VấN ĐỀ giáo dục chúng tôi viết Bài này để Kính nhớ ngày Giổ thứ 1



tải về 6.6 Mb.
trang5/29
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích6.6 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29
Mẹ Tròn con Vuông hoà hợp
Hoặc là ( H. 1), tức là Chuyên môn choán gần hết chỗ của tinh thần, thì đồng tiền của Việt Nam mai ngày sẽ phải là ( H. 2 ) ?

Như vậy là đúng câu: “ Tiên lập hồ kỳ Đại giả, kỳ Tiểu giả bất năng đoạt giả” (Mạnh V. b.15). Trước hết thiết lập cái bản cốt, cái Tâm đạo cho cái Tiểu khỏi lấn át cái Đại, nghĩa là đừng bao giờ để cho Chuyên khoa trùm lên Đạo người.


Đạo Người thuộc thành Nhân, Chuyên khoa thuộc thành Công.
Thành Nhân chỉ có một và cần cho hết Mọi người, xét cả về mặt là Người tư nhân.

Thành công có nhiều ngành và chỉ cần chung cho Xã hội, mà không cần hết thảy cho tư Nhân. Là tư Nhân chỉ cần học một nghề đã đủ, đã chọn nghề này thì thôi nghề kia, nhưng Đạo làm người ai ai cũng phải biết phải Học, Đạo ấy không còn riêng của phân khoa nào cả.
Các phân khoa sẽ nhận thêm rất nhiều sinh viên, số người học Văn khoa sẽ rút xuống từ năm ngàn còn một hai để gia tăng số Chuyên viên. Nhưng về mặt Chuyên viên thì chỉ nên học một ngành. Nên nhờ khoa hướng nghiệp chọn cho khá hợp khuynh hướng rồi hãy đẩy đến cùng cực, để có thể khám phá thêm, hầu đóng góp vào đà tiến triển của khoa học. Muốn như thế không thể theo nhiều ngành một trật: đào hai giếng sâu 5 thước, nước đã ít lại đục, nên đào một giếng 10 thước, nước vừa nhiều vừa trong. Cái Tài con người ta thành ở Chuyên hỏng ở Tạp.

Vậy hãy dồn hết năng lực vào một khoa mới mong đạt độ tinh thông.

Đạt tới cái thú vui khám phá và đóng góp mà cái học lưng chừng không sao không sao có được. Thành công đã nắm vững, mưu sinh bảo đảm, riêng về phía xây đắp quê xứ số chuyên viên tăng lên mau lẹ sẽ kịp cung cấp cho một cuộc kỹ nghệ hóa gấp rút. Thế là ta nắm được cái lợi của giải pháp Chuyên môn.



Mặt khác chúng ta cố tránh ác quả của giải pháp đó bằng học thêm Đạo làm Người. Ta có thể theo lời khuyến cáo của Liên Hiệp Quốc dành ra mỗi tuần ít giờ (từ 10 đến 20%) để học Đạo Người, mà vẫn không thiệt đến Chuyên khoa. Trái lại là khác vì Đạo làm Người nếu được học cách đích đáng, sẽ làm gia tăng nghị lực Tinh thần đến độ phi thường, như trường hợp Oppeinheimer nếu không tìm ra Đạo học thì đã bỏ dở cuộc nghiên cứu nguyên tử năng. Đàng khác nếu sửa đổi theo đó thì chương trình sẽ nhẹ xuống ít gì một phần ba so với hiện đại, hơn thế nữa chuyên môn sẽ khởi đầu cách nghiêm nghị ngay từ đệ Ngũ hoặc đệ Tứ thì dành ra ít giờ đặng học Đạo sống thật không ngãng trở sự theo đuổi việc học Chuyên khoa mà còn đưa lại cho đời sinh viên một ý nghĩa sâu xa hướng theo Lý tưởng cao trọng của Nhân sinh.
Anh muốn học Luật? Được lắm nhưng thiếu Đạo làm Người thì thay vì tìm hòa giải anh sẽ gây thêm và kéo dài các vụ tố tụng để cho đục nước béo cò.

Anh tính làm Bác sĩ, Dược sĩ? Càng tốt, nhưng nếu thiếu Đạo làm Ngừơi mai ngày chỉ gõ vào lưng người ta anh đã lấy mấy trăm bạc dầu đó là người nghèo cực và dù một ngày anh gõ hai ba trăm lần.

Anh thích học Ngoại giao? Tốt lắm nhưng thiếu Đạo làm Người thì khi đi làm Đại sứ thay vì tìm Thị trường cho nước, anh chỉ lo sao trong cái Vali ngoại giao còn có chỗ để dollar và hột xoàn…

Anh thích học sư phạm? Được rồi nhưng thiếu Đạo làm Người anh sẽ đào luyện trẻ em theo cái mô phạm cái dạng thức nào đây?
Nếu theo dạng thức Người thì phải tri Nhơn. Mà tri Nhơn thì học ở đâu ngoài Đạo làm Người?

Các ngành chuyên biệt khác cũng thế có lấy Đạo làm Người làm mối Hội thông mới có mối Liên hệ sinh động và cố kết lấy nhau và từ đó Văn hóa mới thêm linh hoạt và xã hội con Người mới mong thấm nhuần Nhân hậu và Khoan dung.
Và có thế sinh viên mới đáng là sinh viên vì có Đạo Nhân sinh thấm nhuần cái học chuyên biệt để bao quanh bằng một vòng đai Tinh thần Nhân ái. Thế mới đúng nghĩa sinh viên nghĩa là sống cái Tròn nếu không thì chỉ là sinh Vuông vì dồn hết sinh lực vào những cái chuyên biệt cục hạn có góc Vuông thuộc mưu sinh mà chưa là Nhân sinh lý tưởng.
Cho được là Nhân sinh phải thêm cái Vòng tròn Tinh thần. Muốn thêm cái Vòng Tròn thì phải học thêm, học mãi, không học làm sao biết được Đạo làm Người.

Để làm một Cơ khí, kiến trúc một cái Nhà hay biết những món Chuyên khoa hướng đến cuộc sống thông thường còn phải chuyên chú cả đời. Huống chi cái Lý uyên nguyên của cuộc sống Nhân sinh toàn diện luôn luôn biến diễn trên con đường mỗi ngày mỗi mở vào sâu thẳm thì không học làm sao mà biết. Đã không biết thì đời sống trở thành phi lý và Triết học chỉ còn có một việc khẩn thiết là vấn đề nên Tự tử hay không?
Sao lại đặt vấn đề thế: lẽ ra phải hỏi tôi có đáng sống chăng vì nếu sống thừa thãi (de trop) trong cái vô tri nhầy nhụa thì chết là phải rồi cần chi phải đặt vấn đề nữa?

Rõ thua cả thế nhân họ không đặt vấn đề mà chỉ có việc tự vận và sát nhân. Tỉ số sát nhân, tự vẫn và loạn óc gia tăng theo hàm số tiến bộ của mực sống và tiện nghi, như những nước có mức sống cao nhất (Mỹ, Thuỵ Điển…) chứng tỏ điều đó trước sự kinh hoàng của các nhà xã hội học.


“Seulement voilà ces hommes suédois ne sont pas heureux. Champions du confort et de la productivité, ils sont aussi champions du suicide et du divorce, de l’aliénation mentale, de l’alcoolisme et de la délinquence juvénile… Le Suédois ont découvert une nouvelle misère impossible à guérir par les moyens mêmes qui l’ont engendrées. On ne peut pas fonder une civilisation par la méconnaissance de la réalité humaine (Introd. Sc.h.p.473).
Trạng huống bi khổ gây nên do nghèo nàn có thể chữa bằng nâng cao mức sống, nhưng khi nỗi bi khổ lại thoát thai từ mức sống cao thì không thể chữa bằng nâng cao mức sống. Vì có trường hợp những nhà cự phú không tìm ra lẽ sống lên máy bay tự lái đâm vào núi để chấm hết một sự sâu xé trong tâm hồn.
Không thể xây đắp một nền Văn minh chân thật trên sự thiếu hiểu biết về con Người.

Do đó muốn tiến bộ trung thực phải biết Đạo Người.
Đành rằng không phải cứ học Đạo là mọi người trở nên tốt. Nhưng không lẽ vì thế mà Đại học buông xuôi trách nhiệm dạy Đạo làm Người.
Đành rằng hiện thời trong các Đại học không phải không có dạy Đạo đó nhưng rất thiếu sót và tản mát, nên tuy trong số những nhà trí thức xuất thân trong những Đại học hiện đại vẫn có những Tâm hồn cao thượng của con Người chân nhân, bất kỳ ở đâu và bao giờ cũng có những con Người như thế, nhưng họ phải tự lực học thêm quá nhiều. Họ là những bản lãnh cao cường đủ sức chống lại các ảnh hưởng ly tán của trường ốc, nên khi tốt nghiệp học cũng còn giữ được khả năng tốt Người, nghĩa là còn bảo toàn được ít nhiều đức tính làm Người để rồi tự tài bồi vun tưới cho đến độ làm Người toàn diện chân thực. Tuy nhiên số đó hiếm hoi.

Nay nếu nhà trường đi theo lối Thống nhấthợp Ngoại Nội chi đạo” thì số đó sẽ gia tăng có thể lên tới năm sáu mươi phần trăm. Nhưng dù gia tăng bằng nào đi nữa (cái đó còn tuy nhiều hoàn cảnh) Đại học cũng đã chu toàn sứ mệnh cao cả của mình, đó mới là điểm quan trọng.


Trở lên là sự phác họa sơ sài ít nét một giải pháp hợp Tinh thần Dân tộc, nó khác với những giải pháp hiện hành. Những giải pháp này khi thì Mẹ Vuông Con Tròn; có khi Mẹ đã Vuông lại còn đánh trụt thai nên đứa Con Tròn chỉ còn là bèo bọt của Hạ tầng cơ sở…
Tất cả đó là Tinh thần Ngoại lai đang tàn phá chút Di sản Nhân bản m linh của Dân tộc còn sót lại.
Đừng ai tưởng rằng Tinh thần đó hủ bại, mà ngược lại nó đang được các nhà trí thức thượng đẳng cổ võ và hiện nay đã có những ánh vừng đông huy hoàng ở hai khoa Vi thể ( Micro-physics và Thâm-tâm-y (psychosomatique) là hai khoa dẫn đầu trong việc tiến vào sâu thẳm và cũng là hai khoa giàu chất Tổng hợp Đông Tây, Đạo đức và Khoa học.

Hơn thế nữa đã có những mẫu Người Tổng hợp đó. Họ là một Jung, một Einstein, một Oppeinheimer. Tôi chỉ trưng lời một người trong họ tức nhà Toán học trứ danh Schrodinger, đại để ông viết:



Càng ngày chúng ta càng nhận thức rằng Chuyên môn không phải là một đức tính mà chỉ là một sự khốn khổ không thể tránh được, và một sự nghiên cứu chuyên biệt chỉ có giá trị của nó khi đã được hòa hợp vào cái biết Toàn thể.
Ông có trưng một bài “Những Đại học của Đức quốc”, năm 1957 với một đề nghị cải tiến như sau: “Tout professeur d’université devrait se montrer capable de voir des limites de sa matière… qu’au delà de ces limites interviennent des forces qui ne sont plus entièrement rationnelles, mais jaillissent de la vie et de la société humaine elle-même, de montrer à propos de chaque sujet qui conduit au delà de ses propres limites étroites vers le chemin les horizons plus larges auxquelles il appartiennent… (Science et humanisme p.19-20).

Lẽ ra mọi giáo sư Đại học đều phải nhìn thấy giới hạn của Khoa mình dạy để nhìn ra được những sức mạnh ngoại lý đang tràn lên tự đời Sống, từ Xã hội, để từ những Giới mốc của Khoa mình có thể chỉ trỏ cho sinh viên hướng đến những Chân trời rộng lớn hơn.


Tác giả thêm: “Gardez le contact avec la vie, non pas tant avec la vie pratique qu’avec le fond idéal de la vie qui est toujours plus important”
Cần phải tiếp cận với đời Sống, không phải đời Sống ăn làm nhưng là với cái nền tảng lý tưởng của dòng Sống sinh linh là cái bao giờ cũng tối quan trọng”.

Cái ông gọi là “Căn cơ Lý tuởng của đời Sống” thì chúng ta gọi là “ Tâm linh hoặc Đạo làm Người, là cái vòng tròn Nhân ái Khoan dung bao phủ lấy các Tài năng kỹ thuật tột bực.
Những người đó Jung, Einstein xứng đáng làm thầy chúng ta vì nơi họ tài ba kỹ thuật Tây Phương được lồng vào Tâm hồn kẻ sĩ Đông phương: Nhân hậu, Bao dung, Quảng đại.

Hiện nay ảnh hưởng họ đang lan tỏa và đã gây tiếng vang nơi cơ quan “Văn hóa Liên Hiệp Quốc” (xem Education et humanisme. UNESCO 1951).

Trong một phiên họp của cơ quan này có lời khuyến cáo nồng nhiệt nên cho sinh viên các khoa khác nhất là khoa học nghe thêm ít giờ Triết lý.

Đó là dấu hiệu báo trước lối thoát kiểu mẹ Tròn con Vuông. Tuy nhiên đó mới là lời khuyên. Vì một số điều kiện chưa hội đủ nên chưa mấy được thực thi. Do đó hiện tại bầu khí Cơ trị vẫn tiếp tục bao trùm con Người.



Triết lý vẫn bị khinh khi là “ kính nhi viễn chi”. Tại sao? Đó là điều chúng ta cần bàn tới.

10.- Triết lý với Đại học

Chúng ta nghĩ gì về chuyện Triết học bị khinh? Thưa đấy là một thảm trạng. Thảm trạng vì Triết học bị khinh thì ít, nhưng trầm trọng hơn là chính Triết học cũng có chỗ đáng khinh.

Lý do là vì Triết học đã không chu toàn nổi Sứ mệnh cao cả của mình tức cũng là Sứ mệnh của Đại học, nghĩa là tìm ra và phát triển cái Đại học, tức cũng là Đạo học hay là Triết lý Nhân sinh. Đàng này Triết học đã hầu hết trở thành một Tiểu tri kiểu chuyên khoa, nghĩa là cũng khép mình vào những phương thức của khoa học: từ địa vị bà Chúa trụt xuống làm Tiểu tri làm con Sen cho khoa học và xin khoa học ban cho một phép lành, một cái gật ưng chuẩn.

Triết học sa đọa từ đấy và hầu hết Triết học gia chỉ còn là những nhà bác học và biến Triết học thành những khoa chuyên môn với đặc tính của chuyên biệt tức là tự ly khai với các khoa học khác, hay nếu có đề cập đến thì lại đứng trên cùng bình diện hiện tượng như các khoa thì từ lúc ấy đã trở thành vô tích sự, chẳng hạn khi Triết muốn đề cập khoa học kiểu khoa học thì sẽ biến Triết thành bản tổng kết các thứ khoa học.

Kết quả là khoa học không ra khoa học, Triết học chẳng ra Triết học và từ đó ly dị với đời sống Tâm linh, đi bàn những vấn đề xuất thế gian bằng những danh từ kỳ dị chẳng mấy ai hiểu được. Còn những vấn đề đang làm bù đầu óc loài người thì lại chẳng nhận được tia sáng nào từ Triết học cả.

Đó là lý do khiến người đời coi thường Triết học, kể như một đồ xa xỉ thừa thãi.



Đấy là một trong những lý do khiến Cơ giới cứ phải tạm giữ tay lái con thuyền đời sống mặc dầu không thấy phương hướng đâu cả, vì khoa học có phải thiết lập ra để theo đuổi chuyện đó đâu?
Nó thuộc về Tổng hợp còn khoa học thuộc về Phân tích kia mà.

Ngày nay các bậc trí thức chân chính nhất trong nhân loại đều tin rằng: cái thiếu cho con Người hiện đại không còn phải là Khoa học nữa nhưng là một Triết lý Nhân sinh, một Đạo làm Người. Lối thoát cho Nhân loại phải tìm về phía này. Vậy điều quan trọng cần thiết hiện nay là làm thế nào cho Triết lý trở thành Đạo làm Người. Điều đó chưa có, nên ở trên tôi chỉ nói Đạo làm Người mà không nói tới Triết.
Vì triết có hai loại, một thuộc Hàn lâm trường ốc thì có đã từ lâu rồi; còn triết lý Nhân sinh thuộc loại hai thì mới khởi lên từ Schopenhauer và Nietzche, truyền qua Jaspers và Heidegger… nhưng đó mới là những cố gắng rời rạc còn lẫn nhiều yếu tố hàn lâm, chưa đủ trở thành một nền Triết lý nhân sinh có đầy đủ uy tín. Cũng vì thế mà các điều bàn luận trên đây chỉ là tìm hướng cho công việc nghiên cứu của chúng ta chứ chưa dám coi là một đề nghị với quốc dân hay chính quyền chi cả.

Trước khi nghĩ đến chuyện đó chúng ta còn phải gắng sức làm việc nhiều lắm, cố làm sao cho Triết học chu toàn được Sứ mệnh của mình là tìm ra cái mối Quán thông, tìm ra cái Bổn cái Đại, tìm ra cái Toàn diện, cái Bao dung thể. Vì khi tìm ra được nó sẽ trở nên bà Chúa đôn đốc các khoa học khác.


Nếu sánh nền Đại học của một nước như Thái dương hệ mà mỗi Hành tinh là một Phân khoa hướng dẫn cho một ngành hoạt động thì Triết lý phải là định Tinh ở trung tâm: nó phải nóng hơn, sáng hơn để tung toé ra chung quanh nguồn nghị lực để nuôi dưỡng và sưởi ấm tất cả mọi Hành tinh, ràng buộc trong hệ thống để Thái dương hệ khỏi tan loãng trong Thiên Cầu vô tận.
Để kết luận chúng ta có thể nói như sau. Theo tinh thần cố hữu của Dân tộc Việt Nam thì sự Vật bé hơn con Người. Con Người Tiểu ngã nhỏ hơn con Người Đại ngã Tâm linh.

Vậy nếu sứ mệnh Đại học là đi tìm một Trung điểm làm mối Hội thông bao quát được mọi khoa để điều lý và linh động hóa tất cả thì cần lấy Nhân bản Tâm linh làm căn bản cho mọi ngành tri thức. Ngành nào không quy chiếu vào con Người không thể gọi là Đại học tự Thân, người nào không sống Đạo làm Người không phải là Đại nhân, dẫu là một Thiên tài đi nữa, nhưng họ chỉ là một chuyên viên với một mớ tri thức về sự vật.


Biết Vật bé hơn biết Người. Đại học chính tông phải lấy Tri Nhơn làm hướng học tập, lấy Nhơn trị làm phương châm tác hành. Cần đào luyện sao cho chuyên viên vẫn còn là Người, không để cho Nhân cách của chuyên viên bị trầm diệt dưới những đống tri thức cứng lạnh để cho “sự méo mó nghề nghiệp” rút hẹp nhãn giới lại quá đáng đến nỗi lấy tiểu làm đại.
Sứ mệnh Đại học Việt Nam mai ngày là phải làm thế nào để Vận mạng quốc gia không bị đặt vào tay những Kỹ sư, Bác sĩ, Luật sư, Công chức, gGáo chức v.v… vì đó là những thứ mắt đã trở thành cận thị và lòng đã se cứng trước Tình nhân loại chỉ còn biết thâu quén cho đầy túi tham, hữu hiệu nhất để dẫn Quê Nước tới hố bại vong.

Vì đó Đại học phải làm thế nào để Vận nước được trao vào tay những Người-kỹ-sư, Người-luật-sư, Người-công-chức, Người-giáo-chức… Nghĩa là những người có lòng Nhân hậu có Tình người bao trùm lấy những tri thức chuyên môn. Tuy là Bác học gia, Khoa học gia mà lòng vẫn còn biết rung cảm trước những đau khổ của tha nhân, chí vẫn biết thành khẩn lo lắng cho tiền đồ Quê xứ và trong đáy lòng vẫn âm vang tiếng vọng Siêu Linh. Nếu muốn như thế thì cái Đại sẽ không còn phải là tu Văn, tu Lý, tu Cơ hay tu bất cứ cái chi chi khác nhưng là tu Thân. đào sâu thêm mãi cái hố phân ly đang há hốc miệng giữa Bình dân và Trí thức, giữa Bần cùng và Gu sang, tức là con đường Tu Thân.
Đừng hiểu tu Thân theo nghĩa nhăn nhó co ro của những thứ kiểm tục hương nguyện nhưng phải hiểu theo nghĩa uyên nguyên cao cả của nó thì Tu Thân chính là dùng Văn hóa chân thực làm cho phát triển đến cùng cực tất cả mọi Cơ năng thuộc Thân cũng như Tâm. Nói khác tu Thân là con đường hữu hiệu nhất để đưa đến Thiên Địa chi Tâm, chính là nền tri thức Quán thông Thiên Địa của những chơn Nhơn, tức là cái biết cao sâu nhất, vĩ đại nhất: là Đại học trên các Đại học.
Nếu hiểu tu Thân theo nghĩa trung thực đó thì chúng ta dám mượn nguyên lý của sách Đại học để chấm hết rằng: “ Tự các thứ công tử dễ kiếm tiền: Y khoa, Dược khoa, Cơ khí, Điện năng… dĩ chí ư các thứ kiếm khó hơn một chút như Luật khoa, Hành chánh, Quân sự, Thương mại, Báo chí huống chi là Văn khoa… nhất thị giải dĩ tu Thân vi bổn (1).
Kỳ bổn loạn nhi mạt trị giả phủ hỹ. Kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu : gốc loạn mà ngọn trị không thể có. Cái đáng phải thâm hậu lại phớt nhẹ, để nhấn mạnh trên cái chỉ cần lướt nhẹ, làm như thế mà mong được việc thì chưa hề có bao giờ vậy.”

I.- TỪ TRIẾT LÝ TỚI ĐẠO HỌC

I.- Triết lý là gì?

Nếu đem câu đó ra chất vấn các Triết học gia thì hầu hết họ sẽ lúng túng không đưa ra được một định nghĩa dứt khoát. Họ lúng túng vì họ đã đi được một bước tiến bộ chân chính nên đã trút bỏ được thái độ chắc mẩm lúc xưa. Khi ấy nếu ta hỏi Triết là gì thì các Triết học gia sẽ đọc trơn tru cho ta nghe câu đã coi là sở đắc từ lâu rằng “Triết học là một khoa học hiển minh và chắc mẩm về những sự vật, biết cho tới tận những lý lẽ, những căn nguyên sâu xa nhất”. “Scientia rerum certa et evidens per altissimas causas et rationes”.

Đó là câu định nghĩa nền móng đã chi phối Triết học Lý niệm từ hai ngàn năm. Và nay các Triết học gia muốn đưa ra câu định nghĩa khác thế vào thì vẫn chưa thoát khỏi vòng kiểm tỏa của nó như sẽ nói sau.

Lấy tâm trạng người thời nay mà nhận xét thì có hai điều đáng nói. Trước nhất ít khi người ta gặp một câu nói vắn tắt mà lại chứa chấp nhiều điều lầm lạc như thế. Thứ hai là dọc dài qua bao thế hệ không một ai nhận thức điều đó, phải đợi đến thể kỷ này mới phát giác ra và cũng là việc mới mẻ do một số người mà thôi.


Rồi đây xuyên qua các khóa giảng chúng ta sẽ có dịp bàn đến từng điểm. Ở đây trong bài khai mạc chỉ cần và đủ nêu ra một chữ trong câu định nghĩa trên, đó là các Vật: Rerum, des Choses, Triết học là khoa học về các sự Vật. Xin nói ngay là Triết đã lấy sự vật làm trung tâm suy tư và vì Triết học là khoa nền móng mà đã khởi đầu từ sự Vật thì tất cả sau này hết mọi vấn đề đều phải khuôn theo phạm trù của sự Vật kể cả khi bàn đến vấn đề rất tinh tế như Thiên, Tính mệnh, Linh hồn, sự sống v.v… thảy đều mang sắc thái sự Vật.
Nói đúng hơn đuổi theo bóng sự Vật, nghĩa là còn ở bên dưới Khoa học thực nghiệm. Đàng này đuổi theo bóng theo hình ảnh của sự Vật.

Có ích ở chỗ nào chưa ai chỉ ra rõ được nhưng hiển nhiên là đã giản lược con Người thành một Quặng kim khí phải tuân theo mọi phạm trù và luật tắc chung của sự Vật, thiếu mất hẳn tính chất âm u linh động tư riêng của con Người.
Con Người trở nên như Quặng kim khí nên hoàn toàn thoát xác. “L’existence humaine a été minéralisée, fossiliée. La réalité, humaine a été dissoute. L’individu désincarné se trouve réduit à la condition de cas particulier d’application d’une loi générale… Ce n’est pas par un simple rencontre de hasard que la loi morale évoque pour Kant le ciel étoilé don’t les astres obéissent de toute éternité aux lois rigoureuses des l’astronomie. (Morale, Gusdorf 170).

Không phải vì vô tình mà Kant đã ví Luân lý với bầu trời có trăng sao đã từ đời đời vâng theo những luật lệ khắt khe của Thiên văn tức sự Vật kiểu khoa học.

Tình trạng đó ăn khớp với câu Kinh Lễ:

Nhân hóa Vật: diệt Thiên lý nhi cùng Nhân dục”:

Người hóa Vật, cái đức Sáng bẩm thụ của Trời Đất mờ tắt mà Lòng dục vọng của con người thì đi đến chỗ cùng cực, ngay những chốn linh thiêng đạo đức ta cũng thấy sặc mùi lợi danh vật chất. Quả thật người ta đã không quá lời khi bình luận Triết học Lý niệm là bộ môn phi Nhân hóa con Người. “École de déhumanisation” (Métaphysique, Gusdorf 167).

Câu định nghĩa cổ điển trên kia tuy phát xuất từ Aristote người đã bàn về vật thể và các sự quy định về vật thể (substance et ses déterminations ) gọi là phạm trù nhưng căn nguyên sâu xa hơn thì do Platon người đầu tiên đã phân biệt Thế giới khả giác khỏi Thế giới Lý niệm cách quá đáng vì đã coi khinh thế giới Khả giác, cũng gọi là Trần thế, để đề cao Lý giới bắt Trần giới phải căn cứ vào Lý giới để tìm lý do tồn tại và tiêu chuẩn giá trị.



Điều đó không phải không có lý do vì con người phải có một lý tưởng cao xa hơn xác thân vật chất, nhưng cái lầm của Platon (hoặc của những người giải nghĩa sau) nằm trong chỗ phân đôi rồi chọn bên kia bỏ bên này như chúng ta sẽ học về sau.

Điều đáng nói ở đây là những hậu quả của sự phân tách đó dẫn tới chỗ Đạo, Đời ly gián. Con người xác thịt phải tuân theo những dạng thức đặt bên ngoài thế giới, mà không được đếm kể gì đến những Nhu yếu về Xác thân, Tình cảm, Tâm tư.

Do đó những người mẫu của Triết học đưa ra thường bị coi là những mộng du, những thứ người thoát xác mất nhân vị (philosophie dépersonnalisée). Người dưới phố không thể nào nhận ra được mình qua những mẫu người của Triết học gia nên họ cũng thôi luôn không thiết tha đến Triết học nữa.



Từ đó Triết học trở thành môn học do chính quyền cung cấp, trở thành một ngành chuyên biệt đặt ngoài lề đời sống, không còn quan thiết đến Nhân tâm Thế đạo, không còn mối Liên hệ nào với đời sống như đáng lẽ nó phải là thế. Chính vì vậy mà Tôn giáo phải gánh vác thay cho Triết lý nhiệm vụ hướng đạo đời sống. Cho tới lúc thế lực của Tôn giáo giảm sút thì đời sống trở nên con thuyền không lái, bồng bềnh trước các cuồng phong loạn thổi.

Những người thức thời cảm thấy cần một hướng đi, một ngọn đèn pha soi cho con thuyền đời sống và từ đấy dần dần người ta nhận ra chỗ tai hại gây nên bở chữ sự Vật do Aristote đưa vào Triết để chống đối lại sự phân tách thế giới Giác quan ra khỏi thế giới Lý niệm do Platon đề xướng.



Nietzsche cho sự phân chia này là một lời rủa sả độc địa đè nặng trên hai mươi lăm thế kỷ Triết học cổ điển vì nó khiến con người bị “vong Thân”, bị “sa đọa” chìm mất tăm vào giữa thế giới sự Vật về hai phương diện Luân lý cũng như Tri thức.

Về mặt Luân thường Đạo lý thì con người phải vâng phục các luật lệ của cõi Lý niệm đặt xa con người không có gì tự Nội khởi phát xuất từ tính Đồng nhiên con người cả. Do đó Đạo đối với con Người trở nên cái gì xa lạ lạnh ngắt. Học là học, không ăn nhằm chi tới Hành cả.

Về phương diện Tri thức thì chính sự Vật quy định chủ tri như con dấu in hình xuống sáp mềm. Chủ tri là miếng sáp mềm nhận lấy ấn tượng y nguyên từ sự Vật in vào chứ tuyệt nhiên không góp chút chi tỏ ra là Chủ động. Một vài việc được gán cho như Lý trí tác động (intellect agent) cũng loay hoay trong vòng Tiếp với nNn nên có thể nói là không có Chủ tri vì hoàn toàn thụ động tiếp nhận cho nên xét về cả hai phương diện ta thấy chủ tri hết còn là Chủ tri mà là Thụ tri, nghĩa là không được đếm kể chi tới. Không ai ngờ đến sự có một Chủ tri nữa.

Mãi tới Descartes mới hé thấy sự hiện hữu của Chủ tri trong câu nói thời danh “Tôi suy tư vậy là có Tôi”. Với câu đó Descartes được một số sử gia dành cho danh dự mở màn giai đoạn mới gọi là giai đoạn khám phá ra Chủ tri (La découverte du sujet), y như nhà thiên văn mới phát kiến ra một ngôi sao lạ cho tới đó chưa ai hay biết. Trong bầu trời Triết lý tức là bầu trời có những quyết định căn cơ hướng dẫn vũ trụ nhân sinh trong thời cổ điển, chỉ có khách thể với chân lý đối vật (La vérité- objet: veritas est conformitas intellectus ad rem) nghĩa là Chân lý được đẽo gọt hoàn toàn theo sự Vật chứ không kể chi tới nhu yếu thâm sâu của con Người. Nay nhà thiên văn Descartes mới khám phá ra ngôi sao mới, gọi là cái Tôi và từ đấy cái Tôi sẽ dần dần không còn đáng ghét nữa.

Descartes xóa bảng (tabulala rasa) không kể gì đến thế giá Người xưa, xóa hết mọi tập truyền bấy lâu đã đè đầu cỡi cổ cái “Tôi” để cho Tôi lấy lại được địa vị để cũng như ai kia đươc đứng trong vòng Trời Đất thì tôi cũng có đây; ego sum: có mặt Tôi đây.

Bao nhiêu quyết định về Tôi phải chờ là phiếu của Tôi, ít ra phải chờ Tôi giơ tay lên, chứ không phải giúi đầu Tôi xuống mà đóng búa vào. Đó là sự phát kiến của Descartes.

Thực ra Tôi đi quá mau. Những câu đó Descartes chưa hẳn nói lên được xác thiết như thế, phải chờ đến Kant. Descartes mới như người đang ngủ say chợt tỉnh dậy nhận ra là có Mình, thế thôi, chưa kịp đòi quyền lợi gì cho mình cả, thì đột nhiên lại lăn ra ngủ nữa, nên đã để cho “tôi suy tư” đốc ra “sự vật suy tư” (res cogitans: chez Descartes ego dégénère en chose pensante), đến nỗi linh hồn cũng bị đạc điền như một sự vật có trương độ vậy, nên Ego đó mới chỉ là ngoại ngã, một cái ngã bì phu dưới quyền chi phối của tượng vật (phantasma) Descartes tuy được công kênh lên bậc “đại Triết gia” nhưng nay vào số những Huyền thoại đang bị ủi đi (xem trong quyển Nhân Bản). Thế giá của Descartes như là nhà khoa học có lẽ sẽ còn phần nào, nhưng thế giá Descartes như một Triết gia đang bị chối cãi cách nghiêm nghị. Nhiều sách triết không chịu nhắc đến tên ông nữa (chẳng hạn Vies et doctrines des philosophies, W.Durant), hay có nhắc đến là để bóp cho tan (xem Bachelard…) và phần lớn Triết sử gia đào mốc phân ranh Triết mới cũ đem chôn sang một tên tuổi khác, đó là Kant.

Kant mới thật là người cách mạng. Kant có lý khi ví mình như Copernic bắt trái Đất phải xoay quanh mặt Trời, bắt sự Vật phải xoay quanh Chủ tri. Chủ tri bây giờ mới thật làm Chủ nắm quyền định đoạt và trở nên Trung tâm quy định dạng thức của sự Vật. Sự Vật trở nên Thụ tri phải nép mình qua khuôn thước, qua phạm trù của Chủ tri. Chủ tri không cần xét tới sự vật, vì đã sẵn có những khuôn thước rồi, nên Chủ tri cũng gọi là Lý trí tiên thiên, tiên nghiệm. Cần gì phải nghiệm, mình làm chủ mà, muốn thành méo tròn, đỏ đen, tụi vật thể đều phải tuân theo hết thảy. Kant đã cho mình là thức khỏi giấc mơ giáo điều của sự Vật (sommeil dogmatique). Tuy vậy sau này Kant sẽ ngủ lại dưới chăn gối của duy sùng mộ piétisme… bỏ cuộc khám phá dở dang để mãi tới thế kỷ 20 mới được Heidegger nối tiếp (xem Kant et le problème de la Métaphysique) con đường của ông đã hé thấy nhưng không bước vào được. Trong khi chờ đợi thì con đường Lý niệm cũng gọi là duy Tâm (idéalisme, là tên cũ đặt cho giai đoạn thứ hai này) được Hegel nối tiếp. Với Hegel tinh thần con người không còn quy định sự vật mà là tạo dựng sự vật. Tạo dựng! Như thế con người là Tạo hóa rồi còn chi? Đúng thế với Hegel, con người được nâng lên hàng Tạo hóa, nhưng là một Tạo hóa vong Thân còn đang say ngủ, tuy nhiên vẫn là Tạo hóa trong cái diễn biến đang hình thành. Khi cuộc diễn biến đã đạt đích thì con người sẽ nhận ra mình với tinh thần tuyệt đối là một.

Cuộc khám phá Chủ tri đến đây là tuyệt đỉnh rồi, không còn đẩy xa hơn được nữa! Thế nhưng với con Người thì sao? Thưa “rằng cao thì thật là cao” nhưng cao quá có còn đủ dưỡng khí cho sự hô hấp của con Người hiện tại chăng? Con Người không phải chỉ có lý trí nhưng còn cả một Xác thân với một khối Tình luôn luôn chực tràn bờ với bao uẩn khúc tư riêng… Con người đó có chịu theo Hegel chăng, hay nó sẽ theo Triết lý con heo của Trang Tử. Chủ tế đề nghị giết Heo tế trời, Heo chịu thì được làm Heo của Thiên. Heo của Thiên thì tất nhiên cao hơn Heo. Nhưng Heo nhất định từ khước chức làm Heo của Thiên để ở lại chuồng làm Heo của Heo. Cao thì nhất định không bằng nhưng sống mạnh, sống đầy đủ đời sống con Heo.

Vậy là đủ cho Heo rồi. Cho nên thái độ của Heo dứt khoát với chủ tế Hegel. Không thể ông ta dắt đến bàn thờ của nhà nước (Hegel chủ trương étatisme). Nhất định Adieu. Chấm tròn. Xuống dòng. Sang trang để viết một trang sách mới với những đại diện cho thái độ “bảo sinh” tức là Hiện sinh với thời trang là Duy sinh.

II.- Từ Duy sinh đến Hiện sinh



Hiện sinh chủ trương chống đối Lý trí, chống lại óc duy Lý của thời cổ điển lấy tiêu chuẩn mãi ở thế giới đâu đâu mà “Hiện sinh” gọi chung là Triết lý ngoài Vũ trụ, ngoài Thời gian (philosophie acosmique, extra-temporelle) Triết học tháp ngà, Triết học thưởng ngoạn: mắt nhìn cùng bốn phương, miệng nói như thác chảy, mà tay thì khoanh dính đét vào mình. Hiện sinh đề ra một Triết học mới gần gũi ngay ở Đây và Bây giờ (hic et nunc) trong không gian và thời gian, một triết lý ghé vai, xắn áo, lăn lưng vào đời: đưa vào một cách thế hiện diện hữu hiệu giữa hoàn cảnh (en situation) đầy bất trắc ngẫu nhiên, phi lý, bi đát, nhầy nhụa… Hỡi người hãy sống cái sống hiện tại đang triển diễn ra trước mắt đây này.

Nhìn bâng quơ ngoài xa xăm mà làm chi. Những lời “bảo sinh” đó quả là hữu lý nên được một số tín đồ cuồng nhiệt ùa theo, tạo thành một lối sống bừa bãi bệ rạc gọi là thời trang Hiện sinh, sẽ làm hạ giá Hiện sinh rất nhiều và trên kia khi nói đến Heo là tôi nghĩ đến những hiện sinh rẻ tiền, những thứ “duy sinh” theo nghĩa chợ Cầu Muối. Tuy nhiên đó chỉ là những mương những tép, chúng ta nên lờ đi và tiến sâu hơn để tìm ra cái tinh tuý của Triết học Hiện sinh, để lên sổ những sở đắc mới mẻ của họ. Đây là một giai đoạn Triết lý khá phong phú dệt bằng những khám phá tưng bừng, nghĩa là nhiều nhận thức về những giá trị cho tới đó bị quên nhãng hay không được ý thức sâu xa. Chúng ta cần ôn sơ qua các giá trị đó để biết được phần đóng góp của Hiện sinh và nhất là để hiểu được hiện tình Triết học đang đi đến đâu.



Trước hết phải kể đến cuộc khám phá xác thân. Xác thân bị quên bẵng dọc dài từng ngàn năm của Triết học Lý niệm, và đó cũng gọi là thời Duy linh, con người được phong làm Thiên thần (angélisme). Noblesse oblige. Bao nhiêu chuyện thuộc thân xác hay bị coi là đồi bại hay ít ra không dám bàn đến để tìm cách thỏa mãn những nhu yếu căn bản của con Người sống trong xương trong thịt: cần phải ăn uống, phải tình tự yêu thương v.v… lại còn coi khinh thường hoặc đặt dưới bao điều cấm kỵ trái ngược. Nhưng con người làm sao giữ được. Chính vì vậy mà Triết học đã sản ra một lũ ăn vụng khổng lồ. Ngày nay khi khám phá ra thấy đó cũng là những việc đáng tôn trọng lắm.

Với Kant có hai điều đáng kính: một là Lương tâm luân lý, hai là Tầng trời lấp lánh trăng sao.

Với Nietzsche chỉ còn lại một điều đáng kính là đi cầu trơn tru không vướng mắc!

Một khám phá nữa cũng kinh khủng không kém, xuất hiện ở phía nam huyệt đơn điền: khu “trù mật” (danh từ của sinh viên y khoa) được Freud chọn làm tổng hành dinh cho mọi tác động của con người (pansexuel) trong Phân tâm học của ông.

Ông cho rằng vì con người đã dùng huý kị dồn ép các nhu yếu sinh lý nên nảy sinh vô vàn bệnh thần kinh v.v… Chủ trương của ông tuy quá đáng nhưng cũng khiến con người phải nhìn nhận mình thiếu của vấn đề Sinh lý.

Và đây là một khám phá nữa rất quan trọng là khám phá Tha nhân. La découverte du toi, d’autrui, d’altérité. Với Triết Vật bản không có Tha nhân. Chủ tri còn chưa có, có sao được Tha nhân. Thành thử Tha nhân bị coi như những “Cela” ở ngôi thứ ba, cùng một đợt với tĩnh Vật, không liên hệ chi tới mình. Đến nay khám phá ra Tha nhân như một ngôi vị, một hữu thể mà mình có thể thiết lập đối thoại, thông cảm, một hữu thể ở ngôi thứ hai (je-tu, Buber) mà tôi phải kính nể, phải coi trọng ý kiến… Vì hầu chắc hắn cũng là Người chứ không phải là tĩnh Vật như triết cổ điển ngầm hiểu thế. Sự khám phá này ảnh hưởng vào thái độ ở đời của tôi. Thay vì độc thoại hay thái độ chỉ biết có mình (Narcise) tôi phải cảm thông, phải chấp nhận Tha nhân.



Do đó cần phải bỏ thái độ độc hữu, độc tôn, độc quyền. Xin hãy chấm dứt thời đại “Duy”, bất kỳ duy nào cũng là một bệnh hoạn, dẫu là Duy lý hay Duy linh, Duy vật hay Duy thần. Thánh, Thần, Vật, Linh, hễ đã nhốt vào phạm trù “Duy” thì nên phải bỏ, giữ lại chỉ có hại cho con Người trong thực tại. Sự vật có muôn khía cạnh, mỗi người chúng ta không thể một lúc đứng ở Đông Tây, Nam Bắc. Tất nhiên chỉ nhìn được có một khía cạnh, một trắc diện (profil, dịch tiếng của Husserl: abschattung) không được vì thế mà phủ nhận các trắc diện kia nghĩa là không được phủ nhận cái nhìn của người đứng ở địa điểm khác. Vậy cần phải chấp nhận Tha nhân, nghĩa là Lân nhân với những cái nhìn khác.

Nhìn khác nghĩa là Cảm giác khác, Nhác, Muốn khác, Quan niệm khác về Nhân sinh về Vũ trụ. Do đó mà Triết lý quan điểm kéo theo những Vũ trụ quan (Weltanschauung) khác nhau tức là những Triết lý biện minh cho Vũ trụ đa dạng, mà Triết học cổ điển đã không kể chi tới.

Trở lên là thử phác họa lại mấy khám phá lớn của Triết học nó làm thành bầu khí của Triết học Hiện sinh, tức là thời kỳ hiện đại.

Sự cố gắng lớn nhất của thời đại này là cố công đem yếu tố biến hóa sống động, uyển chuyển vào trong Triết lý, vào vận mạng con Người (Jaspers), đem ra những khía cạnh tư riêng độc đáo, những nỗi u uẩn của kiếp Người (Kierkegaard, Nietzsche…) nên Hiện sinh đáng được chúng ta chú ý mặc dù có nhiều khuyết điểm.

Tuy thế cần phải nói ngay điều này là rất nhiều lời đả kích Hiện sinh không đủ giá trị, bởi nhằm bảo vệ Triết thuyết cổ điển, tức là từ khước sự tiến tới, cố bám víu lập trường cũ xưa tức là Vật bản (choisiste), thế nghĩa là chậm tiến hơn Hiện sinh.



Hiện sinh trội hơn Cổ điển ở chỗ bảo sinh, và chính ở chỗ đó mà Hiện sinh đáng được chúng ta lưu tâm. Lưu tâm để tiếp tay đẩy đà tiến lên mãi. Cái hay do bảo sinh phải được chúng ta bênh đỡ chống với thái độ ứ đọng cứng nhắc của Cổ điển. Đồng thời chúng ta có thể bổ khuyết chỗ có thể tiến thêm.

Trên kia đã nói đến thái độ sống Heo. Chúng ta đã cho Heo đứng ở lập trường bảo sinh là tỏ ra khôn hơn thái độ ý hệ coi trọng những ý niệm trừu tượng hơn cả con Người có xương có thịt, hơn cả sự sống. Bây giờ chúng ta hỏi Heo đã phải là tận thiện chưa?



Trên Heo còn có gì nữa? Tất nhiên là bật ra câu thưa còn có Người nữa. Và nếu Heo sinh cao hơn Vật sinh nhưng còn thấp hơn Nhân sinh, nên Nhân sinh mới là đích điểm chúng ta phải nhằm. Ở Heo sinh có sống có động nên hơn Vật bản im lìm, nhưng Heo sinh thiếu một Ý thức hướng dẫn, minh biện. Thái độ cởi mở của duy Sinh hầu như không mấy khác “quán trọ ngỏ cửa bên ngã ba đường mà Gide nói tới ai vào cũng được” (mon âme était l’auberge ouverte au carrefour. Ce qui voulait entrer, entrait). Thì từ lúc ấy, chưa phải là Nhân sinh mà mới là Duy sinh. Mạnh Tử tả tình trạng đó như sau:
Thượng vô đạo, quỹ dã

Hạ vô pháp, thủ dã

Quốc chi sở tồn giả, hạnh dã”

Người trí thức không có một Đạo lý soi đường. Đại chúng không có một Pháp độ để nắm giữ. Nước như thế mà chưa diệt vong là ăn may vậy.
Đó chính là tình trạng của nước ta nay đã bật khỏi gốc Tổ tiên, Tổ quốc đã mất có còn tồn tại chăng cũng chỉ còn là mảnh đất vô Hồn làm nơi nương tựa cho cuộc khủng hoảng trầm trệ, cho các tư trào ngoại lai tràn vào, cho mọi thứ cuồng phong quần thảo. “Mất Vũ trụ rồi” (un-welt, Heidegger). Vũ trụ đã rạn nứt rồi (le monde est cassé, G.Marcel). Những danh từ đó làm chúng ta liên tưởng đến mấy Thiên liệt, Địa phế trong Lão Tử (ĐK 39):
Thiên vô dĩ thanh, tương khủng liệt.

Địa vô dĩ ninh, tương khủng phế.

Thần vô dĩ linh, tương khủng hiệt.
Trời không trong sẽ vỡ

Đất không yên sẽ lở



Thần không linh sẽ tán.
Then chốt nằm trong câu cuối cùng. “Thần không linh sẽ tán” Một trong mấy đặc điểm của thế giới hiện đại theo Heidegger là sự trốn chạy của các Thần minh (la fuite des dieux). Nói cụ thể ra là những thực chất linh thiêng hiệu nghiệm đã suy đồi đến mức độ tối đa.

Nói riêng về Triết học thì chỉ còn là một thứ khoa học về các Tư tưởng, một Khoa học lãnh lẽo thiếu Tinh thần. Nói theo Nietzsche thì Triết học thiếu mục đích, thiếu ý chí, thiếu lòng tin tưởng nồng nàn nên là một thứ triết thiếu xương sống (une philosophie sans but, sans volonté, sans foi ardente, une philosophie sans épine dorsale) cho nên bầu vũ trụ phải tan hoang, con người trở nên long đong và khi người Việt Nam chúng ta chạy theo trào lưu đó trở thành côi cút. Đó là chỗ quan hệ mà các nền Triết học lý niệm chưa nhận thức đủ.

Hiện sinh đang gắng sức gây niềm ý thức bằng những đường lối khác nhau. Kierkegaard cũng gọi là hiệp sĩ đức Tin đang cố gây lại Ý thức người bằng Tín ngưỡng trung thực.

Nietzsche thì bằng cách đề cao Ý chí hùng cường và mẫu Người siêu nhân.

K.Jaspers với Siêu việt thể,

Heidegger với Tính thể và thời gian…
Đó là những cố gắng đáng khen của trào lưu mới.
Tuy vậy ta có thể nói tất cả còn mang nặng yếu tố thưởng ngoạn suy tư (contemplatif et spéculatif) thiên về mô tả suy luận nhiều nhưng vẫn nghèo nàn về phương thế thực tiễn. Dầu sao thì nó cũng còn đang trên đường hình thành chúng ta nên đón nhận tất cả với niềm thông cảm và lựa chọn.
Riêng về K.Marx, ông đã phê bình Triết học từ trước tới nay chỉ ngắm nhìn Vũ trụ, mà lẽ ra phải biến đổi Vũ trụ. Miệng nói mình làm: ông đã đưa Pháp hành (praxis) ra để bổ sung. Đó là một bước tiến, nhưng mới tiến một vế, thay vì ngắm nhìn thì biến ra biến đổi. Nhưng về đối vật còn để y nguyên tức là Vũ trụ, “biến đổi Vũ trụ” như vậy là trở lui về giai đoạn Vật bản mất rồi.
Và con Người thay vì được giải phóng như ông mong muốn có bị vong thân sâu đậm hơn nữa chăng? Những Trại tập trung bát ngát làm cho chúng ta rất ái ngại.

Có cách gì cảm hóa con người hợp với Tình người hơn chăng?

Làm thế nào để hòa giải giữa Ngoại khởi và đồng loại hóa với Triết lý sinh sinh Nội khởi để không vì một bát cơm mà phải hy sinh đến Tự do nhân cách của ngàn vạn con Người?

Ai giúp chúng ta tìm ra “Thần đủ linh” để quy tụ cảm hóa lòng Người hầu mở ra một trang mới cho Triết học trở thành đạo sống?

Ai sẽ đứng ra để hướng dẫn chúng ta đi thâu hóa được hết mọi khám phá vừa kể ra trên kia, duy trì được hết những điểm tích cực như Bảo sinh, Tha nhân, Quan điểm, Hiện thực?

Ngoài Đạo học ra tôi không thấy đâu là con đường khác.

III.- Đạo học là gì



Người ta hay lầm Đạo học với khoa Luân lý hình thức vì thường chúng cũng mang tên Đạo đức học. Kỳ thực khi xem từ đầu chí cuối không gặp được yếu tố chi đáng gọi là Đạo cả.

Cũng có người lầm Đạo học với Tôn giáo bởi vì hai đàng có điểm giống nhau ở chỗ cả hai bên có bầu trời siêu việt, một bên là Siêu nhiên, một bên là Tâm linh.

Nhưng cũng còn rất nhiều sự dị biệt từ căn để. Chẳng hạn, trước hết Tôn giáo là một tín ngưỡng, một lòng sùng mộ, đang khi Đạo học là một tri thức cùng loại Khoa học, hơn nữa còn là bà Chúa khoa học ở chỗ không những tìm biết nhưng tìm biết cách thấu triệt bằng Trực giác.

Khoa học mới là một tri thức, một savoir, đang khi Đạo học phải là một sagesse, một Minh triết, nghĩa là cái biết đến căn cơ cũng gọi là Đạo học.

Triết lý chưa phải là Triết khi hiểu Triết cùng với nghĩa Minh Triết.
Trong trường hợp đó Triết phải viết hoa, nói lên cái biết cùng cực. Còn Triết lý tuy cũng là cái biết triệt để nhưng mới là cái để của Lý học là một tài năng rốt ráo của các cơ năng khả giác, hữu hình, có đi xa hết cỡ cũng mới vượt giác quan có cơ thể, chưa hẳn là Hình nhi Thượng, nên Triết học chưa phải là Triết, cũng như Ý thức chưa phải là Thức: Ý thức mới là một phần nhỏ của cái Thức toàn diện bao hàm Tiềm thức, Vô thức, Siêu thức, Thần thức v.v… Triết học chỉ ở trong vòng ý thức, trong vòng lý trí của con người hiện tượng.

Triết mới bao gồm cả Lý trí lẫn Tiềm thức Siêu thức nơi cõi Tâm linh của con người toàn diện Đại ngã. Hiểu như thế thì Triết với Đạo là một.
Vậy Đạo học là gì? Có thể căn cứ vào tự dạng chữ Đạo ( 辶+首= 道 ) kép bởi bộ xước ( ) là đi và Thủ () là đầu, là cội gốc mà thưa rằng Đạo học là đường đi về với bản Gốc của mình. Đạo chính là con đường “phục quy kỳ Căn”, trở lại với căn cơ nguồn ngọn của con Người muôn thưở.

Đạo học chỉ có bấy nhiêu đó, nhưng chỉ bấy nhiêu đó cũng quá đủ đặt ra cho ta những vấn đề vừa thâm thiết đến mệnh số và cứu cánh con Người, cho nên cũng là những vấn đề hào hứng mà không một ma tuý nào trên đời có thể bì kịp, là vì nó trung thực và đáp ứng cho những khát vọng cốt tuỷ nhất của lòng Người.

Những vấn đề nó đặt ra sâu xa man mác đến nỗi lý trí con người mặc dầu có thể tạo dựng nên những khoa học tân kỳ đủ loại, cũng đành bó tay trong địa hạt bao la của cõi Đạo và ngoại trừ một số dữ kiện sửa soạn, lý trí không sao tìm được đáp số cho những câu hỏi chẳng hạn: nguyên uỷ mà Đạo tìm về là cái chi? “Phục quy kì căn” thì căn đó là gì?

Nó liên hệ với ta ra sao? Với Vũ trụ Nhân sinh thế nào? Trên đường quy căn đó có phục kích, có đắp ụ chăng? Ai đắp? Những ai phục kích? Làm sao mà kinh qua?

Đó là đại loại vài câu hỏi mẫu, nó sẽ kéo theo biết bao câu hỏi khác mà già cả một đời tận tuỵ tinh anh cũng không sao giải đáp hết. Vậy thì Đạo học không phải là tuân theo một số luật tắc này nọ, vâng giữ một số nghi tiết kia khác… Những cái đó nếu có cũng chỉ là phụ thuộc.



Đạo học là một đường lối siêu tuyệt phát khởi từ Tri thức, Ý thức, xuyên qua Tiềm thức, Vô thức để lên miền Siêu thức nên thấu nhập vào tận Thâm Tâm con người cũng như tỏa ra thấm nhuần hết mọi Hành vi cử chỉ con người. Nói theo tâm não khoa học đời ta thì Đạo học mở ra những chân trời kỳ lạ có thể gọi là chiều kích thứ năm thứ sáu tuỳ ý (5e, 6e dimension).
Nhưng điều cốt cán là ám chỉ cái nguồn nghị lực huyền diệu chất chứa bên trong, khiến cho ta khi đọc và có thể hiểu được Đạo học thì sẽ thấy có cái chi lôi cuốn rất huyền vi. Có những người chỉ cần nghe một câu của Đạo học đã đủ sáng soi, hướng dẫn và tiêm hăng say cho cả một đời sống cách rất sung mãn, và đó là chỗ Đạo học vượt xa Triết học, nó đưa lại cho Triết học một chiều kích Siêu linh mà nguyên Triết học không sao có được. Nó đem lại một Nguyên lý uyên tuyền phổ biến đang khi Triết học mới đạt những Nguyên lý thuộc Lý trí, thường được phát kiến ra bằng lý luận suy tư nên có tính cách tương đối, cùng loại với Khoa học như Toán Lý Hóa v.v…

Vì thế khi định nghĩa Triết học, Aristote cho là cái biết đến tận những lý lẽ. Ông đã dùng số nhiều “rationes, causas”: những lý do, những căn nguyên. Chữ những là cái cùm cầm chân không cho Triết học tới đến cái Lý Nhất quán, Vô nhị.



Chỉ có Đạo học mới vượt qua hàng rào những Lý, những lẽ để đi sang miền “Lân hư” tiếp cận vớiKhông” tức không biên cương giới mốc, không lý lẽ, ở bên ngoài những ngẫu kiện tương đối (contingences relatives).

Do đó mà Đạo học không dùng số nhiều nhưng là số ít. Một đầu, Vô nhị, Nhất quán nhưng với sức bao dung vô tận như đại dương, còn Triết học chỉ là ao, hồ.

Vậy Đạo học sẽ phải là chỗ hướng vọng của chúng ta, của những con người thế kỷ 20 đã hiểu được ngoài Hiện tượng còn có một cõi Siêu linh cần khám phá.
Trải qua hai mươi lăm thế kỷ, Triết học lý niệm đã có đủ thì giờ lục soát cõi hiện tượng và đã chu toàn sứ mạng của giai đoạn lý trí rồi, nghĩa là đã biểu lộ đến hết cỡ mọi khả năng của nó, và Kant đã tuyên bố là nó bất lực trước thế giới siêu linh đành bó tay vì không có buồm lạt chèo cột chi cả. Giờ đây nó đang bị đả phá, bị tháo gỡ để dọn đường cho Đạo học ra đời. Đó là chiều hướng đáng hứng khởi của Triết học hiện đại, tuy mới như rạng đông qua làn sương mai chập chờn biến hóa “hốt hề hoảng hề” nhưng “kỳ trung đã hữu tượng” tức là đã có tượng linh động đủ cho chúng ta quy hướng sinh lực vào đó mà phát triển và hoằng dương.

Với Triết học có làm hết cỡ chúng ta cũng mới là Triết học gia, một thứ bác học có nhiều sáng kiến và mạch lạc.

Chỉ với Đạo học tức là một thứ Triết Trung thực chúng ta mới đi vào con đường trở thành Triết gia, Hiền triết.

IV.- Hướng học tập



Tìm cho nhân loại một Nền móng Tinh thần Thống nhất.
Đấy là một mục phiêu cao thượng quý hóa xiết bao, rất đáng làm hứng khởi mọi tâm hồn quảng đại bao la, rất thích hợp với ý hướng triết lý Nho giáo nhằm “an bang tế thế” (trị quốc bình thiên hạ). Tuy nhiên học về Tam giáo cũng có ba bảy đường, y như trong thực tế Tam giáo không phải chỉ có tạo nên được bầu khí Tương dung tốt đẹp như vừa kể trên, mà trái lại cũng đã gây ra những vụ xích mích, bách hại, đả kích nhau.
Bức họa vẽ Phật pháp trên tòa sen. Lão tay cầm sách Đạo Đức Kinh tay luyện linh đơn trong lò bát quái, đang khi đó Khổng lòm còm dưới đất như trẻ con, là một bằng chứng.

Bên Lão Trang thì tràn đầy những bài đả kích Nhân Nghĩa của Khổng Nho. Bên Nho cũng không chịu kém như ta có thể thấy chẳng hạn trong bài thơ “Phật thị thuyết pháp, Lão thị đàm kinh, Khổng Tử kiến chi, tiếu nhi truỵ địa” : họ Phật giảng pháp, họ Lão bàn kinh, Khổng Tử xem thấy, cười lăn ra đất”. Đó là những nét đen làm hoen ố bức tranh Tương dung mới nhắc tới ở trên.

Nguyên nhân tại đâu? Xét ra thì tại những học giả, những con Đạo đã gây nên những bóng đen đáng tiếc kia, đã không hiểu đúng hay ít ra không giữ đúng được cái ý nghĩa uyên nguyên của chữ Đạo, chữ Giáo như chúng ta tìm thấy ở đầu chương.

Nho thì đâm ra tầm chương khoa cử. Thích thì đi về Tôn giáo, còn Lão chuyên về Huyền đạo. Nhân đó đâm ra khích bác nhau.

Rõ ràng là đồng minh trong Triết lý mà cạnh tranh trong Tôn giáo.
Vì vậy cần thiết phải nhắc lại để quy định cái hướng học hỏi của chúng ta. Trên ta thấy có bốn nấc của nghĩa chữ Đạo chữ Giáo, thì trong việc học hỏi ta cũng có thể chia ra bốn nấc tương đương.
1) Đợt cuối cùng phải kể đến là đám Danh học, Hình học mà người tiêu biểu là Huệ Thi với câu phê phán của Tuân Tử: “ Huệ tử tế u từ nhi bất tri thực”. Huệ tử vướng mắc ở lời nói nên không nhìn ra thực tại. Phải xếp vào hạng này các thứ học từ chương, huấn hỗ, những người chuyên về văn nghệ duy mỹ dễ bị cái tội tế ư từ này, Tây Phương kêu là Duy từ ngữ (terministers). Đấy là cái học của “loài ve, kêu suốt mùa hè, đến lúc gió lạnh thổi, nguồn cơn thật bối rối”, bởi vì xem vào sở học thì toàn hư từ rỗng tuếch. Với họ cần nhắc lại khẩu hiệu “ từ đạt nhi dĩ hĩ ” (res et non verba: cốt sự mới quan trọng chứ không phải là hư từ).
2) Đợt trên một chút có thể xếp hạng học Duy tư, Duy niệm (conceptualistes) mà Khổng cho là “ tư nhi bất học tắc đãi ”. Suy tư suông mà không thực học (ý nghĩa chữ học của Khổng) thì nguy lắm. Đấy là cái học mọt sách, chỉ chú ý học mà không chịu xem cái học đó có hướng đến cái gì ơn ích chăng, thật không ăn nhằm chi với Đạo Nhân sinh của thánh hiền, mỗi lời nói ra là để cứu dân khỏi cảnh lầm than cơ khổ.
3) Đợt cao hơn chút nữa là bám lấy một Tôn giáo tư riêng, rồi lấy danh từ lý sự mà tranh hơn tranh kém, đạo này cao đạo kia thấp. Khổng Tử trách Tử Cống phí thì giờ so sánh ông này thấp ông kia cao (Tử Cống phương nhơn… XIV. 31). Những con Đạo này càng đông thì bầu khí bất Tương dung càng trở nên ngột ngạt nặng nề, chỉ cần xem chính bản thân của họ: cuồng tín, hẹp hòi mà hết muốn xét tới cái Đạo của họ giữ. Vì với hạng đó thì đạo nào cũng chẳng làm họ trở nên đại độ bao dung được ( phi đạo hoằng nhơn ).

Lục Cửu Uyên than:

Đạo Lớn bị người làm nó ra Nhỏ

Đạo Công tự người làm nó ra Tư

Đạo Rộng tự người làm nó ra Hẹp”
Đạo Đại nhơn tự Tiểu chi

Đạo Công nhơn tự Tư chi

Đạo Quảng nhơn tự Hiệp chi

Mấy thứ đạo câu chấp nhỏ nhen đó mà người tri thức để cho ngoai ra ở đâu thì có ngày chiến tranh Tôn giáo bùng nổ ở đấy.



Chúng ta nên trung thành với Truyền Thống mà coi óc bất Tương dung như dấu chứng những người đó không đủ khả năng cảm nghiệm được tinh thần của Đạo. (L’intolérance est considéré comme une inaptitude à l’expérience religieuse. Herbert, 92).

Lão Tử nói “Tri Thường Dung”. Người biết được đạo Thường Hằng thì có bụng Bao dung. Bởi cái Đạo đó đã đạt tới cái độ Viên Mãn mênh mông, không còn bị lệ thuộc vào những cái nhỏ nhen câu chấp.

Chúng ta phải cố gắng đừng để vướng mắc vào một trong những lối học ở trên dù là từ hay tư hay giáo, vì tất cả sẽ làm cho hết còn thấy thực chất của Đạo “tế ư Từ, tế ư Tư, tế ư Giáo nhi bất tri Thực”. Học kiểu Văn nghệ sĩ, Văn học (từ) Tôn giáo (Phật giáo, Lão giáo) đều không phải Triết lý nên dễ mắc ứ đọng.

Muốn tránh những bế tắc đó, muốn có thể “hoằng đạo” : làm cho cái đạo ta theo trở nên rộng lớn, thái công, bao la thì cần chúng ta phải đem hết chú ý nhằm vào đối tượng của Minh Triết là Tính và Mệnh.

Gắng sức nhấn mạnh vào Tính lý Đại đồng và tính chất bổ sung trong phương tiện.

Xin trích câu nói của Tôn Hoàng Đế (1163-89) rằng:

Dùng Phật giáo mà trị Tâm; dùng Đạo giáo mà trị Thân, dùng Nho giáo mà trị Thế.”

Điều này tuy đã bàn ở trên, nhưng vì khuynh hướng đi trật đường hãy còn rất mạnh, nên xin nhắc lại đối tượng đó, đối tượng của Đạo của cái Đức thiết yếu để đắc Đạo bằng một đoạn văn khác của sách Trung Dung.



Đức đó là Thành là Trung, Đạo đó là Tâm là Tính.

Vì thế mới nói “Doãn chấp kỳ trung: 允 執 其 中 ”. Phải tín Thuận, phải Trung với cái Tâm của mình trước nhất. Chu Hy giải thích chữ Trung là “ tận kỷ chi vị trung : 盡 巳 之 爲 中 ”. Trung là sống cho tận cùng cái Kỷ, hiểu là Đại ngã Tâm linh nơi mình. Creel dịch rất sát là “ to be true to the principles of our natures”, sống trung thực với những nguyên tố cấu tạo nên Bản tính chúng ta.

Chữ Trung ở đây lót bằng chữ Tâm nó đứng trên chữ Tình mà dưới chữ Tính. Với Tính ta phải dùng một động từ khác là Thành. “Duy thiên hạ chí Thành, vi năng tận kỳ Tính: 唯 天 下 之 至 誠 爲 盡 其 性 ” (T.D. 22), chỉ có bậc chí thành mới hiện thực hết được cái Tính. Chữ Tận đây dịch là biết chưa đủ, phải có một động từ nào nói lên sự biết toàn vẹn đến nỗi Chủ tri và Thụ tri trở nên một. Chữ Tận “ 盡 “ giống như chữ suất trong câu “ suất tính chi vị Đạo: 率 性 之 爲 道 ”. Muốn nhấn mạnh cái trình độ Trung đến cực điểm, để không còn chỗ nào so le trống hở, đến nỗi cả hai biến thành một đó, chúng ta nên viết hai chữ “ Trung Thành : 誠 “ bằng chữ hoa, để phân biệt với những chữ thành chữ trung khác. Các chữ đó dầu khi có đối tượng chân chính đi nữa cũng mới chỉ là “phó sản” của chữ Thành chữ Trung trên, bởi vì chính nó mới chỉ là sự trung tín với lời nói nọ, với việc làm kia, thành thực đối với Đạo này, người nọ tuy bấy nhiêu có thể là chân chính, nhưng đấy cũng mới là những đối tượng tư riêng, chỉ có giá trị khi hướng theo đối tượng của hai chữ Thành, Trung viết lớn, vì ở đây nó nhằm vào tính phổ biến, nên người đã “ Chí Thành: 至 誠 “ thì cũng trở nên một với phổ biến không còn bị lệ thuộc vào cái chi tư riêng nữa nhưng trở nên bao la man mác đến nỗi sách Trung Dung cực tả bằng câu “ Chí Thành như Thần :至 誠 如 神 “ (T.D. 22).

Bậc Chí Thành thì giống như Thần nghĩa là mênh mông u áo có đấy mà cũng có đây: khắp hết y như Trời nên gọi là Thiên Đạo “Thành giả Thiên chi Đạo dã : 天 之 道 也 ” (T.D 20). Bậc Chí Thành là Thiên Đạo khác hẳn với những cái thành tư riêng đã nói trên vì ở đó chưa có sự hòa đồng. Giữa Đạo với Người thành còn một khoảng cách, chưa đạt độ Tận kỳ Tính; muốn nối lại phải thêm chữ Chi để chỉ thuộc về “ Thành chi giả, Nhơn chi Đạo : 誠 之 人 之 道 也 ” (T.D. 20), người đã có lòng thành (chưa hẳn là Thành) thì mới là Nhơn đạo. Chữ chi ở đây trỏ vào một cái thân ngoại vật “ hay nói theo danh từ triết Tây là đối tượng : objet, chỉ một vật gì đã vất ra đấy “jectum” ở đàng trước mặt ob (objet), nghĩa là giữa mình và vật có một quãng cách, sách Nho gọi đó là “ Khúc: , nghĩa là đã bị xa lìa cong vạy nên gạt xuống bậc nhì và dùng một động từ có tính cách rất “ hiện sinh : 現 生” là “Hữu : ” mà chỉ thị y như G.Marcel trong Être et Avoir (avoir là có cái gì còn Être là trở nên cái gì).

Vì thế Avoir kém hẳn Être. Avoir est décrit comme déchéance de l’Être, comme une non coincidence avec l’Être. Tramf. 4, p.124), thì đây Trung Dung cũng cho Hữu vào bậc thứ nhì sau Thành “ kỳ thứ trí Khúc, Khúc năng Hữu Thành: 其 次 致 曲, 有 誠 ”, sau hạng Thành thì đến hạng Khúc, hạng Khúc có thể chiếm lấy (avoir) được Thành (T.D. 23). Chiếm lấy là tỏ ra mình chưa là (Être) cái ấy, mới phải tìm cho có. Học giả Couvreur đã dịch câu trên rất sát bằng tiếng La Tinh: quod non est rectum potest accipere integram bonitatem “une nature défectueuse peut devenir parfaite”. Câu tiếng Pháp không sát bằng câu La Tinh vì chữ accipere có nghĩa chiếm lấy, nên mạnh mẽ hơn chữ devenir, tuy vậy còn giữ đủ ý và cũng giúp cho ta hiểu câu “ tu Đạo chi vị Giáo: 道 爲 之 ” ở đầu chương. Tác giả sách Trung Dung lại quảng diễn thêm “tự Thành minh vị chi Tính. Tự minh thành vị chi giáo : 自 誠 明 爲 之 ,自 明 誠 爲 之 ” (T.D 21). Tự nhiên mà Thành thì gọi là Đạo, hợp với câu “ Suất Tính chi vị Đạo: 率 性 之 爲 道 ”, nhưng lúc Tính đã bị che khuất đi phải soi sáng phải minh giải mới hiểu ra để mà thi Hành thì gọi là Giáo ( tự minh Thành vị chi Giáo), cùng nghĩa với câu “ tu Đạo chi vị Giáo” ở trên. Một ý mà nói nhiều kiểu giúp ta thưởng thức được làn tư tưởng tuy nhất quán nhưng rất phong phú và sâu thẳm, cả hai câu đều nói lên Thành giả: :Être, Thành chi giả: 誠 之 : Avoir. Avoir không bằng Être. Thành chi giả không bằng Thành giả. Vậy cần phải xóa bỏ chữ chi đi, dĩ nhiên không phải trong câu văn, nhưng trong bản thân của mình. Điều đó sẽ có nghĩa là phải xóa bỏ mọi quãng xen kẽ, nghĩa là tẩy trừ những cái tư riêng môi giới, những cái đó có rất nhiều, đội lốt muôn vàn tên nhưng quy ra hai mối là Tham dục hay Tư lợi Tư dục.

Cần phải bỏ những cái Tư đó mới tới chỗ Đồng nhiên của nhân loại, mới mong kiến Tính ( 見 性 ) và suất Tính ( 率 性 ). Chữ kiến Tính cũng là Suất Tính “ . “ Trong ống nhòm đổ tiếng Hư vô” (Nguyễn Công Trứ)

Chữ kiến Tính của nhà Phật, chữ Xuất Tính của nhà Nho. Tuy tên gọi có khác nhau, nhưng xét đến chỗ rốt ráo cùng cực (trong ống nhòm) tức là xem vào chỗ tập trung then chốt thì cũng cùng một tên đều phải đi qua một con đường Hư vô. Hư vô ở đây có nghĩa là làm cho mất đi, biến đi những cái gì tư riêng hạn hẹp.



Phật sẽ đưa ra thuyết Thái hư với những phương châm diệt dục để diệt tận gốc rễ những tư dục làm cho hiện diện “Như Lai ” tinh ròng như chưa bị tì ố, đó là cái tính Bản nhiên linh diệu. Còn Khổng lăn lộn vào đời mà cũng hiện thực được bốn bước vô (IX. 4) “Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã”, nghĩa là cố trút những cái tư riêng có thể cản ngăn hay bẻ quặt sự Thành Trung của mình vào nẻo ngang trái, để đưa đi Trung Thành với những cái đâu đâu mà không phải Trung với Tâm và Thành với Đại Ngã tức là Tính. mà Tính ( )với Mệnh ( ) với Thần ( ) là một… tất cả đều trỏ vào một thực thể u thâm nhưng lại cực kỳ quang minh linh diệu và ở ngay trong thâm tâm của ta.Tất cả chương trình cùng mọi phương tiện học hỏi đều phải thiết tha nhằm vào việc làm sáng tỏa ra cái đức Minh đó. Đấy mới thật là cửa của Đạo học mà Kinh Dịch nói là: “ Thành Tính tồn tồn, Đạo nghĩa chi môn: 誠 性 存 存 道 義 之 門 “
J.- TRUYỀN THỐNG

I.- Truyền Thống bên Đông Phương

Và bây giờ chúng ta trở về với dòng Truyền Thống bên Đông Phương. Nơi đây chúng ta sẽ gặp những khó khăn khác hẳn chứ không phải do sự thiếu sách vở. Ngược lại là khác. Giáo sư Glasenapp đã tính ra bộ Tam tạng của Tiểu Thặng có đến 27 triệu chữ (quyển Bible của Kitô giáo 3 triệu chữ), Đại Thặng trong bản in bên Nhật 1927 có tới 40 triệu chữ làm thành 55 quyển lớn. Mật Tông bên Tây Tạng có tới 50 ngàn quyển và ông thêm “véritable océan inmensurable” Mystère Bouddhiques p.52. Ấy là chưa nói tới Ấn giáo, Lão giáo, Nho giáo. Tất cả làm nên cái rừng già mà nhiều học giả gọi là “Đông Phương sâu thẳm huyền bí” chứa chấp biết bao danh hoa dị thảo.

Nhưng chính sự phong phú đó rất dễ làm lạc lõng các nhà nghiên cứu và hầu hết bị cái nạn để Cây che mất Rừng, để cái Dị biệt tiểu tiết che mất Chính sự.
Riêng về Nho giáo có một điều cần ghi chú tức Thời ở Đây, là Truyền Thống không nằm tản mát đó đây thiếu liên hệ, nhưng được kết vào thành một Cơ cấu uyển chuyển được biểu lộ không những bằng Lời nói (Từ) nhưng bằng cả Tượng, Số, Chế nữa (xem giải rộng ở quyển Chữ Thời). Do đấy một chân lý muốn được kể là của Truyền Thống phải đủ khả năng trải qua bốn chặng thử thách đó mà không sứt mẻ mới được công nhận.

Như thế có thể nói nó còn minh xác gấp bốn lần hơn Triết học cổ điển và bởi vậy rất khó mà cưỡng bức bắt bản văn phải nói theo ý mình, để gán cho người xưa những tư tưởng riêng tư rồi tuyên bố là Truyền Thống như nhiều người e ngại.
Sau này độc giả sẽ nhận ra Cơ cấu đó khi đọc quyển Chữ Thời. Tuy nhiên Cơ cấu đó rất linh hoạt và ẩn sâu nên dễ khuất mắt. Nhưng chịu tìm tòi thì sẽ lần ra manh mối.

Như thế nỗi khó khăn của chúng ta không ở chỗ thiếu sách vở lưu truyền hay ở chỗ giải nghĩa tán tự. Nếu có chẳng qua là đối với chúng ta không đủ trang bị để đọc mà thôi.


Tuy nhiên, điều đó không chước chuẩn chúng ta phải suy tư sáng tạo. Vì đấy mới chính là điều kiện tiên quyết của dòng Truyền Thống chính tông.

Phải “ Tổ thuật Nghiêu Thuấnchứ không được lặp lại y nguyên.

Phải từ lời nói người xưa đã hiểu một cách trung thực, nói lên được những điều ẩn tàng bên trong, phát kiến ra những khả năng giàu chất sáng tạo, thế mới là Tổ thuật, thế mới là Truyền Thống.

Cái khó của chúng ta nằm ở chỗ đọc đi như một Triết gia chứ không ở chỗ đọc lại như một Học giả, điểm này thì dễ vì sách vở chúng ta không bị thất lạc quá nhiều như đối với Văn hóa cổ Hy Lạp.

Tuy nhiên, không phải là chúng ta không có khó khăn trong việc gây lại Truyền Thống.
Khó khăn lớn nhất nằm trong chỗ mất tin tưởng vào những giá trị của Truyền Thống.
Vì từ lúc Khoa học thực nghiệm tiến mạnh thì mọi giá trị Truyền Thống bị coi rẻ.

Trào lưu đó phát xuất trước hết từ Âu Châu rồi lan tỏa ra các xứ thuộc địa.

Tuy nay có khuynh hướng đi ngược lại nhưng nói chung ra, khuynh hướng này vẫn còn mới lạ nên ở những nước vừa thoát vòng nô lệ như nước ta, thì Văn hóa vẫn còn bị nhiều ấn tích của thời lệ thuộc chính trị. Nên lúc đó nói đến Truyền Thống thì lại không đưa vào đó một Tâm não thanh thản để tìm hiểu, mà luôn canh cánh bên lòng một mớ giá trị của Tây Phương với những phạm trù cá biệt của họ, là những cái dễ che khuất mắt không thấy được Truyền Thống chân thực.

Thành ra bất cứ nói về cái chi chi, về biện chứng Kinh Dịch chẳng hạn, cũng phải cố gắng xem có hợp với của Hegel mới dám chắc bụng; về Danh lý có hợp với Descartes, về Biến dịch có hợp với Bergson mới d ám cho là thật.

Có ngờ đâu rằng nếu những thứ đó có giá trị chân thực thì theo tuột họ cho khoẻ, cần chi phải bận tâm tìm lại Truyền Thống cho thêm mệt.

Vì thế khi tìm lại nguồn Truyền Thống phải cố gắng đem vào một Tấm lòng thanh vắng không cần để ý đến Đông Tây, Nam Bắc chi cả, chỉ cốt làm sao nghe được cái Thiên lý từ tâm hồn của mình mà thôi

Nếu có cần một hai nguyên lý của người xưa để lại thì cũng phải xét trên tỷ xích Nhân loại, như chúng ta sẽ bàn ở dưới về nội dung Truyền Thống.

Ở đây tưởng cần nhấn mạnh rằng Truyền Thống không phải là chuyện sĩ diện chi cả, không phải là chuyện khoe mẽ, nếu các ông có Descartes, Hegel, Bergson thì chúng tôi cũng có Khổng, có Mạnh, có Kinh Dịch kém chi. Hoàn toàn không phải như thế, nhưng là chuyện quan thiết đến Vận mệnh của toàn thể Nhân loại.

II.- Truyền Thống với sự tồn vong của Nhân loại

Dòng Truyền Thống Tâm linh là một điều thiết yếu cho sự tồn vong của Nhân loại chứ không phải chuyện có thể coi thường.

Bao nhiêu luồng tư tưởng đã làm ơn ích cho đời là nhờ tiếp thông với nguồn Suối đó. Ơn ích nhiều ít tuỳ mức độ tiếp thông nhiều ít. Càng nhiều càng ơn ích nhiều, càng ít ơn ích càng kém đi. Tôi không nói là mất hẳn, vì Truyền Thống không thể tiêu diệt, nếu không được vun tưới công khai nó cũng ngấm ngầm tác động qua Lương tri và Thói tục, qua Tôn giáo…

Những cái học bật rễ hẳn với Truyền Thống, tuy có làm rùm beng chứ không thể xây đắp cái gì bền bỉ, mặc dù thiện chí sáng tạo có thừa chẳng qua cũng đổi thay được ít nhiều ở Danh từ, ở đợt Văn nghệ là đợt thuộc dạng thức cần phải đổi mới luôn.
Tuy thế hễ “ Rễ không sâu thì Lá không xanh ” bất kỳ ở đâu đều theo luật đó.
Hãy lấy thí dụ Triết lý mà nói thì kể từ thời Trục về sau chưa thấy có cái gì mới mẻ trái với Truyền Thống lại có thể gây nên một luồng gió mới thổi sức sống cho đa số của một nhóm người.

Trái lại như Nietzsche nói “tất cả những tay đổi mới cự phách đều bệnh hoạn và loạn thần kinh không trừ một đứa nào”. “Les grands novateurs sont tous sans exception malidifs et épileptiques” (V.P.345).

Khổng Tử viết: “ Tư nhi bất học tắc đãi ”. Suy tư mà không học với Truyền Thống cũng gọi là cái học thánh hiền thì là nguy cơ.

Chúng ta không nên tin vào những bản tuyên ngôn long trọng với một thiện chí tinh ròng. Thiện chí tuy là điều kiện cần nhưng chưa đủ, chưa phải là bảo đảm sẽ đưa lại hạnh phúc, nên thiện chí mới là một phần, còn ba phần nữa là Giải pháp và Tư tưởng dẫn Đạo với Đường lối áp dụng.

Cần phải xem những cái đó có hợp với yếu tố Tâm linh hay chăng, mới là Truyền Thống

Karl Marx cũng mang nặng một tình thương bao la với đám thợ thuyền Âu Châu thế kỷ 19 mà thánh Gandhi cho là chưa đâu loài người sống khốn khổ bằng.

Ông muốn đưa lại cho họ giải phóng. Lòng thiện chí đó không ai chối cãi được, nhưng thuyết của ông vì chứa chất giết Người, nên đã gây nhiều trại Tập trung hơn hết các thuyết khác, ấy cũng vì thiếu chất Tâm linh.



Cho nên xem lịch sử Nhân loại hơn hai ngàn năm nay chúng ta thấy loài Người chưa thể lìa xa những giá trị Truyền Thống.

Giáo sư Merleau Ponty viết một câu rất chí lý: “nhất là chúng ta không được bật rễ vì nếu phạm lỗi đó thì sự trống rỗng sẽ lôi cổ chúng ta trở lại sự thật chính tông bằng một tác động đau đớn”. Mais surtout nous ne devons pas nous déraciner, si nous commettons cette faute, c’est le nihilisme qui nous ramènera par une opération douloureuse à là vérité authentique” (Les Philosophes célèbres).


Kinh nghiệm lịch sử cổ kim đó giúp ta hiểu tại sao các bậc tiên hiền như “vạn thế sư biểu” hay là “đại bổn sự Phật” đáng được tiền nhân ta tặng cho những danh hiệu ấy là bởi vì các ngài đã trung thành với Truyền Thống.

Khổng Tử với câu “tín nhi hiếu cổ, thuật nhi bất tác”.

Lão với câu “chấp cổ chi đạo dĩ ngự kim chi hữu: cầm giữ đạo xưa để thống trị những cái hiện hữu ngày nay.

Còn Phật Tổ cũng có tên là Như Lai: Tathagata. Ông Humphreys chú thích chữ đó do Tatha-agata: “đến như thế”, hay là Tatha- gata: “đi như thế”, nghĩa là một vị đã Đến và đã Đi khỏi như các Phật thủa trước, tức là cùng dạy một chân lý, một con đường để tới đích (AB Manual p.179).

Học giả Coomaraswami chú thích: “giới răn thứ mười của Phật dạy lánh các sự tin rối như tin rằng Phật Tổ đã dạy một đạo lý mới” (Hindouisme et Boudhisme p.132).

Platon: “những người xưa trổi vượt hơn ta, đời sống các ngài gần Chúa hơn, các ngài đã lưu truyền lại Chân lý cho ta như một mặc khải (Philèbe 16).
Xem như thế chúng ta có thể rút ra nguyên tắc sau đây:

Truyền Thống là một kho tàng chứa đựng những Chân lý thiết yếu cho sự sống còn và sự tiến triển của con người. Lìa xa nó con người thoái hóa và bị khủng hoảng; móc nối lại được với nó là đi vào đường dẫn đến nguồn Sinh lực, dẫn tới suối Tinh thần.

Sứ mạng người trí thức ở mỗi thời đại là phải đem một Trí tuệ thông minh vào sự học hỏi Truyền Thống để từ đó triển khai ra những khả năng phong phú và được thích nghi với thời đại của mình.
Muốn hiện thực điều đó trước tiên chúng ta cần tìm hiểu nội dung khái quát của Truyền Thống.

III.- Nội dung Truyền Thống

Để quy định phần nào Nội dung Truyền Thống chúng ta sẽ đưa ra hai tác giả theo chiều hướng từ Xa đi vào Gần.


Trước hết là Toynbee đại diện cho cái nhìn bao trùm 27 nền Văn minh mà loài người đã biết được trong đó có 5 còn tồn tại. Tất cả mọi tìm tòi nghiên cứu của ông kết tinh trong quyển “An Historian’s approache to Religion”. Ở trang 263, Toynbee có tóm những điều chung cho các Tôn giáo trên hoàn cầu vào ba điểm của Truyền Thống như sau:
a) Mọi Tôn giáo đều nhận có một Thực thể Huyền bí cao hơn thế giới của các giác quan ta.

b) Thực thể đó siêu vượt con Người hiện tại, và người ta cần phải cảm thông với.
c) Con người chỉ làm được chuyện đó khi trút bỏ được khuynh hướng tự nhiên cho mình là Trung tâm (self-centreness native).
Người thứ hai là Aldous Huxley. Cái nhìn của ông có tính cách đúc kết hơn xét cả về không gian cũng như thời gian. Ông chú ý đến Đông Phương hơn. Do đó cái nhìn trở nên xác thiết hơn đối với chúng ta. Ông đưa ra 4 điểm sau để làm nền móng cho Triết lý Truyền Thống.



a) Thế giới Hiện tượng của Vật chất và Ý thức cá nhân (tức là thế giới của sự vật, của loài người và cả thần tiên) là sự xuất lộ của một Bản Thể thần linh. Chính nhờ Thần linh đó mà muôn vật được hiện hữu thực sự, ngoại giả không vật nào có thể có sự hữu được.
b) Con người không những có khả năng hiểu biết về Bản Thể thần linh đó bằng suy luận mà còn thể nghiệm được sự hiện hữu của Bản Thể ấy bằng Trực giác, là lối biết cao hơn lối biết bằng Suy luận. Vì cách biết trực nghiệm này thống nhất Năng tri với Sở tri thành một (sujet objet coincident).
c) Con người có một bản chất hai chiều: một chiều là cái Tiểu ngã hiện tượng, chiều kia là Đại ngã bất biến nó là con người Nội tại, Tâm linh, là tia sáng thần linh trong tâm hồn. Nếu muốn, người ta có thể đồng hóa với Tâm linh vì như vậy là đồng hóa với bản thể Thần linh cùng một Thể tính với Tâm linh (chí thành như Thần).
d) Đời sống con Người trên mặt đất này chỉ có một Mục đích, một Cứu cánh tức là sự Huyền đồng với Đại ngã bất biến và như vậy là sửa soạn đi tới cái biết kết hợp với Bản thể Thần linh (B. Gita de Prabhavananda tựa, trang 7).

Ông A. Huxley cũng còn là tác giả quyển La Philosophie éternelle rất có giá trị mà tôi coi là một bản tóm tắt cách thông minh tinh thần Truyền Thống (édition Plon 1952).

IV.- Tổ thuật Nghiêu Thuấn

Sau khi đã biết nội dung Truyền Thống với những nét cốt yếu là Nhân bản và Tâm linh thì chúng ta đã có được một tiêu chuẩn để tìm về Nguồn. Trong việc trở lại này ta có thể nhận những Hướng đạo viên khác nhau. Riêng ở Viễn Đông ta có Khổng, Lão, Thích. Ở đây xin chú ý đến Khổng, cũng là một người đã đi tìm Truyền Thống và đã để lại lối đi bằng câu Tổ thuật Nghiêu Thuấn.

Truyền thuyết nói rằng: bà Hoa Lư đạp phải lốt chân Người to lớn ở Lôi Trạch mà đẻ ra Phục Hy là Người đã được khải thị cho Hà Đồ, nên cũng là “tác giả” Kinh Dịch truyền lại cho Thần Nông và Thần Nông truyền lại cho con cháu trong đó có Nghiêu Thuấn. Ông Nghiêu được đời sau xưng tụng là Thánh nhân và trở thành một vòng trong chuỗi Truyền Thống với câu nói bất hủ khi truyền ngôi cho ông Thuấn rằng:
Tư, nhĩ Thuấn: Thiên chi lịch số tại nhĩ cung.

Doãn chấp kỳ trung.

Tứ hải khốn cùng


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương