làm nên cái hồn, cái ý nhị của sự thể và như thế là diễn tả nét song trùng cách thẩm thấu, nên ta còn nhận thấy tính chất thẩm thấu đó ngay trong chữ cặp đôi được bày tỏ bằng nhiều lối.

A3.- Liên hệ ý nghĩa

Liên hệ ý nghĩa như nâng lên, hạ xuống, mở ra, đóng vào, chợ búa, tập tễnh mon men.



A4.- Liên hệ lân cận…

Liên hệ về lân cận, về liên tưởng như chăn màn, bát đĩa, giường chiếu, mâm bàn, nồi niêu, xoong chảo, viết lách, nói năng, ăn ở, điệu bộ.…



A5.-Lặp lại Nguyên âm

Có khi bằng nguyên âm như ngâm nga, ngân nga, nết na (nguyên âm N), lập loè (L), đủng đỉnh (Đ), kêu ka (K).…



A6.-Lặp lại Chủ âm

Có khi bằng chủ âm như lỉnh kỉnh (ỉnh), khoác lác (ác), lảo đảo (ảo). …Có trường hợp đặc biệt về chủ âm iếc như học hiếc, thi thiếc, làm quan làm kiếc, láo liếc, ho hiếc, ốm iếc, phải đi xin eo phe eo phiếc, phút tem phút tiếc.…Trên đây chỉ kể sơ qua một cách ngẫu hữu (cách hệ thống dành lại cho ngữ lý học) vừa đủ để chứng tỏ đó là một sáng tạo không phải là vô ích như có người tưởng, mà là tối quan trọng để diễn đạt nét song trùng của Việt Lý, hai mà một, một mà hai.

3.- Số 3

a.-Nền Nhân sinh quan Nhân chủ hùng tráng

Bây giờ xin hỏi hậu quả nét song trùng là chi? Xin thưa đó là số 3 chỉ nền Nhân chủ tức một nền Nhân sinh quan hùng tráng cùng cực đến độ Trời cao Đất thấp mà cũng có thể nắm giữ cùng một trật để làm nên “ cõi người ta “ ở giữa Trời cùng Đất. Nếu là thứ nhân sinh quan yếu hèn thụ động thì chỉ nắm nổi một bên: đánh mất nét song trùng và trở nên một chiều kích, một duy nào đó: vì chọn một bỏ một, chọn lý bỏ tình là duy lý, chọn trời bỏ đất là duy tâm, chọn Tư sản bỏ Vô sản là Tư bản, chọn Vô sản bỏ Tư bản là Cộng sản. …Cứ thế mà giằng co chống đối, đấu tranh, được bên nọ mất bên kia, nên gieo tai họa cho con người vốn là một vật lưỡng thê (sống ở hai cấp bậc).

b.-Khác biệt giữa Tây ngữ và Việt ngữ ( Le La và con cái. . .)

Văn hóa con người chia ra được hai loại lớn một bên có nhân sinh quan hùng mạnh thì sẽ Nhân bản hóa vũ trụ còn bên có nhân sinh quan yếu ớt thụ động thì tất sẽ bị Vật hóa, như triết học bàn về con người theo cung cách bàn về sự vật tức đứng cùng một bộ định đề và nguyên lý của sự vật nên người bị vật hóa, Mỹ kêu là “ man reified ”, như đã được nhắc tới trong tiếng người homme do tiếng humus là đất bùn: cả hai tiếng cùng một gốc đất. Sau đây là mấy thí dụ nền tảng. Tây Âu gọi Trời là the Sky, Đất là the Earth, còn Việt Nam thì kêu là Ông Trời, Ông Địa. Thế là ta đã thấy khuynh hướng nhân bản hóa vạn vật ló dạng trong chữ ông đặt cho Trời cho Đất. Hãy đi đến vài Thiên thể lớn nhất là mặt Trời mặt Trăng, hai chữ mặt nói lên bóng dáng con người chiếu dọi tới trong chữ mặt: mặt trời, còn mặt trăng không những là mặt trăng mà còn có cả cưới xin nữa tức nhân bản hóa trọn vẹn. Trẻ con hát: “Ông Trăng mà lấy bà Trời “ .

Câu này chở theo bầu khí sơ nguyên của thời mẫu hệ lúc mặt trăng còn nắm chính quyền kêu là ông trăng, về sau đến thời phụ hệ thì ông trăng trở nên bà nguyệt. Như vậy kể có phần mất mát nên dân gian an ủi bằng cách rút tuổi đi và kêu là cô Hằng, đã vậy còn yêu cô ra rĩ.

Tôi yêu cô Hằng



Đêm xưa xuống trần

Mình ơi tình ơi.

Nhưng thôi yêu em anh để trong lòng để anh xét tới các vật khác. Vậy khi xét tới cách kêu tên các vật ta thấy sự khác biệt lơn giữa Tây ngữ và Việt ngữ. Ta thì kêu là cái là con, cái bàn, cái bút, cái nhà con gà, con cá, con trâu. Tây thì lại chú ý đến đực cái trừu tượng: le monde, la table v.v, sự khác biệt này nói lên nhiều nét đặc biệt, mà điểm đầu tiên là tiếng Âu Tây quá ước định, thí dụ nói la table giống cái thì căn cứ vào chi mà bảo cái với đực. Thứ đến là vụ giống cái thì tiếng Pháp phải thêm “ e câm “ (e muet). Nếu theo cụ thể thì e câm phải cho vào giống đực. Các bà nói nhiều thì e nói chứ sao e câm? Hay là có ý bảo các bà phải “ câm đi “ theo cung cách duy dương độc chiếm, đàn áp đàn bà?



c.-Thứ tiếng sống Hiện và sống Ẩn tạo nên mối liên hệ Vạn vật nhất thể

Ngược lại tiếng Việt thì có nền tảng đàng hoàng vì căn cứ trên sự sống hiện và sống ẩn. Sống hiện kêu là con: con gà, con vịt, con chim; sống ẩn kêu là cái: cái nhà, cái bút, cái bàn. Đây mới là nét xét vòng ngoài chứ vòng trong còn lắm điều hay kinh khủng. Trước hết nên nhớ chữ Cái xưa kia có nghĩa là Mẹ như câu Con dại thì Cái mang (tội). Như vậy hai tiếng Con Cái nói lên mối tình thắm thiết nhất trong loài người được đem dùng cho sự vật. Đó là tang chứng không những Nhân bản hóa vạn vật mà còn đem đặt vào đó mối liên hệ bao là và sâu thẳm nhất, nên vạn vật được ràng buộc với nhau như một thân thể, mà nho kêu là “ thiên địa vạn vật nhất thể “. Chính quan niệm nhất thể này gây nên môi sinh tinh thần công thể (espirit communautaire) mênh mông không những bao trùm nhân loại không phân biệt Chủ Nô, mà còn tỏa ra khắp vũ trụ đến nỗi Nguyễn Công Trứ đã nói được “ vũ trụ nội mạc phi nhân sự “ = trong vũ trụ không có chi không phải là phận sự của ta. Nó khác biết bao với cá nhân chủ nghĩa, mọi cái rời rạc xa lạ như

Albert Camus đã nói đâu đó rằng: tôi cảm thấy tôi xa lạ với vũ trụ, với Thượng Đế, với tha nhân và hỡi ôi với chính tôi nữa. Điểm hai nó dính dáng đến lịch sử, lúc Mẫu hệ nhường quyền cho Phụ hệ. Ở thời mẫu hệ thì Cái chỉ vật sống hiện như câu:
Cái cò cái hạc ( vạc ) cai nông.

Sao mày nhổ lúa ruộng ông hỡi cò?
Nhưng đổi sang phụ hệ thì cái lui vào hậu trường để chỉ những gì có cái sống ẩn tàng. Huyền sử nước ta chỉ thời quá độ bằng truyện 50 con theo Mẹ lên núi lập ra nước Văn Lang và chia nhau cai trị thay Mẹ. Còn Mẹ rút vào trong nắm lấy cái “ cồng bà “ với chức nội tướng và từ đấy thì vật sống ngầm kêu là cái: cái bút, cái chén, cái nhà, còn vật sống hiện thì kêu là con “ con cò bay lả bay la “.

d.- Liên hệ giữa Tư tưởng và Ngôn ngữ

Trên đây chỉ là cái nhìn thoáng của triết, vừa đủ để đặt ra nhiều vấn đề bàn luận để gây sinh động trong lãnh vực văn hóa, cũng như để nhận ra mối liên hệ giữa tư tưởng và ngôn ngữ: cả hai cùng một nét song trùng y hệt. Nếu tư tưởng là Tiên Rồng, Sông Núi, Đất Trời, Mẹ Cha, thì ngôn ngữ cũng thích đi cặp đôi: chăn chiếu, ngân nga, lê phê, ve vãn. Nếu tư tưởng là Nhân chủ thì tiếng nói cũng thế, từ ông Trời, qua cô Hằng cho đến cái cò, con tôm, cái nồi, cái chảo đều mang ấn tích con người. Đó là hai bước song trùng và nhân chủ hay là nhịp vài ba 2-3 hoặc tham lưỡng : 3-2.

3.- Số 5

Con số “ Thiệp đại xuyên

Bây giờ xin bàn đến số 5 hay hành ngũ, nó bao trùm tiếng ta bằng 5 dấu: huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã. Tại sao tiếng ta lại được tràn hợp bởi số 5?



Ý nghĩa sâu xa nằm ẩn trong hai chữ hành Ngũ. Hành là hành động vì đây là đợt cơ cấu nên phải nói tới hành căn để, vậy hành đó là bước vào cung ngũ mà theo cơ cấu là “ hành vô hành “ , “ địa vô địa “ tức là An vi = theo nghĩa không còn đối tượng, đi đến chỗ “ vô thanh vô xú “ . Cái bước quan trọng đó Kinh Dịch kêu là “ thiệp đại xuyên” sang qua sông lớn, nhà Phật kêu là “ đáo bỉ ngạn “ vì thế cần thuyền bát nhã, mà trong Trống đồng là thuyền Rồng là thứ “ thuyền tình bể ái “ cùng cực để nối Trời với Đất.

4.- Ngũ hành ( 5 ) với Linh cổ ( 3 – 4 )

Vì thế xa xưa trống Linh Cổ có 6 mặt và có cái cả 8 mặt. 8 mặt chỉ Trời (8 gió của Kinh Dịch) 6 mặt chỉ Đất (lục phương). (1) Thứ trống này gọi là Linh Cổ được nói đến trong sách Mục Thiên Tử truyện, chương 5. Linh Cổ có 6 mặt nhưng cũng được trình bày như trống kép 3 (6 mặt) và được dùng để tế thần Đất (nhờ Thổ Bá có ba con mắt). Còn trống 8 mặt cũng gọi là trống Sấm để tế Trời. Lẽ ra 6 Trời 8 Đất hay 3 Trời 4 Đất chứ sao lại 8 Trời 6 Đất. Thưa ở đây theo luật Giao chỉ là theo Dụng mà không theo Thể (Thể viên Dụng phương, thể Âm dụng Dương) 3 trời Dương nhưng Dụng 4 Vuông. 4 Đất Âm nhưng Dụng Dương. Vì luật giao chỉ đó mà Phục Hy Dương lại cầm cái Củ Vuông, bà Nữ Oa Âm lại bồng cái Quy Tròn (diễn nôm là ông giò miếng chả, bà giả miếng nem, nem Thủ Đức gói khá tròn!). Còn nhiều rắc rối khác nên không lạ con cháu mất trọn ý thức về bộ cơ cấu uy linh của mình. Chúng tôi đã cố tìm lại dấu vết trong hai quyển Kinh Hùng Khải Triết và Sứ Điệp Trống Đồng. Nhưng xin hỏi 6-8 liên hệ với Ngũ hành chỗ nào? Thưa đó là liên hệ ngầm có đầy trong các số cơ cấu là loại số cũng đầy uyển chuyển linh động. Vậy 6-8 cũng là 3-4 (cặp đôi) mà 3-4 cũng chính là 3-2 mà 3-2 là số 5, số 5 kép bởi 3 trời 2 đất. Hai Đất cũng có thể là 4 Đất, hai số có thể dùng thay nhau: 2 hay 4 cũng được. Nói 3 + 2 (vài ba) hay 3-4 cũng là một. Nhà Phật nói “ tam tế tứ đại “ = 3 cái tế vi chỉ Trời, chỉ cái gì vô hình siêu linh, tứ đại là 4 cái thô đại chỉ Đất. Đó là liên hệ ngầm giữa 6-8 (ra 3-4) với Ngũ hành. Ngũ hành thành bởi 3-2. 3 chỉ Nhân chủ, 2 chỉ bước lưỡng hành: hành trong cõi hiện tượng lẫn hành trong cõi vô hình: có vậy mới ra lưỡng thê = amphibious gồm cả cái sống của Phàm ngã lẫn Siêu ngã.

Ta thấy tính chất ghê sợ của hành Ngũ cũng biểu thị bằng số vài ba, 3-4 hay 6-8 sâu xa dường nào, thẩm thấu tới tận Trời cùng Đất. Có ngày chúng ta sẽ tham luận về tính chất thiên biến vạn hóa của hình thái song trùng kép này.

5.- Bộ số Vài Ba ( nhịp kép Hai ) nhập vào Ngữ lý



Hôm nay chỉ xin áp dụng bộ số vài ba vào ngữ lý. Ta biết Song trùng là nhịp Đầu, Nhân chủ là nhịp kép Một, vài ba là nhịp kép Hai. Ta đã thấy tiếng Việt phản chiếu hai nhịp đầu (Song trùng và Nhân chủ). Bây giờ đến nhịp Vài Ba nó cũng phản chiếu cách kỳ diệu trong thể thơ lục bát (6 là 3 cặp, 8 là 4 cặp). Hãy mở truyện Kiều ra đọc những câu lục bát tuyệt vời:
Trăm năm / trong cõi / người ta.

Chữ tài / chữ mệnh / khéo là / ghét nhau.

(Đánh dấu phân để thấy câu đầu có 3 cặp, câu sau có 4 cặp)
Cơ cấu Nói bằng số “ Vài Ba” hay nói bằng “ hình Tròn Vuông giao hợp “, hoặc cụ thể cùng cực là làm hai chiếc “ bánh Dầy bánh Chưng “, hoặc muốn “ Xổ Nho “ thì “ Thiên viên Địa phương “ đều cũng một cơ cấu. Vậy cơ cấu đã hiện thân cách kỳ diệu vào ngôn ngữ qua thể thơ lục bát trong cách gieo “ yêu vận “ tức câu trên không gieo vận vào cuối câu mà lại gieo vào lưng vào lòng câu sau:

Trăm năm trong cõi người ta/



Chữ tài chữ mệnh khéo là / ghét nhau.
Vậy mới là tình thâm chứ! Đọc lên như thầm bảo yêu em anh để trong lòng (trong mà) mà không để ngoài da đâu! Em đừng có ngại! Thật là bất ngờ, thảo nào thể lục bát được nhìn nhận là thể thơ độc nhất nói lên đức tính An vi ở chỗ gieo toàn vần bằng: dấu hiệu của an lạc siêu linh.

6.- Bè 6 – 8 được thể hiện trong trống Đồng Ngọc Lũ

Xem ra thể thơ này cũng có trong nhiều chi của đại chủng Việt vì thấy hiện diện trong nhiều chi khác và có thể ngờ là đã được phản chiếu vào trống đồng Ngọc Lũ nơi vòng hoa văn giữa gồm 14 con chim chia hai bè: một bè 6, bè kia 8. Phải chăng chúng đang ngâm thơ lục bát. Ít ra lục bát đang manh nha? Vì thế mà chúng có thái độ siêu thoát trần tục để đi về miền thái cực linh thiêng. Dầu sao mặc lòng, tức dầu 6-8 con chim có phản chiếu lối thơ lục bát hay không, nhưng không ai chối cãi rằng đó là thể thơ đặc trưng của Việt tộc, gói ghém cả hai bộ số 2 và 3 cũng như cơ cấu kép vài ba. Có thể lối đó đã manh nha từ buổi bình minh với nhịp Trống quân khai quốc. Câu sáu có thể chỉ bè Nam (3 cặp từ) câu 8 bè Nữ (4 cặp từ) tức là đã từ lâu đời lắm.

4.-Tiếng Nói theo Cơ cấu tràn đầy Nhân chủ tính và Tâm linh

Chính vì vậy mà lòng ta nao nao ngây ngất khi đọc những câu lục bát trong Kiều nhất là khi gặp những chữ đi đôi như nao nao, nho nhỏ, sè sè.… Mỗi cặp đôi xuất hiện như nhịp cầu 2 mối: một mối bắc bên Có mối kia cắm vào hư Không làm cho ta như chạm vào cõi u linh bát ngát.

Nao nao dòng nước uốn quanh.

Nhịp cầu nho nhỏ dưới ghềnh bắc ngang.

Sè sè nắm đất bên đường.

Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Xem thế đủ biết tiếng ta thuộc loại ngôn ngữ đầy tràn Nhân chủ tính cũng như Tâm linh tính tức nghiêng về nghệ thuật và triết lý: đề cao cái tổng quát trên cái tư riêng, tránh rõ rệt, ưa âm u nên dùng rất nhiều hư tự.

a.- Cái Thừa và thiếu của tiếng Nói theo Ngữ luật

Ngược với tiếng của Âu Mỹ có tính cách khoa học ưa khúc chiết khi đến độ không cần, thí dụ bắt cả mọi cái phải là đực hay cái, số nhiều, ít phân biệt chi li. Ta nói “ ba cái hoa này đó “, chỉ một chữ ba đủ chơi vai trò số nhiều, các từ khác không bị phiền hà chi cả. Mỹ thì “ these three flowers are red “ . Đã có three rồi còn bắt these flowers cũng phải thêm chữ s, this phải đổi ra these, verb phải đổi ngôi và số is ra are. Tiếng Pháp còn phải đổi đỏ ra đỏs (rouges). Đó là một thí dụ về sự tôn thờ ý niệm mà tiếng nói là dấu hiệu. So với tiếng Việt thì vừa thừa mà lại thiếu, thừa vì đã có 2 chữ s, verb còn phải đổi ra số nhiều; thiếu vì chữ ba không đủ bao quát toàn bộ, đấy là điểm một, còn điểm nữa là cú pháp mạch lạc mà cơ cấu yếu: ta nói ăn được, được ăn, chỉ cần đổi vị trí của từ. Còn Mỹ phải dùng hai verb can và may. Đấy là lý do ngữ luật trở nên bề bộn và được quan trọng hóa rất mực. Ở La Hy xưa trẻ mới khai tâm phải học ngữ luật chứ không học về luân lý, sử ký.

b.- Tính chất đơn sơ và hàm súc của tiếng Nói theo Cơ cấu



Tiếng ta trái lại rất đơn sơ nên có sức hàm súc nhiều. Trong quyển Man and People ông Ortega Y Grasset nhận xét rằng tiếng Tàu giàu nhất thế giới về khả năng hàm súc (comprehension) do cơ cấu mạnh với sự dùng nhiều hư tự, vì hư tự chơi vai trò âm u với toàn bích. Ta có thể nói về tiếng Việt như vậy mà còn hơn nữa vì về hư tự thì tiếng Việt giàu hơn tiếng Tàu.

Hư tự của ta là những chữ kép vào không cần thiết thí dụ nói chợ, nết, ngân đủ rồi không thêm chợ búa, nết na, ngân nga như ta quen dùng: đó chỉ là hư tự không cần mà lại cần: không cần cho nghĩa từng chữ nhưng lại rất cần để móc nối với âm u toàn thể. Đó là nét biểu lộ nhiều tính chất triết lý của dân tộc Chủ nhân Trống đồng, trống là hư, là không, hư không làm nền tảng cho triết Việt do thế mà ngôn ngữ của ta tràn ngập hư tự tức là tiếng đầy triết lý nhân sinh vậy.

Có lẽ đây là lý do của một kinh nghiệm bản thân tôi. Số là nhiều người đọc sách tôi mà không hiểu, có người đề nghị cần sửa đổi dăm ba từ ngữ thí dụ không nên viết “ cần suy nghĩ lại “, “ đã bàn rồi “, “ xin nhắc lại “ mà nên viết cần chúng ta suy nghĩ lại, chúng tôi đã bàn rồi, chúng tôi xin nhắc lại.… Tôi bằng lòng sửa lại vì với tôi từ ngữ chẳng qua chỉ là để hiểu đạo, nói chúng ta cần suy nghĩ lại là đặt nổi chủ từ như Tây Âu cũng chẳng sao, y như hiện nay trong việc viết tên ta phải đặt cá nhân trước dòng họ, thay vì Lý Ông Trọng thì phải viết Trọng Lý Ông, thôi thì vào xứ cá nhân ta cũng phải đành đi một đường cá nhân vậy. Nhưng nhượng bộ rồi tôi cứ cảm thấy một cái gì ray rứt tạm gọi là khổ tâm như phải đi xa khỏi việc coi trọng gia tộc hơn bản thân, coi trọng lối giương mặt cá nhân (tôi, chúng tôi) hơn là ẩn náu để nhường chỗ cho đạo lý, nhưng gặp thời thế thế thì phải thế. Phải thế nhưng vẫn suy đi nghĩ lại về khía cạnh triết lý của tiếng Việt và ghi lại một ít trong bài này để mở chân trời cho những suy nghĩ về sau. “

U.- NỀN GIÁO DỤC LƯỠNG DIỆN

( Phụ trương I )

Cần vận động cho một nền Giáo dục Lưỡng diện. Khỏi nói thì ai cũng biết là nền văn minh hiện đại đang trải qua một cơn khủng hoảng trầm trọng đến nỗi gây ra Tâm trạng bất an nơi mọi người nhất là phái trẻ. Nơi họ tâm hồn bất an thường đi kèm theo lòng phẫn nộ phản kháng om xòm, bằng chứng là sinh viên trên khắp thế giới đều có những cuộc biểu tình bãi khoá để đòi cái này yêu cầu cái kia,nhưng đấy chỉ là những biểu lộ cục bộ. Còn cái mục tiêu chung không hiện lên rõ rệt thì lại chính là tất cả các nền văn minh hiện đại mà từ trong Tiềm thức họ muốn đập phá cho tan tành. Nhưng nếu có ai hỏi tại sao lại muốn đập phá? và đập phá rồi sẽ lấy chi thay thế cho, thì đó là những câu hỏi ít được đặt một cách rõ rệt, càng ít hơn nữa sự đi tìm những câu đáp thấu đáo. Và đó sẽ là những dấu hỏi mà trong buổi nói truyện hôm nay chúng ta sẽ thảo luận tìm kiếm.


Trước hết chúng ta phải hỏi tại sao đối kháng như vậy? Chúng ta phải ngạc nhiên mà hỏi là vì văn minh không tiến bộ đến tận cung trăng sao mà cần chi phải phản kháng? Theo nhiều Triết gia thì vì đây là một nền văn minh chỉ có một chiều cho nên cũng biến con người trở nên một chiều và như vậy là con người bị tha hoá.

Triết gia Herbert Marcuse gọi là con người nhất diện “One dimensional man”, còn Heidegger kêu là sự mất ý thức về nét Gấp đôi.

Tôi cho rằng nhận xét như thế rất đúng, và nó giúp ta nhận ra rằng nhân loại sẽ thoát khỏi cơn khủng hoảng này ngày nào tìm ra được một nền Triết lý có nét Gấp đôi, một nền Giáo dục có tính chất Lưỡng diện.

Nếu bạn hỏi thêm: ai hay nước nào sẽ có đủ điều kiện để tìm ra những cái đó và nếu chúng ta được phép suy luận tiên nhiên thì câu thưa sẽ là nước Việt Nam này. Bởi vì nếu nói cách tiên nhiên thì nên căn cứ vào Vật biểu, vì vật biểu nói lên sử mệnh của một nước, vậy mà hầu hết các nước trên thế giới chỉ nhận có một con thú làm vật Tổ: nước Pháp con Gà, nước Anh con Sư tử, nước Nhật Mặt trời... Riêng có nước Việt Nam thì vật biểu không là một mà là hai tức Tiên và Rồng: Non và Nước: Nước đi với Rồng, Non đi với Tiên. Luôn luôn cặp đôi như thế để nói lên Lưỡng nhất tính của nền Văn hoá Việt Nho.

Tuy nhiên đấy là truyện xưa khỏi nhắc đến nhiều vì có thể coi là bới móc truyện cũ mãi tự đời hồng hoang mông muội. Vậy chúng ta hãy nói đến truyện hôm nay thì hiện nước ta đã bỏ Hồn Non Nước để đi sâu vào Triết học một chiều của con gà và vì gà là què nên phải ăn quện cối xay một chiều. Điều này thì ai cũng biết nhưng cần phải nói tới vì ít mấy người nhận thức ra sự nguy cơ của lối hành xử như vậy, cũng như đề ra được phương dược chữa trị liền. Bởi thế mà tôi lấy làm đề tài cho buổi nói truyện hôm nay, và tôi tự hạn cục vào một phương diện Giáo dục mà thôi.
Một nền Giáo dục lý tưởng phải bao gồm Hai chiều kích một là “ Làm Ăn “ hai là “ Làm Người “, nói khác là thành Công và thành Nhân. Nói thế thì ai cũng nói được nhưng để cho lời nói có Nội dung chân thực thì phải có một kế hoạch cho thành Côngmột đường Hướng cho thành Nhân. Thiếu hai điểm đó thì chỉ là văn chương.
` Vậy trước hết xin bàn về Thành Công.

Để đạt điểm này thì cần phải có một Kế hoạch. Vậy mà tự ngày Độc lập chưa thấy chi cả gọi là kế hoạch. Nếu có thì phải lưu ý điểm này: nước ta chậm tiến, còn bị chiến tranh triền miên ghìm xuống cuối sổ các nước chậm tiến. Vậy cần phải sửa soạn gấp cho việc kiến thiết là sửa soạn trước hết việc đào tạo Chuyên viên, tức lo cho Đại học.

Thế mà tất cả chú ý giáo dục tới nay được dồn hầu trọn vẹn vào Trung Tiểu học mà bỏ lơ Đại học: ngân sách giáo dục năm nay là 8 tỉ thì dành cho trung tiểu học 6 tỉ rưỡi, còn Đại học tất cả chỉ có nửa tỉ không mấy khác chương trình của thực dân đào luyện thông ngôn và bỏ bê Đại học là đúng đường lối giữ nước mình làm một thị trường tiêu thị hàng cho mẫu quốc.

Tại sao nay chung ta đã lấy lại độc lập rồi con tiếp tục lề lối làm việc của thực dân. Theo tỉ lệ các nước tân tiến nhất thì cứ bốn sinh viên kỹ thuật mới có một sinh viên văn khoa. Vậy mà nước ta thì có tới bốn sinh viên Văn khoa chưa chắc đã được một sinh viên Kỹ thuật. Khi các em học xong trung học không biết đi học ở đâu nữa: cao đẳng kỹ thuật chỉ mở tượng trưng, Y và Dược nhận có hạn và vì vậy là phải vì Y và Dược cũng chỉ là phục vụ việc tiêu thụ.

Còn lại bao nhiêu vì không biết học gì nên phải đổ xô nhau vào trong hai trường Luật và Văn khoa.

Đã nhiều lần bàn tới và chính quyền cũng công nhận bi trạng này, nhưng cuối cùng vẫn thoái thác viện lý do thiếu ngân sách. Và mọi người đều phải chịu vậy chờ khi nào có tiền sẽ hay, y như sự thiếu hụt ngân sách là căn nguyên gây nên tệ trạng này. Nhưng thực sự không phải thế.


Chúng tôi cho rằng ngân quĩ eo hẹp cũng như chiến tranh mới là tùy phu: còn việc chính thì chưa được nêu ra đó là vấn đề tiêu dùng ngân sách. Chúng ta hỏi rằng có nên ưu tiên Trung Tiểu học như nay chăng? Hỏi như thế ai cũng sẽ nhận ra rằng ưu tiên phải dành cho Đại học vì chỉ có Đại học mới là nơi sáng kiến phát minh, cao đẳng mới hiện thực tức là kiến thiết quốc gia thực sự, còn Trung Tiểu học chỉ là sửa soạn. Lo cho Trung Tiểu học mà bỏ bê Đại học thì có khác chi trồng cây chăm cho đến lúc nảy nụ rồi bỏ héo khô, không chăm sóc cho tới lúc kết quả. Muốn có kết quả thì phải biết lo cho Đại học. Không phải Trung học không cần nhưng nếu vì ngân sách chưa đủ thì tạm hoãn lại vì ở Trung học còn trông vào tư nhân. Ngược lại Đại học vượt tầm với của Tư nhân, nhất là về đàng thành Công. Vì cho được mở những trường cao đẳng kỹ thuật đòi phải có các chương trình 5, 10, 20, 40 năm mới ước đoán được số kỹ sư cần thiết cho mỗi ngành. Điều đó chỉ có Chính quyền mới hiện thực được. Thế mà chính quyền không làm thì tức là bắt nước phải trì trệ trong chậm tiến.

Một chính trị tốt thì bao giờ cũng làm cái dân không thể làm, còn dành lại cho dân cái dân làm được. Trong trường hợp ở đây cái dân không làm được là Đại học, là cao đẳng, lẽ ra chính quyền phải dành ưu tiên cho bậc này.

Thế mà cho tới nay chỉ thấy chính quyền cố sức đua hơi với tư nhân: ngân sách có bao nhiêu cũng giốc hầu trọn vẹn vào việc xây cất các lớp trung tiểu học, hầu như để cuối năm có dịp khoe khoang thành tích bằng thống kê số các lớp được xây cất thêm. Ông nọ truyền cho ông kia vẫn mãi mãi một điệu như nhau cả và như thế là có cả mười mấy năm rồi, không tiến được lấy một bước nhỏ.



Trường sở Đại học Văn khoa vẫn bệ rạc đến nỗi không thể tưởng, thế mà trải qua bao nhiêu chính quyền không tìm thấy được một mống nào biết đến cái quốc xỉ để thấy rằng Đại học Văn khoa dầu sao cũng là bộ mặt tinh thần của đất nước, thì dẫu túng thiếu tới đâu cũng nên cố giữ lấy cái thể diện, nhất là đối với một nước đã có tiếng nhiều ngàn năm Văn hiến, thì tiếc chi giăm ba trăm triệu tu bổ lại để đói cho sạch rách cho thơm:
Đấy là những điều cần phải làm vì thế chúng ta không nên ngồi mà chờ ngày có đủ ngân sách nhưng phải vận động cho chính quyền dành tức khắc cho Đại học, nếu không hơn ít ra một nửa ngân sách, tức là 4 tỉ thay vì nửa tỉ hiện nay. Nếu sợ vì đó mà gây ra nhiều lộn xộn trong sự thay đổi kế hoạch thì nên thu tiền học phí trường công để có thể tiếp tục duy trì bộ máy giáo chức nhà nước ở Trung Tiểu học, nếu có vì thế mà số học sinh Trung Tiểu học bớt đi đôi chút thì cũng mới là sự thiệt hại cho một số cá nhân, chưa phải là nguy cấp cho cả nước như sự tiếp tục chính sách giáo dục hiện hành. Vì nền giáo dục thì là nền giáo dục dẫn quốc dân tới chỗ ăn mày. Bởi vì giốc hầu trọn vẹn tiền vào việc sản xuất ra Tú tài rồi bỏ đấy giở ông giở thẳng vì không nơi học thêm.

Điều cần lo trước hết là trong lúc khó khăn này không phải là lo cho có thêm nhiều cô cậu Tú tài thọt, nhưng là lo cho những cô cậu Tú tài đó trở nên những người tốt nghiệp có thể giúp vào việc kiến quốc, khỏi phải đi thuê chuyên viên ngoại quốc trong khi người nhà thất nghiệp ngồi nhìn. Có được học đâu mà chẳng ngồi nhìn. Một nền giáo dục có đường hướng phải làm thế nào để các học sinh xong Trung học có trường học thêm, và khi tốt nghiệp có nơi làm việc. Được như thế mới có lối thoát cho bản thân người đi học cũng như đóng góp vào việc kiến quốc.


Trở lên là mấy điều thuộc thành công và những điều này hiển nhiên ai cũng thấy được, vì thế mà chúng ta có quyền ái ngại hỏi tại sao chính quyền không chịu làm? Tại sao trong lưỡng viện không một ai lên tiếng? và tại sao chính sinh viên học sinh cũng không tranh đấu cho những mục tiêu chính đại quang minh và khẩn cấp cho thân mình như cho đất nước như vậy?
Thưa quí vị chúng ta đã mất quá nhiều năm tháng ngao du hoang phí rồi. Cần phải hành động gấp rút.
Bây giờ tôi xin đề cập đến thành Nhân cần phải có một đường Hướng tức là một cơ sở Tinh thần cho chương trình Giáo dục, để các cái học khỏi rời rạc tản mát. Đó là điều rất hệ trọng vì cái học mà tản mát sẽ khiến Tâm hồn người đi học cũng tản mát và trở nên nông cạn không nơi bám víu rồi không còn lý tưởng cao thượng: khi học xong nếu không mắc chứng tán loạn tinh thần thì cũng chỉ trở nên những kẻ ích kỷ chỉ biết lo vơ vét cho đầy túi riêng chứ không còn biết tới nghĩa đồng bào, tiền đồ tổ quốc là chi nữa.

Vì thế để xứng danh với bộ Giáo dục thì cần phải đưa ra một đường Hướng cho Giáo dục, một Chủ đạo. hiếu nó bộ Giáo dục dốc ra bộ học thức với mục tiêu duy nhất là ban phát cho người đi học một số tri thức nào bất kỳ.

Vậy tại sao cho tới nay tất cả mọi chương trình giáo dục đều chỉ là Bộ học vấn, vì chỉ có một chiều? Thưa vì trước hết người ta yên trí đã có hai chiều vì ai cũng cho là đã có Đức dục nó là chiều kích thứ hai đối với chiều kích kia gọi là trí dục. Nhưng trong thực chất thì Đức dục là gì nếu không là Luân lý, Văn chương, và Tôn giáo... Nhưng bấy nhiêu có phải là Đức dục chăng? Vì Luân lý cũng như cả môn công dân giáo dục chỉ đem ra những công thức ước định cần thiết cho đời sống bên ngoài với những lời khuyến thiện. Nhưng đó không là Đức dục vì Đức dục chân thực phải là khoa khai thác được nguồn Linh lực tự trong con người luôn luôn vọt lên. Cho được như thế nó phải đi theo Tâm linh hay là Toàn thể, vì chỉ có Toàn thể mới có sống mà có sống thì mới tự động tự bơm Linh lực cho người học làm cho người học trở nên hăng say thành khẩn với Đức lý.

Cái đó Luân lý có làm được đâu, nó cũng chỉ là một tri thức gởi tới Lý trí với một số câu khuyến thiện gởi tới ý muốn tất cả chỉ có giá trị nhứt thời chưa có chi gởi tới Tâm linh thì sức mấy mà huy động nổi con Người toàn diện cách bền bỉ, cho nên phải dùng đến hứa hẹn là dẫu tỏ ra nó con một chiều y như Trí đức tức Học vấn suông.
Còn Văn chương Văn học thì chỉ là những môn học thời bình có mục đích đẹp đẽ hoá cuộc đời, vậy nó đòi hỏi có cuộc đời đã mới khả dĩ trang hoàng. Nói khác sứ mạng Văn chương không phải là đào sâu đến tận nguồn Linh lực mà chỉ là trang sức nên cũng không là Đức dục theo nghĩa uyên nguyên.

Có chăng chỉ còn Tôn giáo, nhưng vì Tôn giáo là một niềm tin không thể bó buộc mà phải để tùy ý mỗi người. Nhưng chính vì vậy mà có rất nhiều Tôn giáo, vì đó mà không thể đưa Tôn giáo vào. Làm thế sẽ là gieo mầm chia rẽ trong dân nước.


Bởi thế cuối cùng phải cần đến Triết lý. nhưng nói đến Triết thì lại vấp vào một bế tắc nan giải, là vì Triết học bàn những cái gì trừu tượng xa thực tế, nên bị coi là xa xỉ phẩm. Mà quả thực như thế.

Lý do sâu xa là vì bên Tây Âu Triết học đã được sáng nghĩ ra do những người tự do sống trên đầu trên cổ nô lệ, mà không biết chi tới những thực tế ăn làm nên những vấn đề Triết học họ đặt ra toàn nằm chình ình bên ngoài đời sống.

Đấy là điều hiện nay đã được nhiều người nhận ra và được nhiều người tìm cách sửa đổi nhưng chưa đạt kết quả, nên Triết vẫn còn trong tình trạng thập nhị Sứ quân, chỉ có thể học hỏi nghiên cứu chứ không thể đưa vào làm Chủ đạo cho nền Quốc học và chính vì đó nên nền Giáo dục của Tây Phương vẫn còn thiếu hồn, thiếu bản chất, là vì nó thiếu yếu tố Qui tụ.


Bởi vậy nói đến Giáo dục Tổng hợp mà chỉ căn cứ trên Văn hoá Tây Âu thì đó chỉ là nói cho vui truyện. Thiếu yếu tố Qui tụ thì chỉ là Tổng cộng chứ sức mấy mà đáng gọi là Tổng hợp? Và vì thế cuối cùng chúng ta phải kiến thiết lấy một nền Triết lý mới dựa trên những nguyên lý Lưỡng nhất tính của Việt Nho, và được triển khai nhờ những yếu tố của gió bốn phương.

Nền Triết lý táo bạo này phải là một nền Triết lý Nhân sinh nghĩa là phải đáp ứng được những như yếu của con Người toàn diện cả tư Nhân cũng như công Dân. Cả con người Đại ngã Tâm linh u áo, cũng như con Người bé nhỏ sống trong xã hội chịu những điều kiện của ăn làm thời tiết với những mối giao liên phiền toái.

Ngày nào chúng ta kiến thiết được một nền Triết lý như vậy và ngày nào được chính quyền chấp nhận vào chương trình Giáo dục thì tự hôm đó chúng ta sẽ là nước đầu tiên trên thế giới có một nền Giáo dục Lưỡng diện tức cũng là bước tiên quyết cho sự phục hưng Đất nước, một điều kiện bất khả vô cho bất cứ một cải cách sâu rộng nào; từ hoạt động Chính trị, Kinh tế cho tới hoạt động Văn hoá Xng đem hết Tâm hồn vào thực hiện thì chỉ là những Dự án suông trên giấy tờ. Vậy hỏi cái gì đào tạo nên những Người có Tâm hồn quảng đại bao la đó, nếu không là một nền Giáo dục Lưỡng nhất tinh.


Bao giờ chính quyền chấp nhận? Theo quan niệm truyền thống “Quốc gia hưng vong Thất phu hữu Trách “ thì câu hỏi trên cũng có nghĩa là bao giờ chúng ta làm việc để cho có một nền Giáo dục lLỡng diện, và vận động cho nền Giáo dục đó được thực thi. Như thế thì câu thưa không ở xa nhưng nằm ngay trong mỗi người chúng ta. Và lúc ấy câu hỏi bao giờ chính quyền làm, trở thành bao giờ chúng ta sẽ làm ?

Bài này trình bày mấy ý nghĩa đã được phát biểu tron vào buổi nói truyện với sinh viên (Đắc Lộ và Duy Linh) trên vô tuyến truyền thanh vào lối thượng tuần tháng 5-1970


V.- SỨ MẠNG HIỆN NAY CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC CÁC TÔN GIÁO

( Phụ trương II )
“ Tôi dùng chữ Trí thức ở đây theo nghĩa rộng lượng bao hàm Thông thái (intellectual) lẫn Thông minh (intelligent) tuy biết rằng nhiều khi hai phẩm tính đó không đi đôi, nhưng không hẳn thiếu và tôi chỉ muốn nói với những người kiêm cả hai đức tính đó. Tôi nói rằng Sứ mạng của Tri thức Tôn giáo hiện nay là đức Tương Dung. Một đức cần phải luyện tập cũng như tuyên dương ra rộng rãi.
Bạn hỏi hiện nay các Tôn giáo không có đức Tương Dung sao? Các Tôn giáo đã chẳng sát cánh đánh đuổi thực dân cũng như hiện nay chẳng đang chống lại xâm lăng của cộng sản là gì? Thưa cái đó đúng, nhưng chưa đủ để chứng minh là có đức Tương Dung, vì nó mới là đợt ngoài tạm đủ cho những việc khẩn cấp và hiển hiện, thí dụ khi phải đánh đuổi kẻ thù chung: cho nên rất có thể đó mới là sự chịu vậy vì không thể làm khác.

Đó là tâm trạng tiêu cực không xoá bỏ được lòng nghi kị nhè miếng; còn lâu lắm mới đạt đợt tích cực làm bằng lòng kính nể, tương thân, tương ái tự trong lòng phát xuất, phải có nền móng vững chắc và đã được tài bồi vun tưới.

Còn hiện trạng trên có thể mới chỉ là một đức tự nhiên có ra đó chứ thiếu nền móng, không được vun tưới hoặc có thể là do hoàn cảnh bên ngoài, nói cho xác thiết là một sự Quân bình lực lượng giữa các Tôn giáo.

Sự quân bình này có ngày sẽ mất khi một trong các Tôn giáo sẽ nắm phần trội và khi nào có phần trội vượt hẳn thì lúc đó cũng sẽ chấm dứt trạng thái hiện nay để mở sang giai đoạn xuất hiện nguyên hình của cái người ta quen gọi là đức Tương Dung mà kỳ thực chỉ là sự khôn khéo tùy thời của óc chinh phục còn đang chờ đời thời cơ thuận tiện để xuất trận. Lúc đó nó sẽ không ngần ngại đàn áp, ép buộc các Tôn giáo khác.

Chưa biết ngày nào cán cân sẽ nghiêng và nghiêng sang bên nào, chỉ biết hiện nay không một Tôn giáo nào là không mong cầu và tích cực hoạt động để nó nghiêng sang cho Tôn giáo mình. Và như vậy sự bình an hiện nay không chứng tỏ có Tương Dung. Hay nói khác cái gọi là Tương Dung hiện nay chỉ là giả tạo và khi tôi nói sứ mạng là có ý nói đến thứ Tương Dung chân thực làm bằng kính nể tôn trọng lẫn nhau, đặt trên nền móng một tình yêu chân thật không có hàm chứa cái gì là mưu toan là chinh phục. Nếu định nghĩa như thế thì quả là đức Tương Dung còn thiếu và chúng ta phải coi đó như Sứ mạng, bởi vì rất cần thiết cho sự hưng thịnh của Quê nước cũng như cho tinh thần trung thực của Tôn giáo là Yêu thương.


Vì thế chúng ta hãy trở lại đào sâu vào trong vấn đề. Muốn xác định sứ mạng cho mỗi giai đoạn thì việc làm trước hết phải là xem vào thực trạng hiện nay cả trên thế giới lẫn trong nước nhà.

Về thế giới thì quả là một thực trạng rối loạn bơ vơ, thiếu hướng. Đó là một sự hiển nhiên, ai cũng thấy. Tuy nhiên có một điểm đáng thắc mắc là tại sao Nhân loại đang bơ vơ lại không chịu nhận Tôn giáo làm Chủ đạo đang khi các Tôn giáo vẫn không ngớt tự trình bày như một Hướng đạo tinh thần. Điều này có nhiều lý do nhưng đáng chú ý hơn cả thì có hai: một là vì Tôn giáo quá nhiều mà chủ trương lại trái ngược nhau nên chấp nhận Tôn giáo là kim chỉ Nam thì sẽ không đi tới Nam mà có thể là tới Đông Tây tứ phía.



Lý do thứ hai quan trọng hơn hẳn lý do thứ nhất vì lý do thứ nhất có thể vượt qua bằng một sự tuyển tập ở mỗi Tôn giáo một ít điểm để làm thành món ăn có nhiều mùi vị ai thích mùi nào thì dùng, có nhiều hạng người với tầm mức trí thức khác nhau, thị hiếu khác nhau do phong tục, tính nết, giáo dục v.v. thì đa Giáo có hệ chi. Thế nhưng lý do thứ hai làm cho nó rất hệ trọng đó là xưa nay Tôn giáo hầu hết dễ ghé sang cuồng tín mà đã cuồng tín thì không chịu chấp nhận một Tôn giáo khác và vì thế mà gây nên những xung đột đẫm máu. Những cuộc xung đột này không phải là những bóng ma trơi do người Trí thức suy ra nhưng là có thực và đã xảy ra nhiều nơi kể cả bên Âu Châu là xứ văn minh nhất: những cuộc Thánh chiến, những vụ sát hại tập thể kêu là Saint Barthelemy, những trận chiến 30 năm, rồi một trăm năm và hiện nay là những vụ xung đột giữa Tin lành và Công giáo trên đảo ái Nhĩ Lan.
Bên Đông thì những vụ rắc rối đẫm máu giữa Hồi giáo và Ấn giáo cứ lâu lâu lại bùng nổ. Còn bên Cận Đông thì cuộc chíến dai dẳng giữa khối Á Rập và Do Thái cũng không thiếu yếu tố tôn giáo xen vào nhất là giai đoạn mới rồi khi Roben một người theo Ki Tô giáo đốt đền thờ Alaksa ở Jerusalem được người Ả Rập sùng bái nhất. Vì thế các quốc gia Ả Rập đã đồng loạt đứng lên phản đối mãnh liệt, họ đình công, biểu tình, gào thét đòi phục thù và thế là chiến tranh bùng nổ trở lại và được gọi bằng tên mĩ miều là “Thánh chiến”. Cuộc nội chiến ở Biafra cũng phần lớn do Tôn giáo: Nigeria theo Hồi giáo, Biafra phần lớn Thiên chúa giáo.
Đó là Á Châu, còn bên Mỹ Châu và nhiều nơi khác vẫn có những cuộc xung đột tuy không lộ liễu nhưng vẫn ngấm ngầm. Chỉ có những nước theo một Tôn giáo mới thoát. Nhưng đó là tình trạng càng ngày càng hiếm hoi.

Bây giờ trở lại nước nhà và ai cũng đã biết hiện nay là một quốc gia đa giáo: Phật giáo, Cao đài, Hoà Hảo, Tin Lành, Công giáo v.v. Trong đó Tin Lành cũng như Phật giáo lại chia ra nhiều phe phái khác nhau. Còn về mối liên lạc giữa các phe các Tôn giáo, nếu phải đi vào tận bề sâu mà nhìn là đối kháng, đố kỵ, hận thù... và điều đang e ngại là lòng đó kỵ khi đã không có gì làm tiêu tan mà còn được vun tưới cho lớn mạnh theo đà đi lên của lòng mộ đạo, đến nỗi hầu có thể nói các phong trào tôn giáo xét về lâu về dài cũng chính là những phong trào phá hại tinh thần đoàn kết quốc gia hơn hết.
Câu đó thoạt nghĩ đã không khỏi làm phật ý, có khi còn gây cả phẫn nộ cho rất nhiều đoàn thể Tôn giáo, nhưng nếu chịu thành tâm suy xét thì sẽ nhận ra là thế, chỉ cần nhớ lại những ngày tháng hãi hùng năm 1965 là lúc sự hận thù đã hiện nguyên hình bằng đập phá, đâm chém và phải kết luận là chưa bao giờ các Tôn giáo đã biểu diễn yêu thương nhau cách chân thành được một phần mười như vậy.

Đấy là một sự thật ê chề đau đớn khiến cho những người chân thành muốn phụng sự cả Quê nước lẫn Đạo pháp không biết phải làm thế nào mà dung hợp. Không lẽ phải chọn một bỏ một: chọn Tổ quốc thì thôi Tôn giáo và ngược lại. Đó là một sự lựa chọn rất đau đớn giữa bên lý bên Tình, chọn Tổ quốc thì có Lý vì trước nạn xâm lăng của Cộng sản thì ưu tiên phải dành cho Tổ quốc. Tổ quốc có còn thì Tôn giáo mới có đất đứng, Cộng sản mà thắng thì mất luôn Tôn giáo cùng với Tổ quốc. Cho nên sự lựa chọn này rất hợp lý.
Tuy vậy khó lòng hợp Tình. Vi Tình cảm với Tôn giáo rất linh thiêng không dễ gì bỏ được, và do lẽ đó hầu hết sẽ chọn Tôn giáo mà bỏ Tổ quốc, vì rằng Tổ quốc chẳng qua là tạm bợ đời này, còn Tôn giáo mới là quê thật bền vững thường hằng v.v. Sự chọn này càng dễ dàng vì chẳng ai nghĩ đến mình đã chọn: tức là tất cả yên trí rằng mình đang phụng sự cho cả hai. Và trong Tâm khảm mọi người đều cho sự bắt buộc chọn lựa kia chỉ là điều suy ra trong bàn giấy chứ trong thực tế ai mà có ý chọn như vậy. Điều đó đúng: chẳng có ai nghĩ như vậy, nhưng cũng nên biết rằng ở đời có những cái xảy ra bên ngoài ý nghĩ, ý định, ý muốn... vì bên ngoài tầm Ý thức, như muôn vàn đau thương mà con người gây ra cho nhau không mấy khi do ý muốn cả, trái ngược lại là khác.

Vì thế phải nói rằng sự chọn lựa kia có thực, nó không thi hành trên đợt Ý thức, nói cụ thể là trên bình diện Công dân, vì hiện nay người công dân nào không đi quân dịch, không đóng thuế... nhưng nằm sâu trong bình diện Tâm hồn giáp cõi Tiềm thức nên khó nhận ra. Nhưng ai chịu lặn sâu xuống sẽ nhận ra là có thực và đã có sự lựa chọn dầu rằng đó là một sự lựa chọn đầy nguy cơ dẫn đến chỗ mất luôn cả Tôn giáo lẫn Tổ quốc; vì thế số chọn Tôn giáo đông hơn gấp trăm ngàn lần số chọn Tổ quốc. Vì thế cũng có trăm ngàn lần người đi theo những đường hướng khác nhau mà đã khác nhau là làm suy yếu sự Doàn kết quốc gia. Nếu suy yếu quá mà bị Cộng sản tràn ngập thì còn chi nữa. Vậy mà điều ấy đang được thực hiện trong xứ sở chúng ta, có nghĩa là người nước ta đang vô tình dẫn nhau đến chỗ chia rẽ làm hại cho cả Tổ quốc lẫn Tôn giáo.
Trước mối nguy cơ đó chúng ta phải làm gì? Hô hào đồng bào làm ngược lại nghĩa là bỏ Đạo để phụng sự Tổ quốc? Ai làm như thế là ngố vì hiện nay Tổ quốc có còn cơ sở tinh thần đâu mà bảo chọn được. Và giả sử có đi nữa thì sự chọn cũng vẫn còn nằm trong Nhị nguyên tức còn phải chọn Một bỏ Một.

Vậy có cách nào ổn thoả được cả hai chăng? Tôi nghĩ rằng có và nó ở tại mỗi Tôn giáo hãy tìm trở lại cái nguồn gốc chân thực của mình. Cái nguồn gốc đó là Yêu thương, là Từ bi, là Bác ái... Như câu thánh Jean gọi “Chúa là Yêu Thương = Deus est Charitas”. Câu ấy có thể trở thành tiêu chuẩn tối hậu cho chúng là khi tìm Chân lý: nghĩa là tất cả những gì không đi theo tiêu chuẩn đó thì đều sai: và ta có thể tuyên bố rằng những Đố kỵ, Hận thù Hành hung kia đều không do Đạo, mà là do những hoàn cảnh nào đó đã được đưa vào các Tôn giáo để làm sai lạc Tinh thần Tôn giáo đi: “vì lẽ ra Tôn giáo phải là một nhân tố đoàn tụ, thì ngược lại đã trở thành Nhân tố chia rẽ mạnh nhất

(nhận xét của Henri de Lubac một linh mục dòng tên).
Tại sao lại có sự đáng buồn đến như vậy. Theo khoa xã hội học thì đại để nó đã xảy ra như thế này: Ai cũng biết Tôn giáo là yếu tố cao cả linh thiêng nhất trong một xã hội, nhờ đó khi nêu cao Tôn giáo thì cũng là củng cố sự Đoàn kết xã hội như thực sự nó đã nhiều lần thi hành được. Thế tại sao ngày nay lại không làm được như trước.

Thưa vì có một yếu tố mới: trước kia mỗi người dân nước chỉ biết có đồng Hương đồng Đạo nên vấn đề cho Đạo mình là cao trọng nhất không gây nên sự bất tiện nào cả.


Trái lại ngày nay hầu như không còn nước nào độc Giáo, và sự sống bên cạnh người khác Tôn giáo, khác văn minh đã trở thành chuyện thường nhật. Vậy nếu mọi người đều giữ tâm trạng suy tôn Đạo mình... thì tất không sao tránh được va chạm. Và vì thế sự khôn ngoan sơ đẳng bắt phải dẹp niềm Tin đó sang một bên.
Bằng cách nào?
Thưa trước hết là bằng ngoại giao, nhưng ngoại giao mới là cách cấp thời nó mới kịp che đi sơ sài. Nhưng che đi không có nghĩa là xoá bỏ, là chữa chạy nên óc Độc tôn kia vẫn còn đó, có tài giấu đến mấy thì nó vẫn thò đuôi ra kiểu này hay kiểu khác.

Và cũng chính vì chỗ nửa kín nửa hở nên càng gây thêm ngờ vực đố kỵ. Vậy chỉ có phép là thực tình dẹp bớt niềm tin trên kia lại để nó không bị dốc ra Cuồng tín.

Và đó là điều tôn giáo nào cũng công nhận. Chứng cớ là những lời tuyên bố về thông cảm, đón nhận, đối thoại..., và đã lập ra nhiều đoàn hội kêu là Hoà đồng các Tôn giáo, đến nỗi hôm nay khi tôi nói đến sự cần thiết của đức Tương Dung thì như là lặp lại một chuyện đã được nghe nhiều lần. Sự thực thì không phải thế. Số là những hội Hoà đồng Tôn giáo cũng như các lời hô hào trên kia tuy rất cần kíp, nhưng mới là việc cấp thời chưa tìm ra một nền móng chung nào để làm chỗ đứng cho các Tôn giáo, nên kết quả rất ít và phiến diện. Và chính vì thế mà bên Âu Mỹ hiện đang nổi lên một trào lưu phản kháng ở tại đập phá mọi thể chế và chối bỏ mọi uy quyền. Đại loại luận cứ của họ có thể tóm lược như sau: vì Tôn giáo đã sống quá lâu trong địa vị Độc tôn cao cả, nên bất cứ cái chi liên hệ tới cũng đều được phủ lên một bào quang uy linh tôn kính, đến nỗi có những cái sù sù ra trước mắt kia, như lấn đất, buôn lậu, bắt tay với cộng sản... mà vì nhân danh tôn giáo hay có một liên hệ nào đó với Tôn giáo thì đến ngay chính quyền cũng phải e dè: sợ làm ra sẽ xúc phạm tới tôn giáo, huống hồ những cái khác tế vi hơn thuộc lý thuyết, thói tục v.v. thì ai dám động tới. Bởi thế nên sự trở về nguồn được hết mọi nơi công nhận và hô hào thì trong thực tế không là chi khác hơn là sự đổi kiểu trình bày. Nhưng trình bày kiểu khác không là trở lại nguồn vì trở lại nguồn là đi một “hướng đi khác” (Reorienter):

Mà đi hướng khác là chấp nhận và dọn chỗ đứng cho những yếu tố mới. Yếu tố mới là Liên châu, là giáo dân trưởng thành được quyền suy nghĩ và nhận lấy trách nhiệm về mình... Yếu tố mới đó không thể đưa vào nếu chỉ trình bày Đạo lý cách khác. Trình bày khác thuộc nghệ thuật làm văn không động chạm tới Nội dung và vì thế bao giờ thì cũng như nhau là mở đầu bằng sự nhấn mạnh đến cởi mở, đối thoại rất kêu, nhưng cuối cùng chỉ là để che đậy Độc thoại: sau cũng như trước: vẫn đâu nằm đó, vì thế vẫn dẫn đến chỗ bế tắc. Và đó là lý do trào lưu phản kháng chủ trương dùng phương thế mạnh là đạp đổ, đả kích... có như thế mới trông Tôn giáo giũ bỏ được những cáu bụi làm sáng Tinh thần và Yêu thương trung thực. Vì thế họ cho rằng đả kích Tôn giáo chính là làm bùng nổ lên các phong trào phản kháng ở khắp nơi bên Âu Mỹ.
Cũng may mà trào lưu này chưa lan sang đến Việt Nam, nên chúng ta còn được ít nhiều an tĩnh để kiểm điểm tình hình. Cứ lấy đại cương ra mà bàn thì lý do của họ có cái đúng chi chăng. Nhưng xét về hành động thì không thấy gì bảo đảm, mà còn đi ngược Tâm lý: có đời nào một tâm trạng đã được nuôi dưỡng nhiều ngàn năm bỗng nay đòi đạp đổ ngay đi được. Đừng bảo rằng nó sai, Nói thế cũng còn là vun tưới lòng tin đó, vì nó sẽ trỗi dậy để tự vệ cũng là củng cố là lớn mạnh...

Đã thế đối với bên Việt Nam thì đường lối phản kháng chỉ thấy có hại, ít ra trong tình thế khẩn cấp của nước nhà. Trong tình thế này cần đoàn kết, nên hết mọi đả phá rộn ràng gây li tán đều nên tránh, vì cuối cùng sự chia rẽ đó sẽ vang dội vào sức mạnh của quê nước. Tuy nhiên chưa tới không có nghĩa là chẳng bao giờ tới và vấn đề đã được đặt ra không bao giờ được tự nhiên giải quyết.



Vì thế chúng ta nên tìm ra một đường Hướng mới vừa hợp tình trạng đất nước, vừa giúp vào việc xây đắp Quê hương, nâng cao nền Văn hoá dân tộc mà cuối cùng cũng là tìm trở lại tận nguồn suối Phúc Âm, tức cũng là giúp vào việc định hướng lại Tôn giáo (réorientation) đang được nhiều người bên Âu Mỹ (nhất là tu sĩ) mong muốn và vẫn không tìm ra hoặc ( ? ) không có quyền binh nào ngăn trở sự gạt bỏ đi để tinh lọc.


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   29


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương