VấN ĐỀ giáo dục chúng tôi viết Bài này để Kính nhớ ngày Giổ thứ 1



tải về 4.43 Mb.
trang6/29
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích4.43 Mb.
#100494
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29

Thiên lộc vĩnh chung

Thuấn diệc dĩ mệnh Vũ. (L.N. XX. 1)

Trong Đại Vũ Mô kinh thư 16 có lời sau:

Này Thuấn cái số của Trời ở ngay tại lòng Ngươi. Muốn đạt là người phải chân thành nắm vững cái Nội ngã của ngươi thì sẽ đạt. Nếu không mà để cho dân chúng cơ khổ thì cái lộc Trời sẽ dứt. Về sau ông Thuấn cũng dùng những lời đó mà truyền lại cho vua Đại Vũ nhà Hạ mà ta có thể gọi là phương pháp để đạt Thiên chi lịch số như sau:
Nhơn tâm duy nguy,

Đạo tâm duy vi

Duy tinh duy nhất

Doãn chấp quyết trung. Nhơn tâm có thể nguy, vì Đạo tâm rất tế vi. Vậy chỉ có cách là giữ Tâm hồn được tinh ròng chuyên nhất vững nắm cái Nội ngã Tâm linh của mình.

Thêm vào hai câu trên là chương “Hồng phạm” mà căn bản là Ngũ Hoàng cực trong Kinh Thư nó là cái khung, hay là Cơ cấu cho tất cả nền Triết lý Việt Nho nên đã được quảng diễn ra trong quyển Chữ Thời.
Trở lên là ba bản văn có thể coi như hàm chứa đại cương tất cả nội dung Truyền Thống Nho giáo, đã được Khổng Tử duy trì và truyền về sau.

Nay chúng ta muốn nắm được then chốt thì việc đầu tiên là dẫm vào lốt chân người to lớn, tức là đặt đúng được Đạo vào căn cơ của ông Bàn Cổ (xem Nhân Bản), tức vào quỹ đạo của nền Nhân bản tâm linh có thể mới hiểu được Đạo Nghiêu Thuấn tức là Tâm Đạo siêu linh.

Nếu không “ tiễn tích ” đạp vào vết chân người to lớn thì chỉ tới mức Thiện nhơn (l’honêtre homme) mà Khổng cho là “bất tiễn tích, diệc bất nhập ư Thất ” (L.N. XI. 19), tức là chưa theo được lốt chân người to lớn Tâm linh, nên cũng không “nhập ư Thất” tức là đạt “Nhân Tính”. Lúc đó có học cũng là chạy quanh ngoài cửa với sân. Chưa theo đúng được Tâm Đạo, nên không vào được trong nhà Thái Thất.



Lão giáo chủ trương “vô triệt tích” tức là xóa bỏ “ vết chân ”. Nho giáo cũng có một bậc “triệt tích” nhưng dành cho bậc Thánh nhân và thần Nhân. Nhưng trước khi làm Thánh nhân phải làm kẻ Sĩ, rồi Quân tử, mới có đà đi lên Thánh nhân. Trước khi Triệt tích thì phải Tiễn tích, để rồi mới có Tích để mà triệt.
Do đó mà Nho giáo đã tìm lên được đến gốc nguồn “Tổ thuật” và ngày nay được kiện chứng bằng vị trí Sao Trăng (theo luật précession des équinoxes như sẽ bàn trong cảo luận Chữ Thời) một trật cũng đi vào Nội tâm khám phá Vũ trụ Tâm linh.

Thành ra một Đạo lý có Thống kỷ Trong Ngoài cùng với những nguyên lý thật Quân bình như Tam tài, Nhất thể, Chí Trung Hòa, nhất Âm, nhất Dương v.v… như sẽ được quảng diễn trong các cảo luận về sau.

Lúc đó chúng ta sẽ nhận ra “Tiễn tích” hoặc nói kiểu huyền thoại “đạp lên lốt chân Người to lớn” không có nghĩa chi khác hơn là đi đúng chiều “Tiềm thức cộng thông nguyên thuỷ” (inconscient collectif primordial) mà khoa Tâm lý các miền sâu đang tưng bừng khám phá ra, nó chính là kho báu những Linh tượng của Nhân loại được chôn giấu thật sâu bên cạnh suối thiêng gọi là Cam Tuyền.

Như vậy Truyền Thống cũng chính là con đường khám phá mạch Cam Tuyền cho nên huấn điều căn cơ của Truyền Thống là bảo mình phải tự kiên trung với Nội Ngã của mình. Tinh hoa của Truyền Thống có thế thôi.

Và đó là điểm cần được duy trì. Các bậc hiền triết đại thánh vẫn chủ trương có bấy nhiêu. Và chúng ta vui mừng ghi nhận từ ít lâu nay đã có những triết gia nhận thức lại được chân lý trên. Những người lo âu về tình trạng Vong thân của con Người, cũng chính là những người làm việc để trùng tu Truyền Thống mặc dù dưới danh từ khác.

Vậy thì ta có thể kết luận những Triết gia tên tuổi nhất lại chủ trương Truyền Thống. Nietzsche có công đầu tìm ra chỗ đứt quãng Truyền Thống và ông tri hô như Hỏa diệm sơn tung toé. Jaspers đưa vào Triết lý những cái nhìn trên thời cuộc bao gồm Sử vận của Nhân loại rất giá trị. Heidegger rủ rỉ tán chữ nghĩa đem ra những tư tưởng sâu sắc. Còn nhiều nhóm khác không thể kể ra đây.

Nhận xét cuối cùng có tính cách rất hứng khởi và đầy thú vị: Truyền Thống chính là con đường có bảo đảm nhất để khỏi nói là duy nhất trong việc cập nhật hóa môn Triết lý trung thực và mọi nền Tư duy muốn có chất nuôi dưỡng Tinh thần.

K.- ĐẠO HỌC LÀ GÌ

Người ta hay lầm Đạo học với khoa Luân lý hình thức vì thường chúng cũng mang tên Đạo đức học. Kỳ thực khi xem từ đầu chí cuối không gặp được yếu tố chi đáng gọi là Đạo cả. Cũng có người lầm Đạo học với Tôn giáo bởi vì hai đàng có điểm giống nhau ở chỗ cả hai bên có bầu trời siêu việt, một bên là Siêu nhiên, một bên là Tâm linh. Nhưng cũng còn rất nhiều sự dị biệt từ căn để. Chẳng hạn, trước hết Tôn giáo là một tín ngưỡng, một lòng sùng mộ, đang khi Đạo học là một tri thức cùng loại Khoa học, hơn nữa còn là bà Chúa khoa học ở chỗ không những tìm biết nhưng tìm biết cách thấu triệt bằng Trực giác.

Khoa học mới là một Tri thức, một Savoir, đang khi Đạo học phải là một Sagesse, một Minh triết, nghĩa là cái biết đến căn cơ cũng gọi là Đạo học. Triết lý chưa phải là Triết khi hiểu Triết cùng với nghĩa Minh Triết.
Trong trường hợp đó Triết phải viết hoa, nói lên cái biết cùng cực. Còn Triết lý tuy cũng là cái biết triệt để nhưng mới là cái để của Lý học là một tài năng rốt ráo của các cơ năng khả giác, hữu hình, có đi xa hết cỡ cũng mới vượt giác quan có cơ thể, chưa hẳn là Hình nhi Thượng, nên Triết học chưa phải là Triết, cũng như Ý thức chưa phải là Thức: Ý thức mới là một phần nhỏ của cái Thức toàn diện bao hàm Tiềm thức, Vô thức, Siêu thức, Thần thức v.v…

Triết học chỉ ở trong vòng ý thức, trong vòng lý trí của con người hiện tượng.
Triết mới bao gồm cả Lý trí lẫn Tiềm thức Siêu thức nơi cõi Tâm linh của con Người toàn diện Đại ngã. Hiểu như thế thì Triết với Đạo là một.
Vậy Đạo học là gì? Có thể căn cứ vào tự dạng chữ Đạo kép bởi bộ xước là đi và Thủ là đầu, là cội gốc mà thưa rằng:
Đạo học là đường đi về với bản Gốc của mình. Đạo chính là con đường “phục quy kỳ Căn”, trở lại với căn cơ nguồn ngọn của con Người muôn thưở.
Đạo học chỉ có bấy nhiêu đó, nhưng chỉ bấy nhiêu đó cũng quá đủ đặt ra cho ta những vấn đề vừa thâm thiết đến mệnh số và cứu cánh con người, cho nên cũng là những vấn đề hào hứng mà không một ma tuý nào trên đời có thể bì kịp, là vì nó trung thực và đáp ứng cho những khát vọng cốt tuỷ nhất của lòng người. Những vấn đề nó đặt ra sâu xa man mác đến nỗi lý trí con người mặc dầu có thể tạo dựng nên những khoa học tân kỳ đủ loại, cũng đành bó tay trong địa hạt bao la của cõi Đạo và ngoại trừ một số dữ kiện sửa soạn, lý trí không sao tìm được đáp số cho những câu hỏi chẳng hạn: Nguyên uỷ mà Đạo tìm về là cái chi?

Phục quy kì căn” thì căn đó là gì?



Nó liên hệ với ta ra sao?

Với Vũ trụ Nhân sinh thế nào?

Trên đường quy căn đó có phục kích, có đắp ụ chăng? Ai đắp?



Những ai phục kích? Làm sao mà kinh qua?

Đó là đại loại vài câu hỏi mẫu, nó sẽ kéo theo biết bao câu hỏi khác mà già cả một đời tận tuỵ tinh anh cũng không sao giải đáp hết. Vậy thì Đạo học không phải là tuân theo một số luật tắc này nọ, vâng giữ một số nghi tiết kia khác… Những cái đó nếu có cũng chỉ là phụ thuộc.


Đạo học là một đường lối siêu tuyệt phát khởi từ Tri thức, Ý thức, xuyên qua Tiềm thức, Vô thức để lên miền Siêu thức nên thấu nhập vào tận Thâm Tâm con Người cũng như tỏa ra thấm nhuần hết mọi Hành vi Cử chỉ con Người. Nói theo Tâm não khoa học đời ta thì Đạo học mở ra những chân Trời kỳ lạ có thể gọi là chiều kích thứ năm thứ sáu tuỳ ý (5e, 6e dimension).
Nhưng điều cốt cán là ám chỉ cái nguồn nghị lực huyền diệu chất chứa bên trong, khiến cho ta khi đọc và có thể hiểu được Đạo học thì sẽ thấy có cái chi lôi cuốn rất huyền vi.
Có những người chỉ cần nghe một câu của Đạo học đã đủ sáng soi, hướng dẫn và tiêm hăng say cho cả một đời sống cách rất sung mãn, và đó là chỗ Đạo học vượt xa Triết học, nó đưa lại cho Triết học một chiều kích Siêu linh mà nguyên Triết học không sao có được.

Nó đem lại một Nguyên lý uyên tuyền phổ biến đang khi Triết học mới đạt những Nguyên lý thuộc Lý trí, thường được phát kiến ra bằng lý luận suy tư nên có tính cách tương đối, cùng loại với Khoa học như Toán Lý Hóa v.v…

Vì thế khi định nghĩa Triết học, Aristote cho là cái biết đến tận những lý lẽ. Ông đã dùng số nhiều “rationes, causas”: những lý do, những căn nguyên. Chữ những là cái cùm cầm chân không cho Triết học tới đến cái Lý Nhất quán, Vô nhị.

Chỉ có Đạo học mới vượt qua hàng rào những Lý, những Lẽ để đi sang miền “Lân hư” tiếp cận vớiKhông” tức không biên cương giới mốc, không lý lẽ, ở bên ngoài những ngẫu kiện tương đối (contingences relatives).

Do đó mà Đạo học không dùng số nhiều nhưng là số ít. Một đầu, Vô nhị, Nhất quán nhưng với sức bao dung vô tận như đại dương, còn Triết học chỉ là ao, hồ.


Vậy Đạo học sẽ phải là chỗ hướng vọng của chúng ta, của những con Người thế kỷ 20 đã hiểu được ngoài Hiện tượng còn có một cõi Siêu linh cần khám phá.
Trải qua hai mươi lăm thế kỷ, Triết học lý niệm đã có đủ thì giờ lục soát cõi Hiện tượng và đã chu toàn sứ mạng của giai đoạn Lý trí rồi, nghĩa là đã biểu lộ đến hết cỡ mọi khả năng của nó, và Kant đã tuyên bố là nó bất lực trước thế giới siêu linh đành bó tay vì không có buồm lạt chèo cột chi cả. Giờ đây nó đang bị đả phá, bị tháo gỡ để dọn đường cho Đạo học ra đời. Đó là chiều hướng đáng hứng khởi của Triết học hiện đại, tuy mới như rạng đông qua làn sương mai chập chờn biến hóa “hốt hề hoảng hề” nhưng “kỳ trung đã hữu tượng” tức là đã có tượng linh động đủ cho chúng ta quy hướng sinh lực vào đó mà phát triển và hoằng dương.

Với Triết học có làm hết cỡ chúng ta cũng mới là Triết học gia, một thứ bác học có nhiều sáng kiến và mạch lạc.

Chỉ với Đạo học tức là một thứ Triết Trung thực chúng ta mới đi vào con đường trở thành Triết gia, Hiền triết.
L.- TAM GIÁO

Tam giáo là Ba Tôn giáo lớn của Việt Nam, đó là : Lão giáo, Phật giáo. Nho giáo ( Khổng giáo )

I.- Nghĩa hai chữ Đạo và Giáo

Hai chữ Đạo và Giáo thường được dùng lẫn lộn và cùng với thời gian chở theo nhiều yếu tố phức tạp. Trong phạm vi Văn nghệ hoặc tiếng nói thông thường thì dùng tạm như thế có lẽ không sao, nhưng bước vào lãnh vực Triết lý thì sự minh biện trở nên cần thiết. Sách Trung Dung mở đầu bằng một câu phương ngôn nền tảng như sau:


Thiên mệnh chi vị tính

Suất tính chi vị Đạo

Tu đạo chi vị Giáo”

Tính chính là Thiên mệnh. Tuân theo Tính gọi là Đạo. Sửa cho ngay cái Đạo gọi là Giáo hoặc là tu luyện vun tưới cái Đạo gọi là Giáo.”

Đọc câu sách trên ta thấy ngay đối tượng của chữ Đạo ở đây không phải là Quỷ Thần hay Thượng Đế, nhưng chính là Tính con người. Hiện thực cái Tính Bản nhiên đó chính là cứu cánh của đời Người.

Do đó Tính còn được dùng làm tiêu chuẩn để phân định mọi giá trị cao thấp. Đấy là một sự phân biệt cốt cán cần nêu ra ngay tự đầu. Và để tránh một sự thiếu sót nghiêm trọng cũng cần thêm ngay rằng: cái đối tượng của Đạo ở đây không hề có khép kín, hay là vô thần như một số tác giả đã nhận lầm, mà trái lại đó là một đối tượng mở lên và hướng Thượng, thông với Tuyệt đối thể bằng lời tuyên bố công nhiên: “Thiên mệnh chi vị Tính”. “Tính con người không là chi khác hơn là mệnh lệnh của Trời!”

Muốn hiểu được Tính con người cần hiểu Thiên Mệnh.

Có thể nói đây là một dịch bản (version) của nguyên lý tổng quát: “Vạn vật bản hồ Thiên” (kinh lễ), cái Gốc của Vạn vật xuất phát từ Trời. Cái Gốc ấy khi áp dụng vào con Người thì gọi là Tính: “Thiên mệnh chi vị Tính”.

Muốn nắm được ý nghĩa uyên nguyên của chữ Thiên mệnh ở đây, thì cần phải tránh hiểu theo nghĩa Ngoại, có thể dịch là Mandat du ciel, mệnh lệnh của Trời, tức là theo nghĩa Ngoại. Theo nghĩa Nội thì không được hiểu thiên mệnh như một mệnh lệnh nào ở ngoài truyền đạt tới con người, chụp lên đầu cổ nó như câu Mạnh Tử đã chú thích:

Tính mệnh thiên tiên phi do ngoại thược ngã dã,” : “Tính mệnh là Thiên tiên là phú bẩm, bẩm sinh tự Nội (inné) không phải là do Ngoại đúc ra và đổ chụp vào ta đâu”.



Vậy phải hiểu theo nghĩa Nội Thiên tiên, tức là tia sáng đã phú bẩm nơi thẩm cung Tâm hồn con người mà ta cũng gọi là Minh Đức tinh tuyền linh diệu sáng láng bao la, hơn thế nữa là chính cái Tính bản nhiên con Người, nhưng đồng thời cũng là Thiên lý, một thứ Thiên lý Nội khởi: “ Thiên lý tại Nhân Tâm”.

Ta quen nói vắn là Tâm linh. Tâm chỉ Tâm Tính, còn Linh chỉ phần linh diệu sáng láng ăn thông với Thiên cách huyền diệu nên Lão Tử gọi là “ Huyền đồng”.

Sự giải tỏa sáng láng đó nhiều hay ít sẽ tuỳ theo với tu luyện và mức độ tinh ròng. Khi sáng đến mức độ như xem thấy Tính, thì lúc ấy gọi là Đạo “ Suất tính chi vị Đạo”. Nghĩa là giữa Mình và Tính không còn có gì xen ngang.



Cả hai ở liền nhau trực tiếp, là một, không có mảy may gì tư lợi, tư dục vẩn đục xen vào để hạn chế cái Tính Bản nhiên hoặc làm cho nó đi sai Tiết diệu uyên nguyên của Thiên Mệnh nên nó trở thành phổ biến linh diệu vô cùng, và chính khi nghĩ đến cái Đạo ở mức độ này mà Khổng Tử nói “Sáng được nghe Đạo chiều chết được rồi” (L.N. IV, 8). Chữ văn vừa có nghĩa là nghe vừa có nghĩa là tin thuận vâng theo. Le mot écouter prend ici le double sens d’éntendre et d’obéir.

chữ Đạo nói ở đây phải viết hoa, cực tinh ròng, siêu vượt mọi trần cấu, không có gì ví được.

Đó là mức độ cao nhất cần ghi nhớ để vừa cố tiến tới vừa để phân biệt với các mức độ thấp hơn, mà người ta cũng kêu ẩu là Đạo, nhưng đó là những thứ Đạo đã ly dị với nghĩa Uyên nguyên chỉ còn lại cái nhãn hiệu bên ngoài. Những thứ Đạo đó có nghe nói đến từng năm nhưng lúc phải chết, ai không biết tiếc sống thì kể là khờ. Vậy cần phải phân biệt tiếp theo.
Liền sau Đạo thì đến một thứ thấp hơn, sách không dám gọi tên là Đạo nữa mà chỉ gọi là Giáo: “Tu Đạo chi vị Giáo”.Tức là một cái Đạo đã không còn được tinh ròng, trung thực nữa, đã có nhiều sự pha tạp hạn chế lại rồi, nên cần phải “tu”, tức là sửa chữa lại, làm sao cho nó hợp với Đạo nguyên tuyền ở đợt trên cùng.

Vì thế nó chỉ ở đợt nhì vì đã đèo theo một ít yếu tố ngoại tại.

Bên dưới còn một đợt nữa, tức là sửa lại theo cái Đạo, cái Luân lý của một xã hội nhất định nào đó mà người ta gọi là khoa “Đạo đức”.
Không còn là cố gắng theo Đạo cùng nghĩa với Tính phổ biến nữa, mà chỉ còn là theo cái Đạo tư riêng, một thứ Tôn giáo nhân vi (artificielle) không ăn nhằm chi với Tính nữa mà chỉ đầy nhóc những thiên kiến làm cho người theo càng sùng bái bao nhiêu càng trở nên cuồng tín hẹp hòi bấy nhiêu, vì chỉ còn biết xem và đánh giá mọi việc qua cái lăng kính thiên lệch đó mà thôi.
Tuy thế cũng còn hơn một thứ Giáo nữa ở đợt thứ tư quen gọi là Giáo dục. Gọi thế cho sôm trò chứ kỳ thực là Lạm dục, vì”

Chữ Giáo bao hàm hai yếu tố: một là tu sửa, hai là cho hợp với Đạo.
Ở đợt ba chữ đạo còn bao hàm ý hướng tu sửa tuy để hợp với Đạo tư riêng nhưng ít ra còn yếu tố tu sửa; nhưng ở đây thì cả đến ý tưởng tu sửa cũng bay luôn. Và Giáo dục lúc đó đốc ra một thứ tri thức suông tình hầu hết xoay quanh sự vật (choisisme) ít có quan thiết chi tới Nhân sinh, tới những mối giao tiếp giữa Người với Người, và nhà giáo dục lúc đó chỉ còn là nhà chuyên môn có nhiệm vụ chuyển đạt cho thính giả một mớ tri thức bất kỳ nào đấy.

Vì thế mà phải cho nó xuống hạng bét, vì nó giết chết Văn hóa chân thực như Einstein đã phàn nàn “l’encyclopédie superficielle est la mort de la culture”.


Trở lên là đại để bốn đợt của hai chữ Đạo và Giáo, hai đợt trên viết hoa là Đạo, Giáo; hai đợt dưới viết thường là đạo, giáo.
Để tóm lại, ta có thể nói bậc trên cùng là Đạo lấy Tính Bản nhiên tinh ròng làm đối tượng. Đó là ý nghĩa uyên nguyên của chữ Đạo, Đạo học. Nó ngang hàng với chữ Minh Triết, là một sự biết thấu triệt thông suốt, không bị u tối hạn hẹp lại, nên luôn luôn kéo theo sự hiện thực. Tri với Hành hợp nhau gọi là Thành.
Bậc thứ hai là Giáo đã có nhiều môi giới xen ngang, nó ở cùng bình diện với Triết lý, một sự hiểu biết hữu hạn nên phải lần mò bằng khảo cứu, lý luận, biện chứng, và cũng có làm được ít nhiều.
Bậc thứ ba cũng gọi là đạo nhưng thực ra nó thấp hơn cả Giáo, vì đã dùng rất ít lý trí mà chỉ còn là nghe theo như đàn cừu, đó là bậc Luân lý hình thức, bậc “Tôn giáo” hẹp hòi, bậc đạo đức gồm những luật tắc, những quy thức ước định của một xã hội ở một thời đại nào đó: hết sức tư riêng, tương đối.
Và cuối cùng là bậc “giáo” đồng nghĩa với Tri thức bất kỳ nào. Và thường gọi là giáo dục. Mặc dù không dục không nuôi dưỡng tinh thần mà còn bóp chết bằng chất đống tri thức. Đó là đại để bốn bậc. Sự phân biệt này cần phải lưu tâm ghi nhớ để giúp ta quy định đường lối học hỏi, tức là tìm ra nền Triết lý Giáo dục. Vì thế ta cần đào sâu thêm ít bước nữa bằng đưa ra một số phân biệt đầu tiên là:

II.- Đạo giáo với Tôn giáo

Với sự phân biệt nền móng trên ta có thể thấy sự khác biệt giữa Đạo Giáo Đông Phương với Tôn giáo. Vì Đạo ở đây lấy tồn Tâm dưỡng Tính làm đối tượng (chữ Religion gốc bởi religo là buộc, tức là liên kết với Thượng Đế). Như vậy đã khá rõ. Tuy nhiên để tránh mọi lầm lộn có thể xảy ra, nên chú trọng bốn đặc điểm của Tôn giáo như sau:


Trước nhất Tôn giáo đòi phải Tin, nên bao giờ cũng có những tín điều (dogmes) dựa trên một sách được gọi là Thánh, vì chứa đựng những điều được tin do Thượng Đế mặc khải: Coran, Veda…
Thứ hai những việc phải Làm, tuy những việc đó hầu hết là nội dung chung cho cả nền Luân lý nhân loại, nhưng được đóng khuôn theo những Luật tắc, những tin tưởng nhất định của mỗi Tôn giáo. Mày phải yêu giai cấp Ksatria vì nó sinh ra bởi bụng của Brahma thí dụ.
Thứ ba là những Nghi tiết Lễ nhạc có tính cách Tế tự và Huyền bí và cũng theo những quy tắc đã được thiết lập do quyền bính thí dụ theo thời hạn nào, ngày sóc, ngày vọng phải tế phải cúng v.v…
Thứ bốn là có hàng Tư tế
Căn cứ vào bốn điểm trên để cứu xét thì Tam giáo không phải là Tôn giáo, vì:
1) Không có tín điều hay là mặc khải. Tam giáo nhận có Trời nhưng là Trời không nói “Thiên hà ngôn tai “ : Trời có nói đâu. Vì thế đề cao Trí (Trí đặt trước nhất, sau Nhân và Dũng v.v…). Phải tự mình dùng trí thông minh mà tìm ra chân lý nằm ngay trong Nội tâm của mình : Đạo tại nhĩ, nhi cầu chư viễn? (Mạnh Tử). Đạo ở trong mày, sao mày đi tìm ở đâu? Nói thế vì người ta hay tìm ở xa bởi đạo mập mờ thấp thoáng “Đạo chi vi vật hoảng hề hốt hề” (ĐĐK. 21). “Vô thanh vô xú” : không tiếng không hơi (Trung Dung, 35), nên không có tín điều quy định.
Và Tam giáo không có kinh thánh mà chỉ có Kinh điển, nghĩa là không có những lời trên buộc phải tin mà chỉ có những lời của các bậc Hiền triết truyền lại gởi thẳng đến Lý trí, hơn là cho Tình cảm. Với mục đích chuyển lại hậu thế một ít kinh nghiệm hướng dẫn ở bước đầu. Còn chính Chân lý thì Cua không cho Cáy được, nhưng Cáy phải đào lấy.

2) Về điểm thứ hai tuy có những việc rất giống nhau với cả mọi Tôn giáo trong nhân loại (đừng sát nhân, chớ ăn trộm v.v…) nhưng xét đến lý do thì Tôn giáo thường dựa trên những lý lẽ riêng biệt, như phải Yêu người vì họ cũng là một phần của Allah, trái lại Nho giáo nói phải yêu Người vì họ là Người.


3) Nghi lễ Tế tự với những phép màu là đặc điểm riêng các Tôn giáo với ý nghĩa bắt buộc đã được quy định do quyền bính. Tam giáo bản cốt không có nhiệm tích nào, tuy về sau Lão Thích cũng có nhưng chỉ với ý nghĩa tượng trưng không có tính cách bó buộc. Ai theo tuỳ ý.

4) Hàng Tư tế tuyệt nhiên vắng bóng trong Nho giáo, rõ rệt nhất là trong Khổng Giáo không hề có dấu vết của Tăng lữ. Còn Đạo sĩ, Sư ni trong Phật giáo chỉ là những người đi tu hành cho bản thân mình, chứ không có quyền hành chi trên ai, hay nếu có thì cũng chỉ là do uy tín cá nhân chứ không phải do quyền bính đã trở thành thể chế và vì thế hết sức phụ thuộc.


Lược qua bốn điểm trên, ta thấy người xưa dùng chữ Đạo, chữ Giáo mà dịch chữ religion là mở đầu cho nhiều lầm lẫn, người học Triết cần lưu tâm xem xét nội dung của mỗi chữ theo đồng văn. Sau đây là vài câu điển hình do sự lẫn lộn đó và cần được minh biện.

Vấn đề đầu tiên chưa gặp thấy và có lẽ chưa được đặt ra công nhiên nhưng cũng nên bàn sơ qua để tránh những sự ngộ nhận, đó là:



III.- Tôn giáo trên Triết lý hay Triết lý trên Tôn giáo

Với Tây Phương nói chung (ít ra tới thế kỷ 17,18) thì Tôn giáo ở trên Triết học. Triết học chỉ là con sen cho Thần học (Philosophia ancilla Theologiae) và xuất hiện lâu sau Thần học với tính cách tuỳ thuộc có hay chăng không quan trọng, như trường hợp Kitô giáo thì đến thế kỷ thứ 5 triết Platon được S.Augustin đưa vào Đạo, còn Triết học Aristote mãi đến thế kỷ 13 mới được S.Thomas thích ứng với Kitô giáo.

Và cho tới ngày nay người ta vẫn còn đặt vấn đề có hay chăng một nền Triết lý theo Kitô giáo? E.Gilson chủ trương có. Bréhier bảo không (xem Existe t-il une philosophie chrétienne? Nédoncelle). Vấn đề tế nhị ở chỗ đã tin thì phải có uy thế (autorité) nhưng uy thế đối với Triết lý thì không là nền móng mà chỉ là trang trí, củng cố thôi. S.Thomas cho là rất yếu… Vì thế mà có vấn đề.
Trái lại với Đông Phương thì không thành vấn đề, vì không có Tôn giáo nên khỏi đặt trước hay sau. Nhưng muốn xét kỹ thì những thứ người ta gọi là “Tôn giáo” như Lão giáo, Phật giáo v.v… chỉ là sự biến thể của Minh Triết. “Tôn giáo” ở đây hầu hết chỉ là một phương tiện để cụ thể hóa Minh Triết trừu tượng, một lối hạ Triết lý cho vừa tầm hiểu biết của đại chúng. Nói Nhân Nghĩa là nói trừu tượng, nhưng diễn đạt Nhân Nghĩa bằng Lễ, bằng Nhạc, bằng những Cử chỉ cụ thể trong các mối Tương giao của loài người thì lúc đó thường dân thất học cũng hiểu được phần nào.

Vì thế bên Đông Phương, Tôn giáo hoặc lòng sùng bái luôn luôn vâng phục Minh Triết, chứ không bao giờ bắt Minh triết làm con sen hoặc chống đối. Chính vì vậy mà gọi là Văn hiến chi bang!

Vậy những Lễ Nhạc, những Nghi tiết, những Hình ảnh như Tây Phương cực lạc thế giới, cũng như Táo quân lập bô với Hoàng Thiên Thượng Đế v.v… Đối với trí thức chỉ là ẩn dụ thường thường là do các môn đệ về sau đặt ra để minh họa Giáo lý cao siêu của thầy, nhưng rồi thường dân tin theo chữ đen: tịnh độ không còn là tâm trong sạch nữa, mà là một nơi nào đó trong không gian v.v… Từ đấy những ẩn dụ đó trở thành “tôn giáo”. Còn chính Bản cốt Tam giáo chỉ là một nền Minh triết.



IV.- Đạo nào cũng tốt

Đây là câu thứ hai thường xuất tự cửa miệng người Đông Phương. Câu này cũng phải hiểu theo nghĩa thứ nhất của chữ Đạo ngang hàng với Tính phổ biến tức là Minh triết, như phần nào quen hiểu bên Đông Phương. Ngược lại, nếu hiểu chữ Đạo theo nghĩa Tôn giáo thì câu trên thường bị công kích. Vì đứng riêng trong phạm vi Tôn giáo thì mỗi Tôn giáo đều cho Đạo mình là duy nhất đáp ứng được những tiêu chuẩn của một Chân Đạo, dĩ nhiên không tôn giáo nào chịu nhìn nhận rằng những tiêu chuẩn kia đã được rút ra từ Đạo của mình nên làm sao hợp cho Tôn giáo khác.

Bởi thế con Đạo không thể chấp nhận một Tôn giáo khác, và câu nói “đạo nào cũng tốtlà một câu nói tỏ tường sai. Làm sao lại cho là tốt được cả hai khi một bên nói có bên kia nói không?

Cho nên chỉ có một Tôn giáo trúng. Nghĩa là chỉ có một Tôn giáo nhất định có thể hợp với tiêu chuẩn nhất định. Điều đó thật là rõ ràng.

Vậy câu nói “Đạo nào cũng tốt” nên hạn chế vào các đạo giáo Đông Phương mà thôi, không nên áp dụng vào Tôn giáo Tây Phương vì phạm trù khác hẳn. Và ngay với Đông Phương câu trên cũng còn hàm hồ, và bình dân. Nên cũng cần phải xác định thêm cả chỗ quy định rằng đó chỉ là Tam giáo mà thôi.

Sở dĩ nói ba đạo đó tốt vì cả ba đều là Minh triết xây trên con Người lấy Minh tâm làm đường đi, lấy Thành tính làm chỗ đến. Tính mệnh đó là nền móng, là “Đồng quy”, đó là tuyệt đối. Ngoài ra là “Thù đồ” (những nẻo về khác nhau) vì cả ba đều nhận Vũ trụ quan động với những nguyên lý do Âm Dương. Đã động đích đã biến dịch thì tất cả là tương đối, đã Âm Dương thì tất cả là bù trừ hơn là chống đối.

Là Đại đồng mà Tiểu dị. Đồng ở gốc siêu hình. Dị ở phương pháp giải quyết.

Khổng Lão cho đời nay là cay đắng hay ngọt bùi, Phật có cho đời là bào ảnh là bát khổ đi nữa thì cả ba đều đồng ý mà cho đời là Biến dịch. Đã biến dịch thì có cái chi là bền vững trường cửu đâu, vậy tội gì nhọc công mà bênh vực lập trường này hay lập trường nọ: ngọt bùi, đắng mặn hay sao sao rồi cũng biến thiên đi hết.
Khác với phạm trù cố định của Triết học Tây Phương xây trên Vũ trụ quan Tĩnh (xem bài Triết Đông động Triết Tây tĩnh trong Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây) theo nguyên tắc “mâu thuẫn” và “triệt tam” A là A. Và A không thể là B. Trái với Triết Đông vì là biến dịch nên A có thể là B. Trong khi chờ đợi thì trong A đã có căn B rồi: “Âm trung hữu Dương, Dương trung hữu Âm”.

Nhưng nẻo nào thì cũng là biến dịch, cũng trong vòng vận chuyển, cho nên tất cả là tương đối chỉ trừ có một Tính diệu huyền. Do đó mọi biểu tượng, mọi áp dụng chỉ là phương tiện tuỳ với thái độ trước đời sống, tuỳ với căn cơ và sở thích mà khác nhau. Con đường hợp cho người này vị tất đã hợp cho người kia, nên để tuỳ sở thích.



Khổng Tử răn môn đệ: “công hồ dị đoan tư hại dã dĩ ” L.N. II 16); công kích những mối khởi đầu khác là điều có hại (có người dịch công là chuyên học không đúng, xem nghĩa chữ công ở L.N. XII 20). Vì các mối đó mâu thuẫn nhau đâu mà công, tất cả chỉ là bù trừ là bổ túc. Bởi vậy ta có thể coi Tam giáo là ba mối đầu lớn nhất:
Lão Tử bàn về con Người sống trong Thiên nhiên cố hòa mình với Vũ trụ bao la nên có một nền siêu hình về Nhân sinh đồ sộ man mác. Tuy vậy cái Triết lý đó còn ở trong cõi sống.
Thích Ca sẽ nối tiếp nền Siêu hình đó và kéo dài sang bên kia cõi sống để dẫn đến Tuyệt đối thể gọi là Như Lai bằng những phương tiện rất tỉ mỉ dựa trên Tâm lý con người. Đứng ở những đỉnh cao chót vót đó mà nhìn đời thì dễ đem lòng coi nhẹ cuộc sống, coi đời như những đám mây huyền ảo.
Đang khi toan xuất thế vọng cảnh thì may mắn bên cạnh có Khổng Tử thực tế đặt nặng chú trọng đến con Người sống trong xã hội bị ràng buộc trong những mỗi Nhân luân phức tạp, phồn đa bó buộc phải có một nền Triết lý dấn bước, sắn tay.
Đứng bên một Lão hay xao lãng xã hội, quá đề cao cá nhân có thể dẫn đến nguy cơ vô chính quyền (anarchie, xem Zenker 177) và một Phật quá chú trọng đến giải thoát có thể trở nên bi quan khắc khổ với hiện tại, thì Khổng đem lại óc yêu đời, dấn thân vào việc cải tiến Nhân sinh, đem ra một nền giáo dục “Dấn thân” tích cực. Đó là ba chỗ khởi đầu của Tam giáo mà ta có thể coi như ba cổ thụ mọc ở ba nơi khác nhau.
Cây Khổng mọc lên ở “cõi Người ta” ăn rễ sâu vào lòng đất “ an Thổ đôn hồ Nhân cố năng ái”.

Cây Lão mọc trên núi cao chót vót, tiêu dao với tiên cảnh bồng lai.
Cây Phật mọc trong rừng rậm cố thoát ra cõi âm u để vươn mình lên với cõi vô lượng quang, vô lượng thọ.
Tuy mọc ở ba nơi khác nhau, với những mối khởi đoan dị biệt, nhưng khi vươn lên đến chóp đỉnh thì gặp nhau hòa hợp làm thành một cái Tàn bao la rủ bóng mát che cho các dân tộc Viễn Đông, cho mọi khuynh hướng mọi sở thích.

Muốn Cụ thể thực tiễn cũng có, mà muốn Siêu hình huyền niệm cũng có. Nhờ chỗ bù trừ bổ túc đó mà Tam giáo trở nên một nền văn hóa Nhân bản toàn diện và sâu thẳm gây nên cảnh thư thái êm đềm. Người Viễn Đông tràn ngập lòng tri mộ mới nói ra câu “ Đạo nào cũng tốt “ .
Vì vậy đứng trong phạm vi Triết lý Đông Phương thì câu ấy là một câu đáng duy trì và mở rộng. Vì Đạo ở đây chỉ có nghĩa là Đường đã đặt ra để vươn tới chỗ Tính mệnh đồng nhiên. Bởi chưng khả năng căn cơ khác nhau không ai có quyền độc đoán về những chuyện Tâm linh man mác. Ai dám làm thế là bắt chước người vẽ quỷ có đuôi rồi buộc người khác phải tin và kết tội những người không tin (Vua nước Vệ hỏi một họa sĩ: Vẽ gì khó? Chó hay quỷ? Thưa vẽ chó khó vì ai cũng thấy, vẽ liều không được, còn quỷ chẳng ai thấy đâu nên tha hồ hoa bút).

Thái độ Độc đoán vì thế thiếu căn bản và thường gây ra bầu khí Bất tương dung. Trái lại nếu thấu triệt chân lý của câu “Đạo nào cũng tốt” thì sẽ duy trì được đức Tương Dung. Đức này là một trái quý của khóm cổ thụ kia, nên ta cần dừng lại một lúc để ngắm nhìn.

V.- Đức Tương Dung

Là một nét đặc sắc của Tam giáo và ta có thể gọi Viễn Đông là quê hương của đức Tương Dung cũng như vườn ươm các cố gắng tổng hợp Tôn giáo. Đang khi nhiều nơi xảy ra chiến tranh Tôn giáo, chẳng hạn trường hợp Ấn Độ: dân cùng một nước nhưng vì theo hai Tôn giáo khác nhau mà gây ra cảnh nồi da Pakistan- Ấn Độ nấu thịt dân tộc Thiên Trúc. Cùng một dòng máu mà vì vấn đề Tôn giáo vác búa, gậy, dao xuống phố để gieo rắc máu và nước mắt đặng giảng yêu thương chăng?
Có lẽ xưa kia nước Nga là một địa điểm thuận tiện nhất để quan sát nét đặc sắc của Đông Phương. Vì mạn Đông của Nga chịu ảnh hưởng của Phật và một ít Nho, Lão. Các Nga hoàng nhận thức được điểm đó nên thường khuyến khích các Giáo phái ở mạn Tây tản cư qua rặng núi Caucase và Oural để tránh sự bách hại của nhóm Chính thống thường gây ra bên miền Tây (Herbert 136, Introd. À l’Asie).

Một khi bước chân vào miền Đông, họ sẽ thở hút bầu khí Tương dung cởi mở, “bên Cha cũng kính, bên Mẹ cũng vái”.

Cùng trong một gia đình có khi Bà theo Lão, Mẹ theo Phật, Cha theo Khổng và vẫn niềm nở đón nhận những ngày cúng vái siêu độ.

Hơn thế nữa một Người theo hai ba Tôn giáo là chuyện thường.

Bên Nhật năm 1950 người ta tính ra trong số 80 triệu dân thì 63 triệu người theo Thần giáo, trong số này có 40 triệu người cũng theo Khổng giáo. Điều đó có thể thật cho Đại Hàn, Việt Nam, Trung Hoa. Nhân đó số người theo ba đạo khi cộng lại có thể gấp đôi dân số là chuyện có thực không phải là điều tính lầm như một số quan sát viên ngộ nhận.



Trong đời sống chúng ta có thể gặp biết bao những trường hợp như thế. Chẳng hạn Dương Hùng lúc hấp hối người ta gặp thấy tay trái cầm sách Đạo Đức Kinh và Luận Ngữ, tay phải cầm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.

Người ta tìm thấy một tượng vua Phục Hy vào lối năm 497-569 đầu đội mũ Lão, chân đi ủng Khổng, vai khoác cà sa Phật.

Giáo sư Herbert nhận xét rất đúng bên Viễn Đông một ông quan có thể theo Khổng lúc làm việc ở công đường, theo Lão lúc nhàn tản ngao du sơn thuỷ, rồi theo Phật trong lục tọa thiền.

Ta có thể nói chung rằng trong những thời kỳ Văn hóa lên cao, thì hiện tượng Tam giáo hòa hợp cũng trở nên khăng khít và một học giả theo cả ba đạo là chuyện rất thường, như bên Trung Hoa đời Tống hay bên Việt Nam đời Lý, Trần.

Một chùa thờ cả ba đạo kiểu Tam Tông miếu là chuyện không có gì lạ cả. Đó chỉ là óc Tương dung còn được duy trì và hình như ngày nay đang phát triển trở lại.

Ông Wing-Tsit-Chan có kể ra đến mười phái mới lập bên Viễn Đông có khuynh hướng đó. Năm phái thì tôn thờ Tam giáo Đông Phương, ba phái có thêm cả Judeu, Islam, Kitô. Một vài nhóm còn thêm những danh nhân như A.Comte, và ông có đan cử ra một ví dụ bên Nhật có miếu thờ bát thánh: tức là bên cạnh tam thánh còn có Jesus, Socrate, Mahomet, Kobo-Daishi và Nhật Liên (Religion Trends in Modern China p.157,178).
Và thường có những chuyện Tây Âu cho là không thể hiểu chẳng hạn: bên Lào nhiều thừa sai Kitô giáo muốn truyền bá đạo có thể đến chùa xin Sư ni ở đó lên hiệu trống hay chuông gọi dân tới nghe thuyết về Kitô giáo. Hoặc bên Nhật Bản, lễ an táng các sư của Thần đạo thường được các Sư ni bên Phật cử hành.

Nhờ óc Tương dung đó mà khu vực ảnh hưởng của Tam giáo mở ra rất rộng lớn. Từ Tibet đến Tích lan, từ sông Gange đến Nhật Bản cũng như số người hấp thụ rất đông, vượt xa các nhóm Tôn giáo khác và hiện nay Nho Thích được kể là hai đạo lớn trong số 5 tôn giáo của nhân loại (xem Les cinq grandes religions du monde của Glassenapp. Payot).

Cho nên trong dĩ vãng Tam giáo Đông Phương là một sự kiện Văn hóa mênh mông đồ sộ, có một thành tích Thống nhất nhân loại rất đáng kính nể và cứ sự có lẽ đó là một thực hiện đầu tiên của lý tưởng chung sống êm đềm. Ai nấy vẫn giữ được sắc thái riêng của mình và gần đây cả ba vẫn còn gây ảnh hưởng vào nền văn hóa mới.
Khổng giáo đã ghi dấu và chế độ thi cử tuyển lựa nhân tài, cũng như trong việc thiết lập nền Triết học duy lý Tây phương thế kỷ 18 (xem Cửa Khổng hai chương cuối).
Lão: quyển Đạo Đức kinh đã gây một tiếng vang sâu đậm trên tri thức nhân loại. Zenker đã có thể viết “Lão Tử a fait sur l’esprit européen dès le premier moment une impression profonde et durable à cause de son caratère intemporel et de son rigorisme éthique. Nous voyons en lui un guide vers la renaissance morale qui doit précéder tout renouvement social: il est la vox clamantis in deserto (tiếng kêu trong rừng). Lão Tử n’a pas vécu seulement pour la Chine et pour son époque, il est un des maitres les plus pur et les plus profonds de l’humanité” (Histoire de la Philosophie Chinoise p.108)

Phật: nếu xét như một nền nhân bản có thể thu hút được nhiều cảm tình, có nhiều liên hệ với khoa Tâm lý các miền sâu (xem bài A.Barreau trong Présence du Bouddisme).
Dĩ vãng cũng như cận đại đã có thành tích như vậy, nên ta có quyền đặt tin tưởng vào tương lai Tam giáo xét như là một nền Triết lý Nhân sinh, cũng như là một nền Nhân bản vừa tinh tuyền vừa toàn diện, tức là những điều kiện đáp ứng được nguyện vọng của Nhân loại hai thế kỷ sau cùng đang biểu lộ ở văn hóa Liên hiệp quốc, trong viễn tượng đặt nền Văn hóa trên Nhân bản để tìm cho nhân loại một nền tảng thống nhất. Vì thế ta hiểu tại sao trong cả ba lần Hội nghị quốc tế Triết lý, Tam giáo Đông Phương đã chiếm đuợc địa vị danh dự (xem quyển Essays in East West Philosophie par Charles A. Moore).

VI.- Hướng học tập

Tìm cho nhân loại một nền móng Tinh thần Thống nhất.
Đấy là một mục phiêu cao thượng quý hóa xiết bao, rất đáng làm hứng khởi mọi Tâm hồn quảng đại bao la, rất thích hợp với ý hướng Triết lý Nho giáo nhằm “an bang tế thế” (trị quốc bình thiên hạ). Tuy nhiên học về Tam giáo cũng có ba bảy đường, y như trong thực tế Tam giáo không phải chỉ có tạo nên được bầu khí tương dung tốt đẹp như vừa kể trên, mà trái lại cũng đã gây ra những vụ xích mích, bách hại, đả kích nhau.

Bức họa vẽ Phật pháp trên tòa sen.



Lão tay cầm sách Đạo Đức Kinh tay luyện linh đơn trong lò bát quái,

Đang khi đó Khổng lòm còm dưới đất như trẻ con, là một bằng chứng.

Bên Lão Trang thì tràn đầy những bài đả kích Nhân Nghĩa của Khổng Nho.

Bên Nho cũng không chịu kém như ta có thể thấy chẳng hạn trong bài thơ :
Phật thị thuyết pháp, Lão thị đàm kinh, Khổng Tử kiến chi, tiếu nhi truỵ địa” :
họ Phật giảng pháp, họ Lão bàn kinh, Khổng Tử xem thấy, cười lăn ra đất”.

Đó là những nét đen làm hoen ố bức tranh Tương dung mới nhắc tới ở trên.

Nguyên nhân tại đâu? Xét ra thì tại những Học giả, những con Đạo đã gây nên những bóng đen đáng tiếc kia, đã không hiểu đúng hay ít ra không giữ đúng được cái ý nghĩa uyên nguyên của chữ Đạo, chữ Giáo như chúng ta tìm thấy ở đầu chương.

Nho thì đâm ra tầm chương khoa cử. Thích thì đi về Tôn giáo, còn Lão chuyên về Huyền đạo. Nhân đó đâm ra khích bác nhau.

Rõ ràng là đồng minh trong Triết lý mà cạnh tranh trong Tôn giáo.
Vì vậy cần thiết phải nhắc lại để quy định cái hướng học hỏi của chúng ta. Trên ta thấy có bốn nấc của nghĩa chữ Đạo chữ Giáo, thì trong việc học hỏi ta cũng có thể chia ra bốn nấc tương đương.
1) Đợt cuối cùng phải kể đến là đám Danh học, Hình học mà người tiêu biểu là Huệ Thi với câu phê phán của Tuân Tử: “ Huệ tử tế ư từ nhi bất tri thực”. Huệ tử vướng mắc ở lời nói nên không nhìn ra thực tại. Phải xếp vào hạng này các thứ học từ chương, huấn hỗ, những người chuyên về văn nghệ duy mỹ dễ bị cái tội tế ư từ này, Tây Phương kêu là Duy từ ngữ (terministers). Đấy là cái học của “loài ve, kêu suốt mùa hè, đến lúc gió lạnh thổi, nguồn cơn thật bối rối”, bởi vì xem vào sở học thì toàn hư từ rỗng tuếch. Với họ cần nhắc lại khẩu hiệu “ từ đạt nhi dĩ hĩ ” (res et non verba: cốt sự mới quan trọng chứ không phải là hư từ).
2) Đợt trên một chút có thể xếp hạng học Duy tư, Duy niệm (conceptualistes) mà Khổng cho là “ tư nhi bất học tắc đãi ”. Suy tư suông mà không thực học (ý nghĩa chữ học của Khổng) thì nguy lắm. Đấy là cái học mọt sách, chỉ chú ý học mà không chịu xem cái học đó có hướng đến cái gì ơn ích chăng, thật không ăn nhằm chi với Đạo Nhân sinh của thánh hiền, mỗi lời nói ra là để cứu dân khỏi cảnh lầm than cơ khổ.
3) Đợt cao hơn chút nữa là bám lấy một Tôn giáo tư riêng, rồi lấy danh từ lý sự mà tranh hơn tranh kém, đạo này cao đạo kia thấp. Khổng Tử trách Tử Cống phí thì giờ so sánh ông này thấp ông kia cao (Tử Cống phương nhơn… XIV. 31). Những con Đạo này càng đông thì bầu khí bất Tương dung càng trở nên ngột ngạt nặng nề, chỉ cần xem chính bản thân của họ: cuồng tín, hẹp hòi mà hết muốn xét tới cái Đạo của họ giữ. Vì với hạng đó thì đạo nào cũng chẳng làm họ trở nên đại độ bao dung được ( phi đạo hoằng nhơn ).

Lục Cửu Uyên than:

Đạo Lớn bị người làm nó ra Nhỏ

Đạo Công tự người làm nó ra Tư

Đạo Rộng tự người làm nó ra Hẹp”
Đạo Đại nhơn tự Tiểu chi

Đạo Công nhơn tự Tư chi

Đạo Quảng nhơn tự Hiệp chi

Mấy thứ đạo câu chấp nhỏ nhen đó mà người tri thức để cho ngoai ra ở đâu thì có ngày chiến tranh Tôn giáo bùng nổ ở đấy.



Chúng ta nên trung thành với Truyền Thống mà coi óc bất Tương dung như dấu chứng những người đó không đủ khả năng cảm nghiệm được tinh thần của Đạo. (L’intolérance est considéré comme une inaptitude à l’expérience religieuse. Herbert, 92).

Lão Tử nói Tri Thường Dung ”. Người biết được đạo Thường Hằng thì có bụng Bao dung. Bởi cái Đạo đó đã đạt tới cái độ Viên Mãn mênh mông, không còn bị lệ thuộc vào những cái nhỏ nhen câu chấp.

Chúng ta phải cố gắng đừng để vướng mắc vào một trong những lối học ở trên dù là từ hay tư hay giáo, vì tất cả sẽ làm cho hết còn thấy thực chất của Đạo “tế ư Từ, tế ư Tư, tế ư Giáo nhi bất tri Thực”. Học kiểu Văn nghệ sĩ, Văn học (từ) Tôn giáo (Phật giáo, Lão giáo) đều không phải Triết lý nên dễ mắc ứ đọng.

Muốn tránh những bế tắc đó, muốn có thể “ hoằng Đạo ” : làm cho cái Đạo ta theo trở nên rộng lớn, thái công, bao la thì cần chúng ta phải đem hết chú ý nhằm vào đối tượng của Minh Triết là Tính và Mệnh.

Gắng sức nhấn mạnh vào Tính lý Đại đồng và tính chất bổ sung trong phương tiện.



Xin trích câu nói của Tôn Hoàng Đế (1163-89) rằng:
Dùng Phật giáo mà trị Tâm; dùng Đạo giáo mà trị Thân, dùng Nho giáo mà trị Thế.”
Điều này tuy đã bàn ở trên, nhưng vì khuynh hướng đi trật đường hãy còn rất mạnh, nên xin nhắc lại đối tượng đó, đối tượng của Đạo của cái Đức thiết yếu để đắc Đạo bằng một đoạn văn khác của sách Trung Dung.
Đức đó là Thành là Trung, Đạo đó là Tâm là Tính.
Vì thế mới nói “Doãn chấp kỳ trung: 允 執 其 中 ”. Phải tín Thuận phải Trung với cái Tâm của mình trước nhất. Chu Hy giải thích chữ Trung là “ tận kỷ chi vị trung : 盡 巳 之 爲 中 ”. Trung là sống cho tận cùng cái Kỷ, hiểu là Đại ngã Tâm linh nơi mình. Creel dịch rất sát là “ to be true to the principles of our natures”, sống trung thực với những nguyên tố cấu tạo nên Bản tính chúng ta. Chữ Trung ở đây lót bằng chữ Tâm nó đứng trên chữ Tình mà dưới chữ Tính. Với Tính ta phải dùng một động từ khác là thành. “Duy thiên hạ chí thành, vi năng tận kỳ tính: 唯 天 下 之 至 誠 爲 盡 其 性 ” (T.D. 22), chỉ có bậc chí thành mới hiện thực hết được cái Tính. Chữ Tận đây dịch là biết chưa đủ, phải có một động từ nào nói lên sự biết toàn vẹn đến nỗi Chủ tri và Thụ tri trở nên một. Chữ Tận “ 盡 “ giống như chữ suất trong câu “ suất tính chi vị Đạo: 率 性 之 爲 道 ”.

Muốn nhấn mạnh cái trình độ Trung đến cực điểm, để không còn chỗ nào so le trống hở, đến nỗi cả hai biến thành một đó, chúng ta nên viết hai chữ “ Trung Thành : 誠 “ bằng chữ hoa, để phân biệt với những chữ thành chữ trung khác. Các chữ đó dầu khi có đối tượng chân chính đi nữa cũng mới chỉ là “phó sản” của chữ Thành chữ Trung trên, bởi vì chính nó mới chỉ là sự trung tín với lời nói nọ, với việc làm kia, thành thực đối với Đạo này, người nọ tuy bấy nhiêu có thể là chân chính, nhưng đấy cũng mới là những đối tượng tư riêng, chỉ có giá trị khi hướng theo đối tượng của hai chữ Thành, Trung viết lớn, vì ở đây nó nhằm vào tính phổ biến, nên người đã “ Chí Thành: 至 誠 “ thì cũng trở nên một với phổ biến không còn bị lệ thuộc vào cái chi tư riêng nữa nhưng trở nên bao la man mác đến nỗi sách Trung Dung cực tả bằng câu “ Chí Thành như Thần :至 誠 如 神 “ (T.D. 22). Bậc Chí Thành thì giống như Thần nghĩa là mênh mông u áo có đấy mà cũng có đây: khắp hết y như Trời nên gọi là Thiên Đạo “Thành giả Thiên chi Đạo dã : 天 之 道 也 ” (T.D 20). Bậc Chí Thành là Thiên Đạo khác hẳn với những cái thành tư riêng đã nói trên vì ở đó chưa có sự hòa đồng. Giữa Đạo với Người thành còn một khoảng cách, chưa đạt độ Tận kỳ Tính; muốn nối lại phải thêm chữ Chi để chỉ thuộc về “ Thành chi giả, Nhơn chi Đạo : 誠 之 人 之 道 也 ” (T.D. 20), người đã có lòng thành (chưa hẳn là Thành) thì mới là Nhơn đạo. Chữ chi ở đây trỏ vào một cái thân ngoại vật “ hay nói theo danh từ triết Tây là đối tượng : objet, chỉ một vật gì đã vất ra đấy “jectum” ở đàng trước mặt ob (objet), nghĩa là giữa mình và vật có một quãng cách, sách Nho gọi đó là “ Khúc: , nghĩa là đã bị xa lìa cong vạy nên gạt xuống bậc nhì và dùng một động từ có tính cách rất “ hiện sinh : 現 生” là “Hữu : ” mà chỉ thị y như G.Marcel trong Être et Avoir (avoir là có cái gì còn Être là trở nên cái gì). Vì thế Avoir kém hẳn Être. Avoir est décrit comme déchéance de l’Être, comme une non coincidence avec l’Être. Tramf. 4, p.124), thì đây Trung Dung cũng cho Hữu vào bậc thứ nhì sau Thành “ kỳ thứ trí Khúc, Khúc năng Hữu Thành: 其 次 致 曲, 有 誠 ”, sau hạng Thành thì đến hạng Khúc, hạng Khúc có thể chiếm lấy (avoir) được Thành (T.D. 23). Chiếm lấy là tỏ ra mình chưa là (Être) cái ấy, mới phải tìm cho có. Học giả Couvreur đã dịch câu trên rất sát bằng tiếng La Tinh: quod non est rectum potest accipere integram bonitatem “une nature défectueuse peut devenir parfaite”. Câu tiếng Pháp không sát bằng câu La Tinh vì chữ accipere có nghĩa chiếp lấy, nên mạnh mẽ hơn chữ devenir, tuy vậy còn giữ đủ ý và cũng giúp cho ta hiểu câu “ tu Đạo chi vị Giáo: 道 爲 之 ” ở đầu chương. Tác giả sách Trung Dung lại quảng diễn thêm “tự Thành minh vị chi Tính. Tự minh thành vị chi giáo : 自 誠 明 爲 之 ,自 明 誠 爲 之 ” (T.D 21). Tự nhiên mà Thành thì gọi là Đạo, hợp với câu “ S22uất Tính chi vị Đạo: 率 性 之 爲 道 ”, nhưng lúc Tính đã bị che khuất đi phải soi sáng phải minh giải mới hiểu ra để mà thi Hành thì gọi là Giáo ( tự minh Thành vị chi Giáo), cùng nghĩa với câu “ tu Đạo chi vị Giáo” ở trên. Một ý mà nói nhiều kiểu giúp ta thưởng thức được làn tư tưởng tuy nhất quán nhưng rất phong phú và sâu thẳm, cả hai câu đều nói lên Thành giả: :Être, Thành chi giả: 誠 之 : Avoir. Avoir không bằng Être. Thành chi giả không bằng Thành giả. Vậy cần phải xóa bỏ chữ chi đi, dĩ nhiên không phải trong câu văn, nhưng trong bản thân của mình. Điều đó sẽ có nghĩa là phải xóa bỏ mọi quãng xen kẽ, nghĩa là tẩy trừ những cái tư riêng môi giới, những cái đó có rất nhiều, đội lốt muôn vàn tên nhưng quy ra hai mối là Tham dục hay Tư lợi Tư dục.

Cần phải bỏ những cái Tư đó mới tới chỗ Đồng nhiên của nhân loại, mới mong kiến Tính ( 見 性 ) và suất Tính ( 率 性 ). Chữ kiến Tính cũng là Suất Tính “ . “ Trong ống nhòm đổ tiếng Hư vô” (Nguyễn Công Trứ)

Chữ kiến Tính của nhà Phật, chữ Xuất Tính của nhà Nho. Tuy tên gọi có khác nhau, nhưng xét đến chỗ rốt ráo cùng cực (trong ống nhòm) tức là xem vào chỗ tập trung then chốt thì cũng cùng một tên đều phải đi qua một con đường Hư vô. Hư vô ở đây có nghĩa là làm cho mất đi, biến đi những cái gì tư riêng hạn hẹp. Phật sẽ đưa ra thuyết Thái hư với những phương châm diệt dục để diệt tận gốc rễ những tư dục làm cho hiện diện “Như Lai ” tinh ròng như chưa bị tì ố, đó là cái tính Bản nhiên linh diệu. Còn Khổng lăn lộn vào đời mà cũng hiện thực được bốn bước vô (IX. 4) “Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã”, nghĩa là cố trút những cái tư riêng có thể cản ngăn hay bẻ quặt sự Thành Trung của mình vào nẻo ngang trái, để đưa đi Trung Thành với những cái đâu đâu mà không phải Trung với Tâm và Thành với Đại Ngã tức là Tính. mà Tính ( )với Mệnh ( ) với Thần ( ) là một… tất cả đều trỏ vào một thực thể u thâm nhưng lại cực kỳ quang minh linh diệu và ở ngay trong thâm tâm của ta.Tất cả chương trình cùng mọi phương tiện học hỏi đều phải thiết tha nhằm vào việc làm sáng tỏa ra cái đức Minh đó. Đấy mới thật là cửa của Đạo học mà Kinh Dịch nói là: “ Thành Tính tồn tồn, Đạo nghĩa chi môn: 誠 性 存 存 道 義 之 門 “


M.- MẤY Ý NIỆM VỀ VĂN HOÁ ĐÔNG PHƯƠNG CẦN ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH

I.- Trình độ Văn hóa khác với bản chất Văn hóa

Nói đến duy trì những giá trị Truyền thống, phát huy Văn hóa Âu Châu… ta thường gặp thấy những mối e ngại ngấm ngầm, chẳng hạn Văn hóa Á Châu có tính cách tĩnh chỉ, thiếu Tiến bộ, nay khôi phục lại có khỏi làm ngăn trở việc Tiến gấp rút của nước nhà chăng ?.

Và dưới con mắt nhiều người, những ai đang cố gắng tài bồi cho nền Quốc học, chấn hưng Văn hóa Đông Phương, đã không gặp được sự nâng đỡ, lại thường bị coi là lạc hậu.

Đó là một tình trạng có hại cho tiền đồ Văn học, nhưng ít người nhận ra bởi những sự kiện lớn lao chua xót đập vào mắt, tức là tình trạng các Dân tộc Á Châu vì chậm tiến nên bị đè bẹp trước sức mạnh của các nước hùng cường Tây Phương.

Điều đó chỉ có ai loạn óc mới dám nghĩ đến chuyện chối cãi. Phương chi sách vở đều đồng thanh một giọng như vậy cả. Ông Tennyson viết “năm mươi năm của Âu Châu còn có giá trị hơn cả một chu kỳ của Cathays”. Mieux vaut cinquante ans d’Europe que tout un cycle de Cathay (thời Trung cổ người Tây Phương gọi nước Tàu là Cathay).
Những câu nói kiểu đó có một phần sự thật, nhưng quá đơn sơ, không đủ bao hàm một tình trạng phức tạp hơn nhiều.

Nietzsche có lần đã viết “không gì nói dối bằng sự thành công”.

Quả thật Văn minh cơ khí là một thành công cực kỳ vĩ đại, nhưng chính vì thế nó cũng đã là một lời nói dối khổng lồ, làm cho ta quên đi rất nhiều Chân lý; nó là một môn bài che đậy biết bao lời ngộ nhận mà không mấy học giả tránh khỏi khi phê phán về văn hóa Á Châu; nó khiến nhiều người sống yên hàn với một mớ ý niệm đã lỗi thời mà không nghĩ đến kiểm điểm lại, còn lên mặt ngạo đời.

Ở đây chúng tôi thử làm chuyện đó bằng đưa ra một số sự kiện ít được nhắc tới và vì thế loan tin trước là sẽ không đẹp đẽ cho lắm, chúng tôi thấy bất đắc dĩ phải làm thế để mong phần nào lập lại thế quân bình cho sự phê phán xưa nay thường oan uổng quá nhiều cho nền văn hóa Á Châu. (La pensée chinoise. Granet. tr 27 có nhắc tới sự bất công này. Nhiều tác giả cũng nói đến: Creel, Needham, Zenker, Forke…)

Sự oan uổng đó không cần minh oan chút nào nếu đấy chỉ là vấn đề thể diện.
Nhưng Nhân loại hiện đang trải qua cơn khủng hoảng Tinh thần, mà xem ra văn hóa Á Châu có thể giúp vào việc tìm ra ngõ thoát. Do đó sự lên tiếng trở nên cần thiết.
Lầm lẫn căn nguyên. Căn nguyên đầu tiên của sự bất công đó là tại người ta đã quy công cho văn hóa Âu Châu tất cả những sự hào nhoáng của giàu sang “Giàu có sinh Lễ nghĩa”, những Lễ Nghĩa đó người ta gán cho Văn hóa, nhưng thực ra chính Giàu sang tô điểm cho Văn hóa.

Điểm này ít được nhận ra bởi nó tinh vi; đàng khác vì Giàu sang và Văn hóa liên hệ nhau rất mật thiết, “chính Giàu sang làm nảy sinh Văn hóa”. Đó là luận án của giáo sư Clough đại học đường California nhan đề “Grandeur et décadence des civilisations”. Payot.

Điều nhận xét này giúp ta có một ý niệm đúng đắn về tính chất của mỗi nền Văn hóa, nên cần được lưu ý. Đây là một thí dụ rất thông thường:



Hai người Việt Nam một thuộc thượng lưu trí thức, một ở bậc nông thôn thất học. Ta thấy ngay một đàng lịch thiệp, ăn nói lý sự, khéo léo, cử chỉ có thể hào hoa phong nhã… một đàng quê kệch, nói năng vụng về thô thiển, cử chỉ co rúi rụt rè… Trong trường hợp này không phải nói ai cũng đồng ý, đó chỉ là chuyện khác Trình độ học thức gây ra do giàu nghèo, chứ không phải do tính chất Văn hóa, bởi cả hai người cùng ở trong một nền Văn hóa Việt Nam.

Câu chuyện đơn sơ là thế, nhưng nó sẽ hết đơn sơ khi người giàu kia là Tây còn người nghèo nọ là Đông. Lúc ấy sự phán đoán sẽ không chỉ còn là trình độ học thức mà nó sẽ lấn sang phạm vi tính chất Văn hóa Đông Tây không nhiều thì ít, nhất là phạm vi ảnh hưởng Giàu sang và Văn hóa rất mật thiết. “Miệng nhà sang có gang có thép: Tây giàu bộn nên miệng có cả vàng!” Vì giàu mà số người được học bên Âu Mỹ giàu gấp trăm lần bên ta, Văn hóa thêm biết bao cơ hội tiến bước.



Việt Nam năm nay (1960) được lối 12000 sinh viên tức trong số 1000 dân thì có 1 sinh viên. Đang khi năm 1948 bên Mỹ đã có 160 sinh viên (theo tài liệu Civilisation de 1960 của Fourastié).

Nay chắc còn đông hơn nữa. Nói số tròn: chênh lệch nhau từ 1 đến 200. Về phương diện khác cũng thế, chẳng hạn bên Mỹ có 1200 dàn nhạc đang khi bên ta 1 dàn cũng còn dở sống dở chết.

Sự khác biệt đó sẽ gây lầm tưởng về tính chất Văn hóa Đông Tây không sao kể xiết.

Một thí dụ: người ngoại quốc ở Sài Gòn thường phàn nàn không thể tìm được cái gì để tiêu khiển khả dĩ ứng đáp được trình độ của họ, đang khi đó ta có những bản nhạc sáng tác rất công phu vẫn nằm chình ình kia, không sao tìm ra được năm ba triệu để đưa ra trước công chúng. Nếu tìm ra được số tiền đó, những du khách đến Việt Nam lúc trở lui sẽ có thể mua thêm ít đĩa hát, để khi trở lại quê nhà thư thả bỏ ra nghe lại những nhạc điệu xa xôi, bấy giờ họ dễ dàng thưởng thức những nét nhạc tinh vi của Việt Nam. Các bộ môn khác cũng thế: quan niệm của họ về Văn hóa đối với nước ta sẽ khác hẳn với tâm trạng hiện nay qua những lời phàn nàn nhắc trên…



Cái khó bó cái Nhạc, nó bó Hội họa, nó bó Triết học, nó bó Văn nghệ…” và cái Nghèo không cho nảy nở biết bao mầm mống Nhân tài.

Với người ngoại quốc ta đành nuốt tủi không sao nói lên được, nhưng với người cùng hội cùng thuyền, cũng nên phân tích như thế, biết đâu lại không động tới những người có thể thành Mạnh Thường Quân… Dầu sao cũng là để khỏi thất vọng



Về tính chất Văn hóa của ta: tại Nghèo hơn là tại tính chất Văn hóa kém.
Nếu hỏi: không kém sao lại không tiến bộ để giàu sang được như người thì lỗi ấy tại Văn hóa chứ còn tại đâu?

Thưa rằng chưa hẳn như thế, cứ xem như nước Nhật cũng cùng ở trong một đại gia đình Văn hóa với Tàu và ta, vậy mà trong ba mươi năm đuổi kịp đà tiến bộ của các nước Âu Châu đi trước hơn một trăm năm. Vậy không phải do Văn hóa cho bằng do nhà cầm quyền không thức tỉnh kịp thời.



Một nền Văn hóa tốt đẹp đến đâu, nếu guồng máy Quốc gia bị giao phó vào tay một người vô Tài mà lại Độc tài, thì đủ làm hư cả Vận mệnh một nước một châu, đến khi thức tỉnh thì đã bị trói lại để làm đà tiến cho người.

Những cái đó ta gọi là sự may rủi của nước; nói theo kiểu xưa là số mệnh. Chế độ nào cũng có thể xảy ra, Tây cũng như Đông; việc nước Văn minh hơn bị thua nước kém Văn hóa là chuyện xảy ra thường xuyên trong lịch sử.

Mông Cổ không văn minh thắng Tàu, Roma ít văn minh thắng Hy Lạp là Tổ văn minh… và nếu xem cổ sử thì hầu như đó là một luật: Sumérie bị Babylon, Babylon bị Assyrie, Assyrie bị Crète, Crète bị Hy Lạp. Nước thắng là man rợ dùng võ lực. Đến khi nước đó trở nên Văn minh lại bị đợt man rợ sau… cứ thể để Văn minh thêm sinh khí tiến dần. Cho nên ta thua Tây cũng là chuyện không có gì lạ lắm (Civ. III. 329) (1)

(1) Viết tắt, chỉ bộ Histoire de la Civilisation của Will Durant và được ghi rõ số La Mã theo thứ tự bản dịch nhà Payot.



Còn chuyện đói khổ, thì đó là cái nạn chung cho loài người, may ra rồi đây nhờ khoa học sẽ thanh toán nổi chăng; chí như trở về trước thì chẳng nền Văn minh nào thoát cả.

Đây hãy nói riêng về Âu Châu mà ta thấy phong phú dư dật như nay, trước kia cũng đói khổ như các nơi: giữa khoảng 970 đến 1100 có 60 trận đói đã sát hại người bên Pháp… Không một người nông dân nào bên Anh có thể quên được những trận đói trong các năm 1086 và 1125. Giám mục thành Trèves thế kỷ 12 lấy làm kinh hoàng trước cảnh tưởng nông thôn là đói giết ngựa để ăn thịt (Civ. IX. 272). Ông Fourastié cho biết Âu Châu cũng mới thoát nạn đói từ thế kỷ 19. Tác giả kể chuyện những người trong họ ông hằng ngày đi làm ngoài đồng bao giờ cũng chỉ được một lạng rưỡi bánh khô và một củ hành luộc. Chính bố ông là người đầu tiên trong họ được ăn no ngoài những ngày cưới xin đình đám. Tác giả tính đổ đồng thì mức sống năm 1900-1931 cao hơn 10 lần mức sống những năm 1800-1831. (Civilisation de 1960 de Fourastié p.12).

Về cách ăn thì thường ăn bốc ( ? ) , cứ hai người ăn cùng một đĩa, uống cùng một ly. Đồ ăn chưa có cách ướp lạnh nên thường có hơi, do đó người ta ưa dùng đồ gia vị để át mùi. (Civ. XII tr.356).

Đã nghèo đó thì khó thoát được nạn bẩn thỉu. Chỗ ở người nông nô thời trung cổ thật là hôi hám và chật chội; nhà thường bằng tranh có một gian, họa lắm mới được hai gian, đồ ăn thức đựng làm bếp để cả trong nhà; dưới đất có một cái ổ bằng lông với rơm rạ, tất cả nhà nằm chung lộn trong đó, kể cả khách… (Civ. XII tr.270).

Bên Pháp và Anh người ta ngủ trần truồng trong mọi giai cấp” (Civ. XII p.339). Những đêm đông giá lạnh người ta thường đem các giống vật (bò ngựa) vào nhà để thêm hơi ấm (id tr.274), gần nhà là một đống phân, tất cả vật cũng như người trong trại đều đóng góp vào đó. (Civ. XI tr.271). Bẩn đến nỗi có nhiều câu chuyện kể rằng quỷ Satan phải đuổi người nông nô ra khỏi hỏa ngục, bởi chính quỷ cũng không chịu thấu mùi (Civ. XII tr.276).

Trong thế kỷ 14 ở Paris, người ta thường đổ bình đêm tuột xuống phố qua cửa sổ, chỉ báo hiệu bằng một câu vắn “ý tứ nước” (gare! L’eau). Nhà cầu là một món xa xỉ. Người ta thường tự tiện ngay ra ở sân trên chân thang hay ngoài ban công, ở điện Louvre cũng thế. Sau trận dịch tễ năm 1531 có chỉ thị buộc mỗi nhà ở Paris phải có nhà cầu nhưng chỉ thị cũng không được áp dụng luôn.

Bởi túng ăn và bẩn thỉu là duyên cớ cho những trận dịch tả nhiều hơn mọi kỳ trong lịch sử”. Dịch vàng xảy ra năm 550 và 664 giết hại đến 2/3 dân số Islande. Bên Anh cũng bị những trận như vậy ở thế kỷ 6, 7. Pháp Đức bị dịch đốt ruột gọi là mal des ardents những năm 994, 1043, 1130. Còn nhiều bệnh khác như bệnh tóc (plica polimica) người ta hay quy căn cho đủ thứ, nhưng hầu chắc là tại dân ở chen chúc trong những thành tường xây bít kín, điều kiện vệ sinh sạch sẽ hết sức thậm tệ (lamentable), số trẻ con chết không có thống kê nhưng chắc phải đến 50% (Civ. XII tr.549).

Xem như thế không nên quá nặng lời trách các Tiên hiền của ta là không lo cho dân no đủ. Nếu so sánh kỹ ra thấy tiên hiền Đông Phương còn thực tế gấp mấy lần các Triết gia Hy Lạp chẳng hạn.

Ngay từ bài cảo luận đầu tiên về Triết học Đông Phương, tức thiên Hồng Phạm trong kinh Thư đã lộ rõ dấu lo lắng đến vấn đề Dân sinh.

Trong 8 điểm nhà cầm quyền phải chú trọng thì “nhất viết thực (ăn) nhị viết hóa (Couvreur dịch là les commodités de la vie)… bát viết sư (quân dịch, để cuối cùng). Mối lo âu này sẽ thấy xuất hiện nơi Khổng Tử “Thứ, Phú, Giáo” phú đi trước giáo và cách rành rẽ nơi Mạnh Tử… Nhưng lúc ấy mức tiến hóa nhân loại chưa đi tới giai đoạn khoa học kỹ thuật, nên loài người chưa đủ sức chống nạn đói. Tôi nói tiên hiền thực tế hơn triết gia Hy Lạp, vì bên đó có chế độ Nô lệ nên coi khinh miệt việc chân tay. Ngoài khoa hình học thành công, còn thì toàn làTtriết học kiểu văn nghệ bên ngoài đời sống. Mãi tới thời Archimède mới khám phá chút ít, nhưng cũng là học suy lý. Máy trục và bắn đá ông làm ra, nhưng không có ghi lại, ông cũng như tất cả trí thức thời đó vẫn coi việc tìm lợi ích thiết thực và cơ khí là đê tiện bẩn thỉu (ignoble et sordide). (Civ. VI p.229)
Căn cứ thứ ba người ta cho rằng chỉ Âu Châu mới có khoa học,còn các nền vănhóa khác không có

Nếu có một vài sáng chế thì cũng chỉ là thường nghiệm (empirique) chứ không có khoa học như văn hóa Âu Châu. Câu nói này rất dễ được chấp nhận. Khoa học hiện có đó rồi, nó là sự nghiệp vĩ đại của Châu Âu, nên sự giải nghĩa có sai thù để tăng cường uy tín và vinh hiển cho Âu Châu, thì ai cũng vui lòng chấp nhận, khỏi cần tranh luận. Có nhiều hoạt động khác hứng thú ơn ích hơn là việc cãi cọ nhỏ nhen nọ. Nhưng ta không thể chấp nhận thái độ nhường nhịn và tặng khen một khi giải nghĩa đó “phong thánh” luôn cho những yếu tố tai hại của văn hóa Tây Âu như cổ động đa dục, tuyên dương óc độc chiếm, khuyến khích buông lung… bởi chính đó là những nguyên nhân gây nên cuộc khủng hoảng ngày nay. Vì thế mà chúng tôi thấy cần đặt lại vấn đề và không ngần ngại phản đối những tư tưởng gia mà chúng tôi ưa chuộng về phương diện khác. Chẳng hạn triết gia Jaspers trong quyển Sens et l’Origine de l’histoire (tr 82) có đưa ra 9 lý do để phóng đoán tại sao khoa học lại phát triển bên Âu, đại để như sau:

1) Vị trí địa dư tạo nhiều sự tiếp xúc giữa các văn hóa khác nhau.

2) Tự do chính trị

3) Lý trí vô biên

4) Ý thức về tự do nội khởi.

5) Người Âu lấy thế giới khách quan làm dữ kiện đầu tiên.

6) Nhưng không dồn quan niệm về vũ trụ vào một công thức có tính cách giáo điều cứng nhắc (!)

7) Óc độc hữu, nhân đó có sự căng thẳng.

8) Luôn luôn đi tới cùng cực, đi tới mẹo trừ.

9) Bởi vậy có những nhân vật độc đáo. Và họ không thể muốn con người toàn diện.
Trong 9 lý do trên chỉ có lý 1 và 3 là có thể chấp nhận phần nào; lý 2, 4 sai thực tế phiền tạp… ngoại giả là không chắc mà còn có thể gây hại như: lấy một sự bất lực (đi tới con người toàn diện) để như khuyến khích những sự đi quá trớn. Tất cả những điều này tôi nêu lên mà không quảng diễn ở đây vì dài quá sẽ làm nơi khác (xem Nhân Bản). Chúng tôi chỉ ghi nhận một điều là ở dưới trang 96, tác giả có viết “vào quãng năm 700 nếu một du khách từ hành tinh khác đáp xuống trái đất thì có lẽ họ sẽ cho Tràng An- kinh đô Tàu lúc đó- là trung tâm tinh thần của thế giới chúng ta, Constantinople là sự sống sót của một dĩ vãng đáng để ý; còn phần bắc Âu Châu là miền mường rợ. Quãng năm 1400 đời sống cả ba nơi Âu Châu, Ấn Độ, Trung Hoa tới mức độ như nhau. Nhưng sự đóng góp của thế kỷ 15, tức việc khám phá ra thế giới mà Âu Châu sắp in con dấu của nó lên trên, đặt ra… một sự cắt đứt (rupture). Sự tuyệt giao, sự cắt đứt này là một câu đố mới. Vì cho tới đó đã không có sự tiến triển rõ rệt và đều đặn… Và cho tới thế kỷ 19 thì xảy đến sự cắt đứt hẳn với dĩ vãng thuộc lịch sử và một tương lai hãy còn chưa thể thấu suốt được. Một lần nữa ta lại hỏi yếu tố không thể gọi tên ra đó là gì? (trg 97).

Nói không thể gọi tên, vì thật là phiền tạp và bí nhiệm nên những sự thử gọi tên chỉ là đoản phóng hết sức đạc chừng. Bí nhiệm vì có những điều khó biết tại sao khoa học được phát sinh bên Cận Đông (Hy Lạp chỉ tiếp tục một đoạn thường lệ) và được Cận Đông dẫn tới chỗ nảy nở lại bị Mông Cổ đến tàn phá. Tại sao Âu Châu tự nhiên lại thoát ách Mông Cổ (tự nhiên vì Âu Châu không có làm gì và khó có thể chống đối nổi Mông Cổ). Những câu đó khó lòng ai giải đáp, nên ta cho là khuyết nghi, hoặc thuộc Thiên mệnh. Và như vậy bao sự giải nghĩa chỉ nên coi là những ý kiến bấp bênh còn đang đi tìm một lời đáp, chưa nên coi là sự thật. Thực ra nếu khoa học đã phát nguyên bên Ấn Độ hay nhất là bên Ả Rập thì sự giảng nghĩa nguyên do còn có lý gấp ba lần là ít. Đây là những lý do:


1.- Yếu tố khoa học của Hy Lạp được vun tưới và nảy nở bên Ả Rập hơn bên Âu Châu.

2.- Những phát minh nhiều nơi được tiếp nhận trước hơn, thí dụ hệ thống toán số của Ấn Độ, phép in, giấy, thuốc súng, kim chỉ nam của Tàu.
3.- Và nhất là bầu khí tự do phóng khoáng hơn bên Âu Châu nhiều lắm. Cho nên vào những thế kỷ VII- XII, văn minh Ả Rập đã tiến xa hơn Âu Châu rất nhiều và chính nhờ những dịp tiếp xúc trong các lần thập giá binh hay dịp khác mà Âu Châu du nhập được của Ả Rập nhiều kỹ thuật chẳng hạn khoa thiên văn (Civ. XII, 589), phép tinh luyện kính “Venise”, phép làm kính để thấy vật xa coi gần và cả kính đeo (ông Will Durant nói có lẽ nguồn gốc do người Tàu “ai tai”, Civ. XII. 539), nghề làm kim khí, máy kéo nước chạy bằng gió (Civ. X. 418), các thứ đồ ăn, đồ uống, thuốc, khí giới, quan niệm mỹ thuật, kỹ thuật, buôn bán, phương pháp vượt bể và nhiều khi cả danh từ một trật như orange, sucre, sirop, élixir, azur, bazar, tarif, douane, magasin, barque, câbe, algèbre, zéro, chiffre, alambic, zénith, almanach… người ta tính ra lối 1000 chữ do tiếng Ả Rập và hơn 100 sách Ả Rập dịch ra La Tinh (Civ. X. 434). Các thứ vải: gấm, lụa và luôn cả nghề nuôi tằm kỹ nghệ lọc đường, phép lát đá đường do vua Fréderic II thâu nhập. (Civ. XII. 55). Các nhà khoa học Musulman hầu hết lúc đó đã nhận ra là trái đất có hình tròn. Ngay năm 1081 Sandi đã làm bầu trái đất bằng đồng và những công trình nghiên cứu của Ishak-al Bitruyi đã mở đường cho Copernic (Civ. X 419) sau này… Cho nên nếu Musulman không bị tàn sát và phá huỷ đến tận nền móng về văn hóa, kinh tế, nhân sự, thì rất có thể khoa học đã xuất hiện trên mặt đất trước ít thế kỷ bên đất Á-Phi.

Nhưng trời hình như có ý dành danh dự này cho một giống ngừơi mới xuất hiện sau bên Âu Châu. Con đường thiên mệnh trong việc chạy đuốc văn minh coi như được quy định rõ rệt. Mông Cổ đã tàn sát Musulman một cách ghê sợ: thành Mery bị tiêu diệt với 1.300.000 dân. Thành Ravy với 3.000 chùa (mosquée) bị bình địa. Bagdad với những thư viện mênh mông và bao kho tàng tích luỹ cũng tiêu sách với 800.000 dân. Không khi nào thấy trong lịch sử một nền văn minh bị tàn sát tận gốc như vậy. Cầu cống đê điều bị phá vỡ hoặc đúc lại… Chính vì đó chứ không phải tại khí hậu thay đổi đã cướp mất quyền chỉ huy thế giới của Tây Á từ 5 thế kỷ (700-1200) mà từng trăm thành rực rỡ của những xứ Perse, Syrie, Mésopotamie, Caucase, Tranxosiame bị đẩy vào thảm trạng đói khổ cùng cực và ứ đọng trong thời mới (Civ X. 433). Cũng may đuốc khoa học đã kịp trao sang Âu Châu và sống hoi hóp trong ba bốn thế kỷ cho đến thời Phục Hưng. Trong khi chờ đợi “suốt qua thời Trung Cổ bên Âu Châu khoa học và triết học được triển khai trong bầu không khí thần thoại, truyền thuyết, phép lạ, điềm báo, ma quỷ, sự lạ, pháp môn, chiêm tinh, bói toán, đồng cốt (Civ XII. 524).

Và không phải mỗi phát minh được đón nhận dễ dàng tức khắc. Chẳng hạn hệ thống số Arabe… rất nhiều người công nhận là “phương pháp thần diệu của 9 con số Ấn Độ” (Méthode merveilleuse des neuf chiffres Indiens) thế mà năm 1929 người ta còn vận động để có luật cấm dùng, mãi tới thế kỷ 16 mới thay hẳn được số Roma (Civ XII. 532). Khi mấy thương thuyền bắt đầu dùng kim chỉ nam bị nhiều người nghi ngờ là họ làm phù phép, và không thiếu người từ chối bước chân lên những tàu bắt đầu trang bị bằng Kim chỉ Nam… (Civ XII. 540)

Còn biết bao nhiêu thành kiến làm cho bầu không khí bên Âu Châu khó thở; mãi cho tới đầu thế kỷ này mà Einstein còn phải phàn nàn: “ phân tán một Nguyên tử còn dễ hơn phân tán một Thành kiến” thì đủ biết tại sao khoa học Hy Lạp bị nằm chết khô bên Âu…

4.- Căn nguyên thứ bốn



Người ta quên đi hay không biết rằng việc phát minh khoa học là một sự kiện hết sức mới và đầy những chuyện bất ngờ… Việc tìm thì kể là khởi lên từ thế kỷ 16, 17; nhưng tìm kiếm một cách thật có phương pháp thì cũng mới từ ít chục năm nay. Người ta thường lấy niên hiệu xuất bản sách “Bàn về những sự chuyển vận của các thiên thể” của Copernic tức là 1643 làm ngưỡng cửa cho thời mới. Lấy Newton (1642-1727) làm mốc giới thời đại khoa học và Einstein là mốc những bước tiến vượt bực, tức là chung quanh hoàn cầu đại chiến thứ nhất. Bởi từ quãng đầu thế kỷ này mới có những sự tìm tòi thật khoa học còn trước kia hầu hết vẫn là mò mẫm kiểu rút kinh nghiệm (empirique); xem như một việc phát minh điện lực, linh hồn cho mọi cơ khí, thì đủ rõ. Mãi cho đến năm 1870 hầu hết người ta còn cho việc tìm tòi điện chỉ là trò chơi trong phòng thí nghiệm (amusette de laboratoire) chưa ai tin được điện sẽ có được những công hiệu vĩ đại như nay. Sự tình cờ sơ xuất đã là dịp cho nhiều khám phá quan trọng. Nhiều người còn nhớ con ếch của ông Galvani rung chân khi vô tình ông chạm vào ban công sau một ngày mệt mỏi thí nghiệm vô ích. Từ trường được khám phá do cái kim bỏ văng vãi trên bàn thí nghiệm của ông Oertedt. Sức chuyển động máy sinh điện được ông Fontaine nhận thấy do một cử chỉ lầm lẫn của người thợ. Tác giả phải nói (felix culpa: heureuse faute p.92) ông Edison là người phát minh ra bóng điện năm 1897 và bao nhiêu phát minh khác, một phát minh lớn nhất tới nay, lại là một người bán báo, vốn liếng tri thức chỉ là một kỳ tam cá nguyệt ở trường và hai năm trong phòng thí nghiệm cá nhân “đặt dưới hầm rượu của gia đình”.

Máy phát điện, một bước tiến rất quan trọng, được phát minh do ông Gramme một bác thợ lăng nhăng “bricoleur ou ouvrier en escalier” (Pierre Dexaux, Histoire de l’électricité, trg 65,74 và 92). Bởi vậy ông J.Folliet không ngần ngại hạ chữ tình cờ mà xảy ra hiện tượng cơ khí làm xáo trộn hết mọi cơ cấu văn minh.

Tính chất bất ngờ này ít được chú trọng đến, nhưng thực sự thì trước đây hai ba trăm năm không ai ngờ là khoa học sẽ làm đảo lộn bộ mặt trái đất như nay. Nếu quả thật có ngờ và văn minh Tây Phương luôn luôn tiến thì tại sao văn hóa Hy Lạp, La Mã, Âu Châu đã xuất hiện trên 20 thế kỷ mà tình trạng Âu Châu đâu vẫn nằm đó và cho đến thời Phục Hưng Tàu vẫn trội hơn Âu Châu cả về đàng kỹ thuật. Điểm này được các học giả như Zenker, Needham… đều công nhận (xem La pensée Chinoise, Granet, p.584). Sự tiến triển của Âu Châu còn rất mới mẻ, đầu thế kỷ này người Pháp dưới tỉnh còn rủ nhau lên Paris coi xe không ngựa kéo, không người đun cũng chạy đuợc. Năm 1896 toàn Mỹ quốc mới có 4 cái xe hơi. Đầu năm 1908 ông Ford mới cho ra xe kiểu T. Vậy là trước thế kỷ 17 Âu Á cũng tĩnh chỉ như nhau, và nay khác nhau thì không phải Đông Tây cho bằng nói mới cũ. Tân thời đối với trung cổ. Còn trước đó Á Âu như nhau. Keyserling viết “giữa thời cổ Hy Lạp và những thời rực rỡ của văn hóa Á Châu, giữa nước Pháp thế kỷ 16 và nước Tàu thời Tống thí dụ, xét về dữ kiện thời sự thì chỉ có một sự khác biệt về hiện tượng chứ không về bản chất (une différence de phénomène et non pas d’essence) tức không phải bản chất văn hóa Âu Tây luôn luôn tiến bộ, còn bản chất Á Châu là ù lì. Cả bên Âu nữa, lý tưởng tĩnh chỉ đã thống trị mãi cho tới thời mới kể cả Hy Lạp cổ đại cũng như trong Ý Đại Lợi thời Phục Hưng, vì trong những xứ này, đời sống có náo động tới đâu đi nữa, bao giờ cũng hướng theo những giá trị mà thời gian không thay đổi gì hết. Ngày nay khi chúng ta, người Âu Châu thời mới, xem Á Châu như bản tính đối chọi nhau, thật ra không phải Đông khác biệt Tây cho bằng thời mới khác với thời trung cổ và thời cổ đại… Nói khác đi, chúng ta đối chọi lý tưởng của hoàn bị với lý tưởng tiến bộ” (xưa tìm hoàn bị nay cần tiến bộ) (Journal tr.317).

Trong quyển Science and Civilisation, ông Needham có viết: “Bất kỳ ai nếu chịu đọc tới hết quyển sách này, chắc sẽ bị sửng sốt trước số kỹ thuật rất nhiều và khác nhau mà Âu Châu mượn của Tàu, song thường họ không biết đến nơi phát nguyên trong 14 thế kỷ đầu”. Ông Francis Bacon (1626) có viết: “Rất nên quan sát về sức mạnh và năng lực cùng những hậu quả của các điều phát minh. Rõ rệt nhất không đâu bằng ba món đồ mà tiền nhân ta chưa biết đến, và cũng mới xuất hiện, tuy nguồn gốc nó vẫn còn ẩn khuất nhưng rất hiển hiện, đó là máy In, thuốc Súng, và kim chỉ Nam. Bởi vì ba phát minh đó đã biến đổi cả mặt đất và tình trạng sự thể trên khắp trái đất: cái thứ nhất trong Văn chương, cái thứ hai trong Binh pháp, cái thứ ba trong nghề Hàng hải. Những phát minh đó đã kéo theo vô số sự thay đổi đến nỗi không một Đế quốc nào, hay một Tôn giáo nào, một Ngôi sao nào đã gây được một ảnh hưởng và quyền năng lớn hơn vào trong nhân sự.” (t I, tr 19)

II.- Không phải thời nào Âu Châu cũng dẫn đầu về Văn hóa.

Ông Dampier có viết: “Chính trong những thời kỳ đen tối nhất bên Âu Châu, sự học hỏi của các miền Á Châu lại bắt đầu tiến triển rực rỡ và lan tràn sang Ả Rập. Môn phái của xứ sở Perse và Ả Rập ban đầu đã dựa trên các bản dịch sách Hy Lạp, nhưng về sau họ đã thêm vào nhiều đóng góp đặc sắc trong khoa học tự nhiên.” Thời ấy những sách hình học của Euclide, thiên văn của Ptolémée cũng được dịch sang Ả Rập. (Histoire de la Science p.85)

Triết gia nổi tiếng người Hồi giáo là Avicenne (980-1037) kiêm y sĩ có viết quyển Canon tức bản tóm tắt y khoa là một trong những công trình văn hóa Ả Rập, sau này trở nên sách chuyên khoa về y học trong các đại học Âu Châu, mãi tới năm 1650 cũng còn dùng trong các trường Louvain và Montpellier. Thời ấy tiếng Ả Rập đã được công nhận là ngôn ngữ cổ điển về khoa học và hễ cái gì viết bằng tiếng Ả Rập cũng có uy tín như lúc người ta dành cho tiếng Hy Lạp. (Dampier tr.112. Histoire de la Science. Payot).

Cao đẳng Âu Châu thời đó chia làm hai khóa: Tam và Tứ. Khóa Tam sơ đẳng gồm có ba môn học là Ngữ luật, khoa Lợi khẩu (rhétorique) và Danh lý (dialectique) tức là đề tài chuyên về danh từ và cú pháp. Khoa Tứ cao hơn gồm có: Nhạc, Toán, Hình học, Thiên văn, tức bốn khoa mà người ta tin là chuyên chủ về sự vật. Nhạc gồm lý thuyết bàn huyền niệm về các số, Hình học chỉ là một chuỗi những câu của Euclide không có chứng minh, còn Toán và thiên văn được trọng dụng bởi là phương thế quy định ngày lễ Phục sinh. Tất cả bấy nhiêu khoa được coi là chuẩn bị sinh viên đi lên thần học. Sự phân phối chương trình như trên được duy trì suốt thời Trung cổ. (Dampier tr.116).

Những giống dân nói tiếng Ả Rập và những người Do Thái cư trú bên đó thời ấy mới chú trọng thực sự tới khoa học và chính nhờ sự tiếp xúc với các miền Hồi giáo mà Âu Châu Trung cổ mới bỏ được những tập quán tư tưởng cũ để đi dần sang lối suy luận lý trí. (tr. 121, Dampier)
Xem chương trình học vấn của Âu Châu Trung cổ ta thấy liền đâu có tiến luôn luôn, đâu có khoa học cơ khí, chẳng qua ăn tự lại của Hy Lạp một phần mà chẳng biết tài bồi thêm. Về phần đóng góp của Hy Lạp không chối là quan trọng nhưng đâu có phải duy nhất như người ta thường viết. Người ta đã quên hay không biết đến phần đóng góp quan trọng của Ả Rập, Toán học của Ấn, Thiên văn của Babylon. Hy Lạp thành công duy có ở Hình học. Và chính nhờ sự tiếp xúc với các dân khác Hy Lạp mới tiến trong khoa học, sự kiện này xuất hiện bên Alexandrie (Egypte) vào lúc mãn chầu thời oanh liệt tức thế kỷ thứ 3 lúc văn học nghệ thuật Hy Lạp đang xuống dốc. Bởi không nhận định điều đó nên trước đây người ta không giải nghĩa được hiện tượng ngoại lệ trên (tức là tại sao khoa học không tiến trong hoàng kim thời đại của Hy Lạp. Civ.VI, 231).

Bởi chưa biết đến những đóng góp của các nền Văn minh khác, như nay mấy sử gia lớn đã bắt đầu tìm ra, nên người ta quá tâng bốc Hy Lạp lên, nhưng xét kỹ lại thấy việc đóng góp của Hy Lạp cũng là thường lệ. Trong quyển Technique, ông Ellul đã chứng minh Hy Lạp đóng góp được có một cái đinh ốc. Ông còn nói tại sao có Khoa học là vấn đề mầu nhiệm. (tr.41) Y học của Hypocrate còn kém hơn khi tiếp nhận của Egypte. Thiên văn bị cấm. Hội họa chưa sâu sắc bằng tranh Tàu, Tượng chưa chín chắn bằng tượng của Egypte. Toán học chưa biết đến đại số…

Cả về đàng văn minh tế nhị như phép cai trị cũng còn thua Perse. Xem một việc Alexandre đại đế bị chinh phục là một sự trả thù của Đông Phương. Aristote dạy ông rằng ngoại bang là rợ mọi, nay ông nhận thấy người Perse tế nhị hơn người Hy Lạp, nên ông đổi thái độ: nhận lối cai trị cư xử như Perse trước sự thất vọng của các người tuỳ tòng. Nhưng sau, cả những người trí thức cũng chịu ảnh hưởng Perse, đến cả triết học sau này cũng bị Đông Phương chinh phục. Triết Stoicien là một bằng chứng, và tất cả sẽ đầu hàng các tôn giáo Đông Phương. (xem Civ. VI tr. 117 và161).

Về phía nước Tàu giáo sư Creel đại học đường Chicago có viết như sau:


Nhiều người biết ít về nước Tàu và cả những người biết nhiều cũng thường có khuynh hướng tin rằng nước Tàu bất di bất dịch, không có tiến bộ chút nào từ đời nhà Hán. Đó là một cảm tưởng hoàn toàn không đúng, nhưng lại rất phổ biến thông vì hai lý do. Trước hết vào thời kỳ từ thế kỷ VI trước Tây lịch đến thế kỷ II sau Tây lịch được người ngoại quốc khảo cứu hơn tất cả lịch sử nước Tàu. Thật ra đó là một thời đại quan trọng được chứng kiến nền văn hóa Trung Quốc thành hình, nên chính người Tàu cũng khảo cứu và hiện còn đương khảo cứu tường tận, điều đó giúp người ta dễ hiểu thời ấy hơn.

Lý do thứ hai khiến người ngoại quốc chối sự tiến bộ của Trung Hoa trong hai ngàn năm nay là tại họ đã lãng bỏ một ít nhân tố không làm vinh dự mấy cho người Âu. Thí dụ họ thích quên đi rằng nước Tàu đã trở nên trưởng thành vào quãng thế kỷ thứ II trước Tây lịch và không bao giờ trở lại thời ấu trĩ nữa (chính ông Creel gạch dưới). Nó đã không bao giờ phải trùng tu lại văn hóa tự nền móng như Âu Châu đã phải làm. Cơ sở chính trị và văn hóa của nó đã hiến cho nó khả năng đồng hóa được các dân man ri tràn vào Trung Quốc, và vẫn giữ được bản sắc như trước. Nó đã không bị những đảo lộn và sự man rợ của một thời Mérovée như Âu Châu chẳng hạn.

Người ta có thể nói nước Tàu cũng có thời rợ mọi của nó ở đầu nhà Chu và có thời phong kiến vào quãng trung Chu hơn một ngàn năm trước khi những hiện tượng này xuất hiện bên Âu. Lại còn trình độ văn hóa và trình độ các Nhà nho trong giới thượng lưu cao hơn rất nhiều sánh với trình độ của phái quý tộc Âu Châu Trung cổ và cả lâu sau. Và khi nước Tàu đã trải qua những giai đoạn này thì không trở lại bao giờ nữa. Tuy nó có biết những thời loạn lạc phân tranh, nhưng nếu người ta nhớ lại rằng nước Tàu cũng lớn rộng bằng Châu Âu thì phải công nhận là nó được bình an và thống nhất hơn nhiều.” (Naissance de la Chine 354).

Tác giả đã quả quyết thế vì đời Trung cổ Âu Châu không thiếu loạn lạc. Người ta tính ra bên Nga từ năm 1054 đến năm 1224 nghĩa là chưa đầy hai thế kỷ có tất cả 83 trận nội chiến, 46 lần bị ngoại xâm, 16 lần nước Nga đi đánh các nước lân cận, 293 ông hoàng tranh ngôi trong 64 tiểu bang. (Will Durant, Histoire de la Civ. L’âge de la Foi, t.III p.100) “Vua chúa lúc nào cũng có quyền xông vào đất lân cận để ăn hàng…” Trong thế kỷ 12 hầu như chẳng sáng nào lại không có đánh nhau trong cái miền là nước Pháp ngày nay, Berthold de Ratisbonne phàn nàn vì “rất ít vua chúa sống hết tuổi trời, hay được chết cái chết tự nhiên”.

“Sau một trận trong các trận giặc ấy, nhiều nông gia phải kéo cày lấy, nhiều người hết lúa gạo, chết đói… Giáo hội đã hết sức can thiệp để giảm ngày đánh nhau bằng thể chế thần hưu (treuga Dei: trêve-dieu…). Người ta hay đánh nhau đến nỗi sau đặt ra lệ bắt tay khi gặp nhau để tỏ lòng yêu hòa bình, và để chứng rằng họ không có chuẩn bị rút gươmg ra đấu.” (W. Durant, L’âge de la Foi, t.II, p.200).


tải về 4.43 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương