VấN ĐỀ giáo dục chúng tôi viết Bài này để Kính nhớ ngày Giổ thứ 1



tải về 6.6 Mb.
trang3/29
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích6.6 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29

Sinh viên ưa phê bình, thích đặt hết mọi vấn đề, đó là dấu hiệu tiến bộ cần được khuyến khích. Vậy chúng ta sẽ đặt lại vấn đề về lối làm việc sau đó đến mục phiêu của Đại học sao cho xứng danh Đại hoc (theo danh lý thì xét mục phiêu trước hợp lý hơn, nhưng theo lối giáo khoa bàn về lề lối làm việc là điều cần còn mục phiêu vì không ở cả trong quyền chúng ta nên đặt sau.)

3.- Sự khác biệt của Trung và Đại học

Ai cũng biết rằng Trung học là cấp bậc thâu nhận những kiến thức phổ thông có tính cách bách khoa, ngược lại Đại học đi và chuyên môn một ngành để có thể đào sâu. Từ sự khác biệt căn bản đó mà đường lối làm việc cũng phải khác nhau.

Trung học việc chính là thâu thái các kiến thức của nhân loại đã sở đắc, người ta không có quyền chờ đợi ở cấp Trung học những khám phá mới. Sự tìm tòi cố gắng tuy có rất nhiều nhưng là hướng vào việc tìm biết (s’informer) nhằm Bác học và Quảng văn.


Còn Cao đẳng cũng mới là bước sửa soạn vào Đại học, nên là gạch nối giữa Trung học và Đại học, khác ở chỗ Cao đẳng tuy cũng thâu nhận kiến thức nhưng đẩy đến mức độ hoàn bị có thể hiện thực được, chẳng hạn như kỹ sư, sư phạm.
Bước lên Đại học thì vai trò đổi mới, ngoài việc chuyển đạt kiến thức mà nhà trường vẫn tiếp tục và đẩy đến mức độ cao nhất, thì Đại học phải đảm nhiệm thêm một trọng trách khác: đó là khám phá, phát minh, sáng tạo thêm cái mới.
Sứ mệnh Đại học là bằng cách này hay cách khác làm gia tăng Di sản Tinh thần của một Dân nước, của cả Nhân loại.
Nếu mục phiêu Trung học là truyền bá, bảo tồn, duy trì và Cao đẳng là thực hiện, thì Đại học phải tìm kiếm thêm những tri thức mới, phát kiến ra những năng lực còn tiềm ẩn trong con Người hay Sự vật, phải cố gắng nới rộng mãi vòng chân trời của tri thức, làm phong phú thêm di sản của con Người và nhất là làm cho chúng trở nên sống động nhịp theo thời đại.
Đó là một sự phân công thường bị quên đi, nên cần rút ra một hai hệ luận.
Trước nhất vì Trung học là Bảo tồn, là Truyền bá thì sự trung thành với chương trình là điều bó buộc.
Ngược lại ở Đại học giáo sư lại được dành cho rất nhiều Tự do để quy định Nội dung chương trình của những bài ông giảng huấn; có khi giáo sư phải đi ngược hẳn lại khi nhận ra đấy là điều kiện thiết yếu cho những Bước tiến vượt bậc như phản lực cơ với phi cơ cánh quạt.
Nếu bắt giáo sư phải mãi mãi trung thành với cánh quạt thì làm sao có được phản lực cơ? Đành rằng như vậy là mở cửa cho phiêu lưu, cho lầm lạc, nhưng miễn là có phương pháp thì những phiêu lưu ấy mới gây cho Đại học bầu khí sinh động tự cường giàu óc mạo hiểm.
Nên nhớ là giáo sự Đại học không phải chỉ có Chuyển giao tri thức đắc thủ là hết việc: nhưng còn phải đi tìm những Phương trời mới mẻ.
Đã gọi là tân kỳ thứ thiệt, thì giả thiết là chưa ai thấy mặt mũi, bộ dạng nó ra sao, vậy thì so với cái chi mà bảo là “lầm lạc”. Cái gọi là lầm lạc có thể chỉ là những giả thuyết làm việc, nên những lầm lạc đó giàu tính chất màu mỡ (fertile) biểu thị một tình trạng hăng say trong Đại học, cái đó mới đáng quý và có giá trị vượt xa lòng trung thành với chướng trình ngồi ôm mớ lý thuyết của người xưa.

Còn tránh những phiêu lưu vô lối là chuyện thuộc nhân sự. Đó là việc chọn người có khả năng thì đấy là trách nhiệm thuộc nhà hữu trách chứ không trong phạm vi triết lý.


Nếu ở Trung học người ta quen đánh giá ông thầy qua Tài giáo khoa chứ không qua Nội dung chương trình vì đã do bộ định đoạt và do thủ bản trình bày sẵn: ông có thay đổi cũng là trong vòng sắp xếp nào đó cho sáng sủa theo ý nghĩ của ông.
Ngược lại với giáo sư Đại học không nên áp dụng tiêu chuẩn đó nữa, tuy tài Giáo khoa cũng vẫn quan trọng nhưng so với Nội dung chương trình giảng dạy của ông thì chỉ đáng 1, 2 phần, đang khi Nội dung chiếm đến 8, 9 phần.

Giáo sư ở Trung học có hay cũng là hay cho học sinh của ông, hay trong phương pháp, ngược lại giáo sư Đại học nếu hay thật thì phải xét về nội dung: do đó ảnh hưởng của ông có thể vượt trường ốc để lan rộng xa ra ngoài, có khi qua nhiều thế hệ, như trường hợp Khổng Tử được tôn là vạn thế sư biểu chẳng hạn.

Đôi khi ta nghe sinh viên khen giáo sư nọ kia vì nói gì sinh viên cũng hiểu được. Đành rồi vậy là hay, nhưng nếu cái hay chỉ có bấy nhiêu thì còn chi nữa là lý tưởng Đại học.



Hiểu được mới quan trọng một phần, còn chính cái hiểu được có Hướng đi đâu và liên hệ thế nào với Nhân tâm Thế đạo, Vũ trụ nhân sinh, tTền đồ đất nước…… mới quan trọng gấp 8, 9 lần. Lý tưởng Đại học nằm trong đó, chứ không trong chỗ hiểu được hay không hiểu được.

Ngoài chợ Cầu Muối ồn ào như ong vỡ tổ mà trăm vạn lời nói ra cho người cần nghe đều được hiểu hết. Nếu chỉ đánh giá theo hiểu được thì chợ Cầu Muối dám cao hơn Đại học lắm đó. Vậy thì hiểu được quan trọng 1, 2 lần mà nội dung cái hiểu được mới quan trọng 8, 9 lần. Học sinh không buộc biết, nhưng sinh viên phải ý thức điều đó.

4.- Tính chất của Đại học

Nói lên mấy nhận xét này để sinh viên tập nhận thức ra tính chất của Đại học, nghĩa là không còn coi mình như một người thụ động chỉ việc theo lớp ghi cho đúng, nhưng phải coi mình như người học giả đi tìm tòi, đi khảo cứu dưới sự hướng dẫn của giáo sư.



Phải đặt lại vấn đề, phải biết nghi ngờ cả ông thầy, tuy hầu hết chưa thể hơn ông thầy hoặc tìm ra được cái gì mới mẻ, nhưng đó chưa phải là điều quan trọng, điều quan trọng là phải biết nghi ngờ, vì đấy là bước đầu để trở nên người phát minh (“Le douteur est le vrai savant”. Cl. Bernard).

Vậy giáo sư cũng như sinh viên phải bỏ lại ngoài ngưỡng cửa Đại học lòng sùng tín chấp nhận vô điều kiện để thay vào đó một bộ óc thắc mắc, một sự khó tính yêu sách và chỉ chấp nhận khi có bằng chứng xác đáng, minh bạch.

Vì thế điều phải tránh trước tiên là lối học tủ, ghi âm cho trúng để thi cho được. Không ai cấm việc muốn thi được, nhưng nên tìm điều đó qua lối học tự Sáng tạo, tự Tìm tòi, Cố gắng để trở nên một người có khả năng đóng góp vào Di sản Tinh thần của Tổ quốc.

Vì vậy một kết luận cụ thể là nên cố gắng đi nghe giáo sư mới dễ hiểu rõ tinh thần. Cours in ra đã mất đi bao nhiêu phần sống động tế vi, là những cái chỉ biểu lộ phần nào qua giọng nói dáng điệu, nhất là môn Triết.
Vì triết học có hai điều khó, trước nhất là nó đề cập nhiều vấn đề vượt quá tầm tuổi của sinh viên, nó đòi một mức độ đứng tuổi nào đó, kèm thêm một kinh nghiệm về Nhân sinh ấm lạnh kha khá cao.
Vì hoàn cảnh không cho phép làm khác, nên sinh viên phải bù lại bằng chăm chỉ đi nghe ông thầy.

Một khó khăn phụ trội gây ra cho triết là do khúc quanh của lịch sử: các giá trị cũ đang sụp đổ tơi bời. Tư tưởng nhân loại đang biến đổi mau lẹ, nên có những người tốt nghiệp với mảnh bằng còn chưa ráo mực chữ ký của Viện trưởng mà tư tưởng đã có chỗ cũ rồi.

Vậy chính nhờ lúc nghe giảng mới hiểu ra dần lập trường các tác giả được trưng dẫn, và mới xác định nổi vị trí từng vấn đề.

Đặt vị trí một vấn đề hợp theo hoàn cảnh của mỗi luồng tư tưởng là cái khó nhất nhưng nếu không vượt qua điểm này được thì hy vọng gì đóng góp vào việc gia tăng Di sản Tinh thần.


Đành rằng Triết không phải như bác học nên đọc sách Triết ít khi thấy ghi xuất xứ, là vì đã bay bổng vào suy tư. Tuy nhiên trước khi bay bổng cần có một nền tảng khoa học, một phương pháp làm việc giống với nhà bác học, nói cụ thể là cần phải tìm lấy một Hệ thống fiche nào mình ưng hơn cả để ghi xuất xứ sách vở tư tưởng và ý nghĩ.
Triết học thường vượt qua Phương pháp. Nhưng muốn vượt qua phải biết trước đã, nếu không sẽ lộn xộn. (Nên đọc qua một vài quyển như Travail intellectuel de Sertillange, hoặc Education de la Volonté của Payot nói tỉ mỉ về phưong pháp làm việc.

Quyển “ Cửa Khổng” cũng theo phần lớn lối khoa học có ý giúp sinh viên tập quen phương pháp làm việc có xác thiết, có mạch lạc).


Mấy điều trên đây cần nhắc nhở cho sinh viên ngay từ lúc bước qua thềm Đại học để tránh rơi vào một tai họa mà các bậc thức giả đang than phiền và họ gọi là “journalisme”, tức thứ kiến thức bì phu phiến diện kiểu chuồn chuồn điểm nước, kéo dài mãi mãi trình độ phổ thông Trung học.
Nhiều giáo chức Đại học bên Tây Phương lẫn lộn cả Bình đẳng có tính cách Xã hội, Chính trị với Bình đẳng Tri thức.

Mà thực ra trong phạm vi tri thức làm gì có bình đẳng. Nay nếu muốn bình đẳng hóa cả Đại học tức là đắp ụ trên đường tiến bộ mất rồi “But democracy is a social and political not an intellectual possibility”, lẫn việc Phổ biến với Nội dung của Phổ biến.


Phổ biến là việc của Trung học, tìm ra Nội dung để phổ biến đó mới là việc của Đại học.
Trở lên là ít điểm thuộc về lề lối làm việc ở Đại học. Bây giờ chúng ta bàn đến điểm thứ hai là mục phiêu của Đại học.

5.- Mục phiêu của Đại học



Đại học là gì? Thưa là cái Học To, tiếng Tây kêu là Université có nghĩa là hướng về ( vers ) Một mối ( unité ).

Kiểu nói là hai mà ý nghĩa là một: khi nhiều cái quy tụ lại Một, cái Một ấy tất phải To, phải Đại. Vậy Đại là gì, To là gì?



Thưa đại đây không có ý nói đến đại số lượng hay to thân to xác, to đống to mớ. Đại ở đây có ý chỉ về Phẩm giá, sự Tự lập: nghĩa là khỏi cần phải quy chiều vào cái khác nhưng tìm được lý do Tồn tại ngay trong Bản thân, từ trong Nội tại, hơn thế nữa còn có thể cấp lý do Tồn tại cho nhiều cái khác. Vậy cái gì là Đại theo nghĩa đầy đủ như thế?
Mục phiêu của Đại học chính là tìm ra Mối Đại nền Gốc đó để cho các Kiến thức khác quy tụ chung quanh.
Nhiệm vụ của Đại học là thiết lập ra mối Nhất thống Nội tại bằng cách xác định đâu là Gốc là Đại và nhấn mạnh trên đó để làm Trung điểm cho các cái Học chu vi có nơi quy chiếu.
Sứ mạng của Đại họctìm ra và phát triển đến sung mãn cái điểm xét ra là Đại, để nó chiếu tỏa vào các ngành tri thức và thông cho tất cả Nguồn sinh lực và Tia sáng dẫn đạo. Nói cụ thể là Đại học sẽ chu toàn sứ mạng ngày nào mà những người xuất thân ở Đại học phần lớn trở nên Trung tâm điểm ban phát ra những lời Hướng dẫn cuộc Đời, gây Tươi vui trong cõi Nhân luân, làm rung động những sợi dây Lòng để hướng lên cõi Siêu linh, để đem lại cho đời một Ý nghĩa, để đem lại cho Lân nhân lòng Mộ mến những mối Tình cao cả của Nhân hậu, Dũng cảm, Vị tha, Nồng nhiệt…
Nói theo kiểu tiên Nho thì Đại học là để đào luyện ra Đại nhân, đào luyện nên những kẻ Sĩ nghĩa là những người Ý thức được sâu xa cái Trách nhiệm nặng trên con đường Đạo thâm vin.

Sứ mạng của kẻ Sĩ về mặt Hành động Tế thế An bang, về mặt tri thức là triệt Thượng tới trí tri Tâm linh và triệt Hạ tới bậc Cách vật tới chỗ nhất nghệ tinh.
Ngược lại phải kể là Đại học sa đọa bao lâu chưa tìm ra cái mối Đại đó khiến cho các tri thức chồng chất lại ngổn ngang vì thiếu nơi Quy tụ, bao lâu những người xuất thân ở Đại học ra nếu không bị thác loạn tinh thần thì cũng chỉ thấy đời là phi lý, cuộc sống đáng nôn mửa.
Cái học đó có gọi là Đại học, người xuất thân có gọi là nhà Trí thức đi nữa cũng không làm cho Tâm hồn họ thanh thản, vòng tay họ có mở ra hết cỡ cũng chi ôm nổi Dăm ba cô với một vài Đàn trẻ. Nói đến chuyện Tế thế An bang là hão và chớ đợi ở họ những luồng tư tưởng sáng soi nồng nhiệt thường phát ra từ những Tâm hồn đại độ bao la, và như thế là Đại học sa đọa.

6.- Sự sa đọa của Đại học



Sa đọa vì không tìm ra điểm Đại, ngược lại thành công là tìm ra được để mà vun tưới cái điểm To, cái Đại bổn, cái Căn cơ. Mới hay tìm ra điểm Gốc quan trọng xiết bao.
Vật hữu Bổn /Mạt, sự hữu Chung / Thuỷ. Tri sở Tiên / Hậu, tắc cận Đạo hỹ” (Đại học).
Câu sách cổ đó vẫn còn giữ nguyên giá trị, nhưng ít khi được chú trọng vì thường thường ai cũng nghĩ rằng đã là Đại học thì cái chi chả là Đại, nên không xét tới xem trong từng trăm môn dạy trên Đại học thì môn nào đáng làm Bổn, làm Gốc, làm Đại.

Bởi thế chúng ta phải gắng công tìm hiểu. Để dễ tiến hành chúng ta nên phân ra hai loại Đại học: một là Đại học cấp bậc, hai là Đại học tự thân.

7.- Đại học Cấp bậc và Tự thân

Trước nhất ta cần biết thế nào là Đại học thuộc cấp bậc, và thế nào là Đại học tự thân (en soi)

. Đại học cấp bậc là cấp trên đối với cấp dưới, không có thành vấn đề: toán Đại học cao hơn toán trung học. Xét về cấp bậc thì môn nào cũng có đại có tiểu, nên ý nghĩ hễ đã lên đại học thì cái gì cũng đại cả là trúng ở phương diện này. Nhưng đó mới là chuyện thuộc cấp bậc độ số (degré) có tính cách tương đối: To là đối với Nhỏ, chưa phải là To tự Nội (en soi) nghĩa là trong Bản thể (nature) đã mang theo tính chất quan trọng, đã có sẵn lý do của sự Trọng đại, khỏi cần dựa vào tha vật.


Phân biệt như thế rồi ta hỏi trong các môn dạy trên Đại học, Môn nào xứng đáng làm Gốc, làm Bổn. Trả lời được câu này không những xác định được bản chất Đại học, mà luôn thể Định Hướng được cả nền Triết lý Giáo dục nữa. Vậy thì trung điểm đó là gì?
Xuyên qua lịch sử ta thấy có ba loại trung điểm mà cứ sự nó đã thay thế nhau giữ chức trung ương và ta có thể định tính vắn tắt là Lý giới, Nhiên giới và Nhơn giới.
Ba trung điểm đó thường đi đôi với Pháp trị, Cơ trị và Nhơn trị. Có thể thêm Siêu giới đi với Thần quyền (théocratie) nhưng đó là chuyện thuộc phạm vi Tôn giáo bên ngoài chương trình Triết lý.

Chỉ cần ghi rằng Âu châu thời Trung cổ đi lối Siêu giới.


Từ thời Phục Hưng Đạo Đời ly dị thì đến lượt Lý giới tức Pháp trị: quyền hành nằm trong tay các luật gia. Đây cũng là thời thuận lợi phần nào cho Triết học.
Nhưng bước sang thế kỷ 20 thì quyền hành về tay Nhiên giới với chế độ Cơ trị (technocratie): kỹ sư nắm tay lái và gọi là thời Nguyên tử, tức là dùng khí năng thuộc nhiên giới để định tính một giai đoạn lịch sử. Bầu khí giai đoạn này đang lan tỏa và tràn vào nước ta. Công hiệu ra sao? Chỉ cần xem một ca cụ thể để rồi suy rộng ra.

Anh A yêu cô B quá xá, thế nhưng anh A không thể nào cưới được cô B nữa vì khi bà C hỏi anh học gì, anh tình thực thưa ngay là Văn khoa. Một lúc sau hỏi tiếp môn gì? Dạ rằng Triết. Cái môi của bà C tuy kín đáo nhưng đủ sức tống cổ anh C ra khỏi cổng. Than nỗi chi nữa? Ai bảo nhào vô Triết học, sao không học Dược hay Y ? Thời thế đổi rồi cu cậu ơi! Xưa thì cáng Anh đi trước võng Nàng theo sau. Nay thì xe hơi chàng chay trước, xe đạp nàng theo sau! Thời thế, thế thì phải thế. Đời cơ trị rồi mà! Văn khoa, Triết học còn có nghĩa chi đâu? \


Nhất là Triết học lẽ ra đi với Nhân trị, nhưng bên trời Âu chưa bao giờ Triết nắm được quyền hành đó, phương chi đến thời Cơ trị lại càng xuống giá. Thế là Cơ trị nắm chính quyền và đó là thời đại của ta khi cứ sự mà nói. Và nếu xuôi chuyện thì cứ lý khỏi đặt lại vấn đề nhưng chuyện không xuôi nên mới lại có vấn đề tìm ra điểm Đại cho Đại học, nghĩa là chúng ta phải tìm xem “Cơ trị” đã phải là Đại chưa? Nó đã là cái gì tuyệt đối có lý do Tồn hữu Nội tại của nó hay nó chỉ có ý nghĩa vì một cái khác thí dụ con Người?
Và nếu nó không phải là Đại tự thân, thì nhất định là không tạo nổi mối Nhất quán nội tại (cohérence interne) giữa các Phân khoa mà đó mới là Hồn Đại học, Hồn Văn hóa, Hồn cho Tinh thần đất nước. Và nếu đó không phải là Linh hồn thì tất nhiên nó sẽ dẫn tới tình trạng Tan nát ngổn ngang.
Do đó vấn đề hiện đại là nên Cơ giới hóa con Nguời hay là Nhân bản hóa giới và hiện các nhà giáo dục đàn anh đang bù đầu trước một vấn đề liên hệ mật thiết với câu hỏi trên tức là trong hai giải pháp một là Chuyên môn, hai là Toàn diện phải chọn đàng nào?
Theo giải pháp Chuyên môn thì nhiệm vụ khẩn cấp của Đại học cũng như của nhà giáo dục là phải gắng sức tìm ra càng sớm càng hay cái năng khiếu nổi nhất trong mỗi học trò để mà trau dồi vun tưới cho tài năng đó phát triển tới mức tối đa. Giải pháp này có cái lợi là sản xuất được nhiều nhà Chuyên viên cho mọi ngành hoạt động nên được chấp nhận nhiều bên các nước có óc thực tế như Anh, Mỹ và nhất là Nga.

Nhớ lại năm nào bộ trưởng kỹ thuật Pháp kêu cứu (S.O.S) vì nạn khan hiếm kỹ sư, bởi mức sản xuất kỹ sư kém Nga bốn lần. Lý do?

Pháp chọn lối Toàn diện. Lối này chủ trương nhằm Nhân bản hóa Kỹ thuật, từ đó trọng tâm Đại học cũng như giáo dục hướng vào chỗ cốt làm phát triển đồng đều mọi khả năng trong con Người; đưa tất cả mọi tiềm lực đến một sự nảy nở bằng nhau để tạo nên tâm trạng quân bình. coi con Người trọng hơn Kỹ thuật và đó là lý do bênh vực hữu hiệu cho giải pháp Toàn diện này. Lý thuyết thì rất hay nhưng vì thiếu giải pháp hữu lý nên kết quả rất tệ.

8.- Vấn đề Chuyên môn và Toàn diện

Đây là đại lược: chương trình Giáo dục toàn diện sẽ đẩy thực xa trình độ kiến thức phổ thông. Với giải pháp Chuyên môn thì kiến thức phổ thông thường dừng lại ở đệ tứ xuýt xoát, đàng này đưa tới tú tài II. Giải pháp này có tính tham lam, chương trình chất thật nặng, càng biết nhiều, Văn hóa càng cao và bằng càng có giá trị. Những nước mới thoát nô lệ bị mặc cảm giữ giá cho mảnh bằng theo kịp bắc metro thì còn nặng thêm nữa.
Óc “toàn diện” còn cố leo lên đến Đại học ở năm thứ nhất gọi là Dự bị dùng để trọn vẹn hóa trình độ Văn học: vài Ngoại ngữ, vài ba môn Sử Địa, Văn chương, thêm tí Cổ ngữ. Đến khi vào Chứng chỉ, chừng năm sáu môn với chừng ấy giáo sư. Sinh viên cũng theo đà tham lam mỗi năm ít nhất theo hai chứng chỉ, vị chi là 12 môn với 12 giáo sư. Kết quả: Đại học là nơi thâu thập tri thức, sinh viên trở thành những đánh-đống-viên: đống của ai lớn người ấy có Văn hóa cao. Kết quả là sản ra những con người rách nát (écartelé, nói theo chuyên môn là schizophrénie thác loạn tinh thần vì thiếu hướng) với một mớ tri thức nửa chừng không làm nên trò trống gì có thể gọi là triệt Thượng triệt Hạ.

Toàn diện” trở thành “ngoại diện” (d’une encyclopédie lamentablement superficielle) duy trì mãi trình độ “nhật báo” ở Đại học, và trở thành kém cả những người theo giải pháp chuyên môn.



Giải pháp này ít ra cũng giúp nắm vững cái cần câu cơm. Thực rồi vực dần dần Đạo cũng phải lòi ra. Và như thế là giải pháp Chuyên môn hiện lên như một cám dỗ đầy hứa hẹn.

Tuy nhiên chúng ta không thể theo giải pháp Chuyên môn được, ít ra như hiện nay đang được thi hành vì càng ngày người ta càng ý thức sâu sắc về những ác quả của giải pháp đó, và đây là một hai lý do: trước nhất Chuyên môn từ trong bản chất là chuyên biệt nên càng rút hẹp giới hạn bao nhiêu càng hữu hiệu bấy nhiêu: học chung về thuốc không thể hữu hiệu bằng chuyên về mắt, về răng, về tim v.v… Đấy là luật tất định, nếu muốn hữu hiệu thì phải tuân theo, không thể làm khác được.

Nhưng đó chỉ là luật của Nhiên giới đem áp dụng vào Nhơn giới thì hậu quả Cơ giới hóa con người, biến nó thành những người máy (robot), những khí cụ.

Con người khuôn theo nó trở thành những quái vật một mắt ti hí, hết nhìn được những vấn đề bao la Toàn diện.

Vì đã bị chi phối bởi luật chiếu giãi (loi de projection) theo đó, khi một người để hết tâm trí vào một giá trị nào, thì sẽ chỉ còn thấy có giá trị đó và sẽ nhìn mọi vật qua lăng kính duy nhất ấy.



Freud nhìn tất cả qua Tính dục.

Rousseau thấy tất cả qua Tình cảm, qua Thiên nhiên.

Platon thấy chỉ có ý niệm mới là Giá trị.

Hegel thì tôn vinh Biện chứng làm Chủ tể v.v…
Người xưa đã gửi nhận xét đó vào những câu chuyện như:

Bá Nhạc học xem tướng ngựa, trông cái gì cũng là ngựa cả.

Bào Đinh nước Tống học mổ trâu ba năm không thấy con trâu sống nào, trông con nào cũng là trâu chết cả.

Bác sĩ Knoch xem ai cũng là bệnh nhân và đã biến một thị xã thành những con bệnh tưởng tượng.
Kết quả là các khoa học chuyên biệt thay vì là một Phương tiện, đã được tôn lên bậc Cùng đích nội tại (fin en soi).

Thế là có bao nhiêu Khoa học là có bấy nhiêu Mục phiêu tuyệt đối càng ngày càng xa nhau làm đứt hết mọi Mối Liên hệ nằm ngầm.
Đại học cũng như Văn hóa hoạt động tứ tung ngũ hoành, biểu lộ một sự nghèo nàn trong đường hướng, không còn chút sinh động gì trong Tâm hồn, biến con Người thành những Bộ phận, những Dịch vụ (fonction) trong Bộ máy vô Hồn, lù lù quay như bất cứ bộ máy nào.

“Personne ne peut nier que la conscience moderne est déseperément disloquée entre ces “fin-en-soi” et ainsi les hommes ne cultivent plus que des qualités spécialisées: ils deviennent eux-mêmes des instruments” (Jung Moderne 123).


Tâm thức con người căng trên những môn Chuyên biệt được phong làm Cùng đích và hạ mình xuống làm Dụng cụ, chữ Nho gọi là khí (quân tử bất khí).

Con người không muốn làm Chủ thể nữa rồi nên nhường lại ghế đó cho Nhiên giới để đi hạ mình xuống làm Phương tiện, làm Khí cụ và trở nên một thứ man rợ, thượng lưu.

Thượng lưu cũng có mà man rợ lại càng đậm màu (xem chẳng hạn quyển La barbarie des élites của Rostenne edit, Desclé) và như thế là giải pháp Chuyên môn cũng tai hại một cách sâu độc, nó cho một điểm quy tụ nhưng là điểm quy tụ chúi đầu xuống cái lỗ nhỏ hẹp, có bao nhiêu ngành là có bấy nhiêu mối quy tụ, bấy nhiêu đáy giếng. Và như thế thiếu xương sống trở thành vật vờ trôi dạt, vì thế nó vẫn không thắng nổi giải pháp Toàn diện dẫu giải pháp này chỉ là Ngoại diện.
Do đó mà các nhà Giáo dục cứ còn bù đầu như con lừa Buridan tránh hùm phải hạm: cả hai giải pháp cũng có lý, nhưng chỉ ở một phương diện, nếu nắm lấy cái lý đó mà day thì trở thành thiên lệch và kết quả là cả hai giải pháp cùng làm cho sinh viên chơ vơ trong trường Học, để rồi chơ vơ trong trường Đời nghĩa là sẽ bị thả vào những ngó ngách của cuộc đời chưa được sửa soạn, chưa được nghe nói tới bao giờ.

Đó là trạng thái bi đát trong khắp các Đại học trên thế giới hiện đại và ngoại trừ một hai tia sáng le lói đó đây nghĩa là ngoại trừ những giải pháp chỉ hay có một chiều kiểu Toàn diện ngoại diện nói trên thì chưa đâu tìm ra lối thoát, nghĩa là tìm ra cái điểm gọi được là ĐẠI là LỚN khả dĩ đáng làm Trung tâm quy tụ cho mọi ngành và các nhà hữu tâm vẫn cứ đành dùng giải pháp vá víu tô trát trước những làn sóng phá hoại của cơn khủng hoảng.
Sở dĩ tôi gạch dưới 3 chữ trên thế giới là để nhấn mạnh tính chất phổ quát vả tỉ xích Quốc tế của Vấn đề chứ tuyệt nhiên không có ý chỉ trích Đại học nước ta.

Nói về Đại học nước nhà cứ kể chung ra cũng là bình thường nghĩa là trừ một số khuyết điểm không thể nào tránh nổi ở bước đầu và sẽ lần lượt cải thiện theo đà tiến của nền độc lập quê nước thì đại để ta theo giải pháp Toàn diện. Cái đó có những bất lợi như đã nói trên, nhưng nên nhớ bất lợi cũng như nhiều nước trên thế giới, trong đó tất nhiên Pháp là một đại biểu nổi nang (1). Vậy Đại học ta có kém thì cũng là kém một cách quốc tế chứ không phải do sự bất lực của Bộ quốc gia giáo dục nước nhà.


Trong thâm tâm các nhà dìu dắt nền Đại học cũng như Giáo dục nước ta đang sôi lên nguyện vọng thiết tha tìm một giải pháp nào vừa thâu hóa được cái lợi của hai giải pháp đồng thời tránh được cái bất lợi của cả hai bên.

Tuy nhiên đó là chuyện dài hơi, không phải một lúc mà làm hiện hình ngay lên được, muốn đi mau là hỏng việc. Trong ý hướng đi tìm đó chúng tôi thử phác họa với sinh viên một giả thuyết làm việc mà tôi xin gọi là giải pháp Mẹ tròn Con vuông.


(1) Những khuyết điểm đó được giáo sư Gusdorf mổ xẻ trong quyển Université en question. Payot)

9.- Giải pháp Mẹ tròn Con vuông

Theo biểu tượng Kinh Dịch ta sẽ gọi là Vuông tất cả các môn Chuyên biệt, vì chuyên biệt nên có giới hạn nhỏ hẹp, Kinh Dịch chỉ thị bằng hình Vuông có góc cạnh, giới mốc đóng khung. Còn Vòng Tròn ta dùng để chỉ Đạo lý Tâm linh, nói nôm na là Đạo làm Người cái lý tưởng then chốt của đời sống con Người toàn diện.

Đạo này hiện nay chưa có và đó sẽ là việc chúng ta phải tìm lấy bằng cách mượn dữ kiện của Cổ Kim. Đông, Tây.

Người xưa đã có nhưng nay ta không thể xài ít ra y nguyên được nữa.

Tuy vậy ta có thể gỡ lấy chiều kích Tâm linh của Đạo xưa để làm Trung điểm cho một Tổng hợp thâu hóa mới. Vì tất cả sự cổ kính nhưng cũng rất mới mẻ nằm trong hai chữ Tâm linh, nó có thể giúp ta phương thế để tìm lối thoát.


Sở dĩ giải pháp “ Toàn diện ” rất hay trong chủ trương nhưng thất bại trong thực hiện chẳng qua vì thiếu chiều kích này.

Do đó thay vì Tổng hợp (synthèse) thì chỉ làm được có Tổng cộng (syncrétisme) nghĩa là không có yếu tố khác tính mà chỉ là cộng vào, chất đống lại các yếu tố cùng trình độ, cùng lượng chất. Nhưng cộng bao nhiêu cái có góc lại cũng không làm nên được một cái vòng tròn. Học 10 môn chuyên biệt, không làm nảy thêm được bản chất của sự Toàn diện vì thiếu chất Tổng hợp là cái chỉ tìm được nơi dòng sống Tâm linh đang chảy trong thâm Tâm nơi sâu thẳm. Chỉ ở đó mới tìm ra chiều kích siêu việt để bao trùm lấy các ngành ngọn.



Chỉ có yếu tố Tâm linh mới đáng làm Căn bản, làm cái Đại để các môn khác quy tụ.

Ta sẽ biểu thị nó bằng Vòng Tròn và theo tinh thần Đông phương ta thấy Vòng Tròn bao bọc lấy Vuông. Và nôm na ta gọi là “ Mẹ tròn Con vuông”: theo nghĩa Mẹ đại Con tiểu. Tâm linh cao hơn các khoa vật học. Hoặc muốn nói rõ lên sự quân bình thì là “hợp Ngoại Nội chi Đạo dã”. Ngoại Vuông hợp với Nội Tròn.
Nếu Tài là Vuông, còn Đức là Tròn thì Tài Đức phải cố gắng kiêm toàn nhưng bởi Vuông hay lấn át nên ta nhấn mạnh trên Tròn và nói: “Đức chi Bổn dã. Tài chi Mạt dã”, Đức là Gốc, Tài là Ngọn.
Tiền nhân ta xưa đã ghi ý nghĩa đó vào đồng tiền hình Tròn lỗ Vuông. Lỗ vuông đâu có tiện xỏ bằng lỗ tròn, nhưng nếu không tiện lắm cho việc xỏ thì lại tiện để biểu thị được ý hướng đặt Tình Người lên trên Tài Vật. Tinh thần phải mạnh phải lớn đủ để bao trùm lấy con Tài.

Đạo nhân sinh phải thấu nhập được các chuyên khoa để cho tinh thần linh nhuận cõi nhiên cơ. Đành rằng thời đại này chúng ta phải mở rộng Vuông tức phạm vi Chuyên môn rất nhiều, nhưng đừng để cho bốn góc vươn ra ngoài, vì nó sẽ ngãng trở không cho bánh xe lăn được trên đường Tiến hóa toàn diện.
Đồng tiền Tổ Tiên :

Quang Trung đại bảo Quang Trung thông bảo



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương