VấN ĐỀ giáo dục chúng tôi viết Bài này để Kính nhớ ngày Giổ thứ 1



tải về 6.6 Mb.
trang2/29
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích6.6 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29

Nói chung thì khối Cộng sản đi theo lối Đồng nhất, khối Tự do theo lối Đa phương.

III.-Nền Thống nhất chân thực

Còn hòa âm của Thống nhất chưa tìm ra được, hay có rất nhiều nhưng toàn là Thống nhất có cái tên, còn trong thực chất thì là Đồng nhất, thí dụ “ Thống nhất” của Hegel hay của Karl Marx.

Một nền Thống nhất chân thực phải hội được những điểm sau đây:
Thừa nhận cho mọi khuynh hướng được tồn hữu, bao lâu hướng đó không có tính cách độc hữu. Vì nếu khuynh hướng độc hữu thắng thế, thì sẽ thi hành Đồng nhất đối với mọi khuynh hướng khác.
Quy định cho mỗi khuynh hướng một ngôi vị (sách Xuân Thu gọi là định phận) nghĩa là một sự quan trọng tương đối, nghĩa là đối với toàn thể cuộc sống.
Tất cả phải tuân theo một nhịp điệu tức là những ước lệ cần thiết vừa đủ cho đời sống công cộng có thể tồn tại. Chỗ này thì Cộng sản đi quá. Thế giới Tự do thường bất cập

IV.- Học và Hành

Điều đó được minh chứng rõ rệt hơn nữa trong khoa học cơ khí. Bất cứ ai đã xem qua lịch sử khoa học cũng nhận thấy rằng: mỗi một bước tiến bộ, mỗi một phát minh sáng chế đều là hậu quả của rất nhiều tri thức tinh thuần không mang lại lợi ích gì hết. Người tìm ra là tìm ra rồi phát minh đó bị xếp vào tủ, nằm trơ trọi có khi cả hàng trăm năm không dùng vào được việc gì. Nhưng nếu thiếu những cái tri thức thuần tri thức thì khoa học đã không tiến được bước nào, nếu đòi sự biết nào cũng phải đưa tới một phát minh ơn ích thì Khoa học đã chết từ lâu rồi.

Đó là những lý do rất xác đáng nên nó đã làm hạ giá chữ Học Hành xuống đến độ bị coi như là cái gì cản trở đường tiến hóa của những dân còn bám lấy cái Hành trong cái Học. Đây là một quan niệm tuy không minh nhiên hóa, hay chính vì không bộc lộ rõ ra nên đã gây một ảnh hưởng rõ rệt vào đường học vấn của chúng ta. Bởi thế cần phải được mổ xẻ kỹ lưỡng.


Trước hết chúng ta chấp nhận rằng cần có cái biết thuần tri thức, nhưng ta nên phân biệt ba loại Hành: là Cưỡng hành, Lợi hành và An hành.
Cưỡng hành là làm vì bị cưỡng ép thuộc pháp hình: không làm thì bị hình phạt.

Lợi hành làm vì lợi thuộc đợt thành công, ăn làm.

An hành là làm vì Nghĩa ( Công bằng ) vì thấy đáng làm thì làm.
Và khi ta nói Học Hành là ta nhằm vào cái Hành ở đợt ba này, ít ra khi nói về Triết lý Nhân sinh, và lúc đó không những cái Hành đó cũng cao như sự bỡ ngỡ vô vị lợi (étonnement désintéressé) của triết lý Platon, mà còn có phần cao hơn là khác. Bởi vì sự bỡ ngỡ thăm hỏi của Platon xét về phương diện vô vị lợi thì đã vượt qua khỏi đợt Lợi hành rồi, nhưng chưa đi tới độ tiền diện kinh nghiệm tức hiện tiền trực thị với vật, một thứ kinh nghiệm tinh dòng đến nỗi không còn lạ lẫm tra hỏi nữa, nhưng đã tới đợt An nhiên không ngỡ ngàng vì đã liễu hiểu, đã đi guốc vào lòng sự vật, mà Nho giáo kêu là “cách vật” rồi. Thế nghĩa là đã vượt qua đợt ngỡ ngàng tra hỏi. Người ta chỉ tra hỏi khi chưa đủ quen thuộc, chưa thấu suốt, và do đó còn kém hơn “An hành”. Bởi An hành bao hàm sự thấu triệt không còn chi đủ làm bỡ ngỡ nên chỉ còn Hành một cách an nhiên không bận tâm tra hỏi nữa.
Thứ đến cần phân biệt hai bình diện một là hiện tượng của Khoa học thực nghiệm hai là bình diện Triết lý. Đó là hai bình diện khác hẳn nhau:

bình diện Hiện tượng thì bất cứ tri thức nào cũng có giá trị tự nội, vì nó là cái biết cụ thể kiểm soát được và dầu chưa thấy có lợi ích gì, nhưng ít nhất nó cũng là một tri thức.

Ngược lại trong Triết lý nếu không có Hành đi theo thì không lấy chi làm cứ điểm đặng phân giải hơn thua.

Cho nên người ta chỉ coi là tri thức thật, tri thức có nền tảng, có giá trị những tư tưởng giàu khả năng nâng cao Tâm hồn, cởi mở Lý trí, khơi dậy mọi năng lực trong con người và vì thế ta gọi là Chân lý nóng.

Ngược với Chân lý Nguội, thường xoay quanh sự vật và thường chỉ là sự thích thú của nhà chuyên môn, hoặc làm thỏa mãn óc tò mò nhưng không đủ gây sôi động trong Tâm hồn. Những chân lý nguội vì thế khi ra ngoài phạm vi chuyên môn của nó thì mất giá trị vì không có tiêu chuẩn kiểm chứng, nên thường chỉ là những ý nghĩ bâng quơ thiếu nền móng như những vấn đề giả tạo.
Theo ý nghĩ trên tiền nhân ta quen nói Học Hành, nghĩa là chỉ có cái Học thiết cận vào Thân Tâm, cái Học giúp cho con người biết tu Thân, biết Sống, biết Tổ chức đời sống xã hội, biết lối Cai trị tốt hơn hết; sao cho con Người ngày thêm trung thực với Bản tính của mình thì đó mới là Triết lý có giá trị và mới đáng học.
Tóm lại cái Học chỉ có giá trị khi là Chân thực. Muốn đo lường mức độ Chân thực thì trong phạm vi Hiện tượng có thể kiểm soát bằng những hiệu quả hay là sự minh hiển khách quan, hoặc máy móc tinh tế, còn trong Triết lý thì phải có Hành đi theo để bảo đảm cho tính cách trung thực của nó.

Hơn thế nữa phải là “An hành” mới là Triết lý,

Còn như Cưỡng hành đã có Công an cảnh sát,



Lợi hành đã có tiền tài danh vọng,

nghĩa là hai thứ hành này đã quá nhiều rồi, và nhân loại đang muốn đi xa hơn hai đợt đó trong vận hội mới?

Quả thế, giai đoạn Cưỡng hành kể như thuộc thời mông muội: làm vì sợ trời đánh, thánh vật kể như đã qua và đang chuyển sang giai đoạn Lợi hành đi kèm theo thời quyền pháp lợi lộc. Làm theo lệnh của quyền bính của pháp luật thì có lợi, được hưởng quyền này nọ ân trạch kia khác như Mặc Địch hứa hẹn đe loi, và cái gì không có lợi nhãn tiền thì không cho làm như nhạc, thơ, lễ, văn học. Đó cũng là tâm trạng mà con người đại chúng quen sống cho tới hiện nay. Họ căn cứ trên những nền luân lý cấm đoán với cho phép: (permis et défendu) ai phạm thì phải hình phạt này vạ nọ, ai theo thì đuợc ơn ích kia khác.

Tuy nhiên nhân loại đang trở mình để cho mỗi ngày thêm đông đảo người hơn biết tiến đến giai đoạn An hành.

Jung viết trong quyển L'homme à la découverte de son âme (p.37): “La grande révolution du siècle “ tout au de là prend place ici-bas”, cuộc đảo lộn lớn lao của thế kỷ này là các giá trị đặt ở “xa xôi” được đưa vào gầm trời này, và ta có thể nói thêm sẽ đặt vào Lòng con người và gọi là “An hành”.


An hành là cách hành động độc lập vô vị lợi, khác với Cưỡng hành ngoại khởi.

Với Cưỡng hành chủ thể bị sai sử do một chủ thể bên ngoài cho tới độ làm lấn át hết quyền định đoạt của người làm.

Còn Lợi hành thì tác giả hướng ra Ngoại vật chứ không hướng Nội, nên không phải là tác động nằm vùng. Cả hai trường hợp đều bao hàm sự mất quyền (cưỡng-hành) hoặc sự nghèo nàn bất túc, nghĩa là không đủ tự Lực tự Cường và vì thế dễ sinh ra sự nghiêng ngả hoặc về phía Năng hoặc về phía Sở.

Nếu nghiêng sang bên Năng cũng gọi là Chủ thể thì đẻ ra những thuyết có tính cách duy Chủ thể ( subjectivisme ) như thí dụ duy Tâm.

Nếu nghiêng sang phía S cũng gọi là “Đối tượng” thì đốc ra duy Đối tượng ( objectivisme ) thí dụ duy Vật.
Đó là những bệnh trạng của Nhị nguyên, bao giờ cũng chọn một bỏ một, không đi tới Tổng hợp, mà chỉ biết có giản lược, tức cũng là Đồng nhất vật.
Muốn Tổng hợp cần vươn tới bậc An hành, cũng gọi là “Cung hành” như câu nói “cung hành quân tử” 躬行君子L.N.VII .32 tức là người tự Trọng mình, Tự mình, Tự tìm ra nơi mình đủ túc lý để làm việc, không cần quy chiếu đến cái chi khác.
Khổng Tử nói: “Về văn chương học thuật thì hoặc giả ta cũng bằng người, nhưng đạt tới độcung hành quân tử” thì ta chưa có được”.
Bởi vì Cung hành là đợt rất cao, rất trong trinh không gì sai khiến được Chủ thể, cũng như Chủ thể không hướng ra ngoài. “Quân tử tố kỳ vị nhi Hành, bất nguyện hồ kỳ Ngoại” T.D.14. Người quân tử chiếu theo địa vị mình mà làm chứ không cầu ở ngoài.

Ở ngoài là Thiên hay Địa, nhưng ở lại với Mình, đi vào thâm cung sẽ gặp địa vị con người gọi là “tố kỳ vị” hiểu theo nghĩa siêu hình là nơi gặp gỡ Đất Trời, cho nên cung hành cũng gọi được là hành động lưu Ngũ” khi hiểu chữ Ngũ theo Ngũ hành nghĩa là nơi Đất Trời giao hội: Trời ba Đất hai, “tham Thiên lưỡng Địa”. Hai cộng với ba là năm, nên mới nói lưu Ngũ là lưu lại nơiThiên Địa chi giao” tức là Nhân vậy. Nói kiểu khác đó là hoạt động của Văn hóa uyên nguyên khi hiểu chữ Văn ( ) là thập tự nhai ( ┼: ) đặt dưới bộ đầu ( 亠) .

Khi nói đến Văn Vương thì không nên nghĩ đến cá nhân Văn Vương nhà Chu cho bằng là một mẫu người lý tưởng đã đạt tới chỗ Đất Trời giao hội, đạt tới đợt An hành. Trung Dung viết: “Văn Vương chi sở dĩ vi văn dã, thuận diệc bất dĩ ” T.D.26, 文 王 之 所 以 文 也。纯 亦 不 已.

Điều làm cho Văn Vương đạt nổi chữ Văn là thuần khiết và do đó không ngơi nghỉ.

Nói “ thuần hay tinh ròng” là hiểu đã đạt độ “Cung hành” không còn bị ngoại vật sai sử như vì Lợi, vì Sợ hãi nhưng là An hành như một “Nhơn Hoàng” an nhiên tự tại ung dung. Chính vì thế không chú trọng đến đối tượng sang hèn to nhỏ, và Văn hóa Viễn Đông không chia ra việc hèn hạ và việc cao trọng như trong xã hội cổ La Hy: việc hèn để cho nô lệ, việc sang trọng để cho người thong dong. Viễn Đông không chủ trương thế bao giờ.

Do đó cũng không đặt vấn đề có hay không có vạn vật, vũ trụ có thật hay chỉ là mộng suông, có cái này hay không có sự kia là những vấn đề đã gây chia rẽ trầm trọng cho đến tận ngày nay và triết học Âu Châu đều cố gắng thoát ra.


Triết lý Nho giáo đã tránh được điểm này: không trùng trình ở chỗ tranh luận có hay không có, nhưng đã đi thẳng vào Hành động, và vì thế là một nền Triết rất giàu chất Tổng hợp. Nhất thứ khi Hành động đó lại là An hành thuần khiết cho nên “bất dĩ” không ngơi nghỉ, không ngơi nghỉ vì không lệ thuộc vào ngoại vật. Vì khi lệ thuộc ngoại vật thì sẽ rất chóng sẹp

.


Thế kỷ 19 nhân loại tràn ngập hy vọng lạc quan trong bầu không khí tưng bừng tiếp đón những xe hơi, tàu điện, tàu bay. Cho rằng những phát minh này sẽ đem lại hạnh phúc toàn vẹn cho loài người. Nhưng từ sau hai thế chiến, người ta lâm vào cảnh bơ vơ lạc lõng, coi đời như cái chi phi lý, vô nghĩa. Và Văn chương tràn ngập những thao thức buồn chán, băn khoăn. Tại sao lạc quan chóng biến ra bi quan.
Thưa chỉ vì lối lạc quan kia dựa trên những ngoại vật, cũng y như những loại ý hệ vì còn dựa trên đối tượng, nên phạm vi ảnh hưởng rất eo hẹp (chạm tới 1% ý thức) và cũng không sống lâu hơn được nửa thế kỷ.
Đó chẳng qua vì chưa đạt tới An hành. Nếu thật là An hành thì sẽ không ngơi nghỉ nên lâu, lâu nên sáng, sáng nên đi xa. Đi xa nên rộng dầy. Rộng dầy nên cao sáng. Cao sáng thấu Trời. Rộng đầy khắp Đất. T.D.26.
Đó là cực tả cái hiệu nghiệm của tác động lưu Ngũ của An hành tức là tác động có sức Tổng hợp vô biên. Rộng như Đất cao như Trời cũng bao quát hết. Đấy phải là tiêu chuẩn lý tưởng của chúng ta.

Chúng ta khỏi cần thay đổi tiêu chuẩn Học Hành mà chỉ cần đào sâu, và sẽ thấy trong hai chữ đó một giải pháp kiên cố. Giải pháp này còn được bàn dài rộng nơi khác.



Cho nên chữ Hành không phải chỉ có nghĩa là làm, bảo làm là làm như trong luân lý thông thường, hoặc khoa công dân, hay phép xã giao. Nhưng nó bao hàm một nền móng Siêu hình, một Đạo thuật hành vi là nền tảng của Triết lý Nho giáo, cũng là Triết lý của Tác, của Tài, của “Ngũ hành” khi hiểu Ngũ là cái gì siêu hình vượt ra ngoài những ích dụng nhỏ bé để lan tỏa khắp Trời cùng Đất.

Biết được giá trị của tiêu chuẩn ẩn trong hai chữ Học Hành như thế rồi, bây giờ chúng ta dùng nó làm thước để đi đo mấy nền Văn hóa có liên hệ đến ta, để lựa chọn những yếu tố có khả năng làm giàu cho cái di sản tinh thần cố hữu đó đặng trùng tu nền thống nhất văn học. “



F.- VẤN ĐỀ TRIẾT LÝ

Theo Đông phương ta có định nghĩa về Triết như sau: “ Triết: Triệt dã: Triết phải đi cho đến chỗ toàn triệt của Vấn đề, nghĩa là phải Triệt Hạ và Triệt Thượng, và quan trọng hơn là làm sao cho cặp đối cực Triệt Hạ và Triệt Thượng giao hoà, mà Tục ngữ bảo là : “ Mẹ Tròn , Con Vuông “.

Đặc biệt là Triết lại bàn về Triết lý Nhân sinh của nền Văn hoá, chứ không giống như triết Tây phương, là chiêm niệm các ý tưởng rất trừu tượng, xa vời với con Người và Dân tộc. Để cho dễ hiểu ta lấy ví dụ nền Văn hoá của chúng ta giống như cái Cây, có đủ Gốc Rễ, Thân cành và Hoa Trái:

Triệt Hạ là phải nghiên cứu cho Tận Gốc Rễ của Cây cùng với những nhu yếu của cây như Nhựa Sống từ lòng Đất.

Triệt Thượng là phải thông hiểu được sự vận chuyển của Nhựa Sống đi lên Lá, từ đó nhờ sự Quang hoá để biến nhựa Sống thành Nhựa luyện, rồi Nhựa Luyện được chuyển xuống qua Cành Thân đế Gốc Rễ để nuôi toàn cây và sinh Hoa kết Trái.

Còn Triệt Thượng và Triệt Hạ cần được giao hòa hay Lưỡng nhất là tìm cho ra sự luân lưu của hai dòng Nhựa Lên / Xuống được điều hòa giúp cho cây được tồn tại và phát triển toàn diện.

Dòng Nhựa Lên / Xuống của cây cũng tương tự như cặp đối cực Tâm linh / Thế sự ( Khoa học ) của nền Văn hoá - mạch Sống của Dân tộc - có được luận lưu trong mạch sống thì mới giúp cho Dân tộc có Nội lực mà Dựng nước và Giữ nước.

Về Giáo dục cũng vậy, Triết cũng phải bàn cho thông suốt cặp đối cực Thượng và Hạ:

Thượng là Hiến chương Giáo dục,

Hạ là phần Lập pháp của Giáo dục.

Bước đầu là Triệt Thượng phải đi cho đến tận Gốc của phần Hiến chương, phần Chủ Đạo tức là Hướng đi chung của Giáo dục,

Bước hai là phải triệt Hạ để đi đến phần Ngọn tức là phần Lập pháp hay là phần soạn thảo Bộ sách Dân tộc và Chương trình Giáo dục cho cả ba cấp Tiểu, Trung và Đại học,cho phù hợp với tình trạng của con Người và Xã hội.

Bước thứ ba là phải làm cho cặp đối cực Triệt Thượng / Triệt Hạ giao thoa tức là làm sao cho Thượng Hạ hài hoà để giúp cho việc đào tạo Con Người được thành công, giúp Dân tộc quy về một Mối, hầu cùng nhau thiết lập các Cơ chế Xã hội hữu hiệu mà mưu phúc lợi chung cho toàn dân.

Việc xây dựng con Người là kế trăm năm, phải đào tạo sao cho con Người được thành Thành Nhân cũng như thành Thân hay thành Công.

Về Dân tộc thì phải có Chủ đạo Hòa của Dân tộc để mọi người kết thành một khối, tất cả đều chung Lòng, chung Trí, góp Công vào việc Xây dựng và bảo vệ Đất Nước.

Về các Cơ chế xã hội phải Tổ chức và điều hành sao cho các cặp đối cực trong mỗi cơ chế vừa tiến bộ vừa được điều hoà để mưu phúc lợi chung, nhất là thực thi công bằng tương đối xã hội.

Để có cái nhìn tổng quát hơn về Triết lý, xin trích mấy giòng trong Lời Tựa cuốn “ Tâm Tư hay Khoa Siêu Lý của Viễn Đông “ của TG. Kim Định.
“ Đã một dạo chúng ta quen nghe nói rằng Viễn Đông không có khoa Danh Lý. Đó là câu nói chỉ thật có lớp Ngoài, mà sai lớp Trong.

Nhìn bao trùm đường vận hành của tư tưởng Nhân loại, chúng ta có thể phân ra ba lối suy luận:

*Lối thứ nhất là có Danh Lý của triết học Tây Âu, xây trên những lý lẽ rút ra từ sự kiện hay những ý niệm của sự vật.

*Lối thứ hai là Triết lý Ấn Độ gọi là Vô Lý hay Phản Lý: tuyệt đối quay lưng lại với lý lẽ suy luận.

*Viễn Đông không Hữu Lý hay Phản Lý, nhưng là Hàm Lý, nghĩa là Lý luận chỉ đóng vai trò tương đối và nắm khuất lấp trong Tình cảm, làm nên có một lối lý luận riêng biệt, vận chuyển qua ba đợt : Ý, Tình, Chí:
Tận cùng của Lý lẽ là Lý luận Biện chứng

Tận cùng của TìnhCảm nghiệm, là Nghệ thuật.

Tận cùng của ChíThể nghiệm, là ngộ Đạo, tức nhận thức ra chiều kích Vũ trụ nơi Mình. Ta gọi đó là An Tư hay Tâm Tư. “

. . .
Theo Nho giáo thì : “ Tình trạng bi đát trong triết học là do sự quên mất chữ “ Phản nghĩa là “ Suy đi “ mà quên “ Nghĩ lại “ Vì thế mới trở thành Lưu Liên:


Tùng lưu Hạ nhi vong Phản vị chi Lưu

Tùng Lưu Thượng nhi vong Phản vị chi Liên

( Mạnh Ib,4 )

Theo đường đi Xuống quên Trở lại gọi là Lưu

Theo đường đi Lên quên Trở lại gọi là Liên .


Cả hai đều là vong Bản, quên Gốc của mình, trở thành “ Du đảng “ , không nơi cư ngụ. Một điều khinh hoàng được Heidegger phát giác là con Người chưa có Suy tư, hay có Suy tư một cách kỳ cục. ( L’homme a penseé maid d’une manière étrange. V.A. 155 ).

Con người đã làm quá nhiều mà suy tư quá ít, mãi từ bao thế kỷ đã như vậy. Heidegger. W.D. 22.

Vũ trụ trở nên hoang tàn, vì chẳng có một suy nghĩ trong Tâm can “ Kinh Thánh.

Tử viết: “ Vị chi tư dã : Chưa có Suy tư, bởi Suy tư chân thực phải là Quy tư, tức tưởng niệm Lời Vô ngôn đấy tính cách viên dung quán nhất. Cái Tư đó còn thiếu.
L’homme a trop sagi et trop peu pensé depuid des siècles. W.D.22

La frequentation de la Philosophie peut nous donner l’illusion tenace que nous pensons puisque après tout sans relace nous philosophons.


. Ai cũng tưởng rằng hễ học Triết lý là suy tư đấy, là mối huyễn hoặc kinh niên. Và do lẽ hiện nay một khuynh hướng hạ bệ khoa Danh lý đang được nhóm khởi, nghĩa là ở mấy tay anh chị tiền phong. Còn trong các trường ốc hàn lâm thi cử vẫn chểm chệ ngồi ghế danh dự. Nhưng đó chỉ là việc tất nhiên “ Tiên chiếm giả đắc “. Còn truyện danh lý có mang lại ơn ích cho triết lý chăng hay còn gây nên trở ngại là truyện cần phải xét. Heidegger viết :

Khi Lời Vô ngôn phải uốn mình trở thành một khí cụ, thì đó là lúc Danh lý ra đời, khiến cho Triết học gia chạy theo sự vật, mà quên mình, theo sự thực hiển nhiên của tai mắt, mà quên mất Nhân tính” .



Heidegger kể lại rằng: “ Từ Aristiote, Danh lý đã không thể lùi lại một bước, và đến nay nó cũng không thể tiến thêm bước nào, và như thế xem chiều nó đã bế mạc và xong hẳn “ . Và ông thêm “ Thực ra không phải xem ra như thế, mà chính là “ như thế rồi “.

Và mặc dù những cố gắng của Kant, của Hégel nhưng xét về yếu tính và uyên nguyên thì đã không tiến thêm được được dù một bước. Nên bước duy nhất còn lại là hạ bệ nó xuống, hạ từ nền móng. L’unique pas encore possible consiste à la détrôner et cela à partir de son fondement même ( F. 211 ).

Ông viết tiếp: “ Cứ sự lịch sử tư tưởng Tây Âu không khởi đầu Suy tư điều Đáng suy tư, nhưng lại để nó trong quên lảng. Như thế là tư tưởng Tây Âu đã khởi đầu bằng một sự biếng trễ, nếu không phải chính là một sự sa đọa . En fait l’histoire de la pensée occidentale ne commence pas par ceci qu’elle pense ce que donne le plus à penser, mais par ceci qu’elle le laisse dans l’oubli. La pensée occidentale commence donc par une negligence, sinon même par une défaillance. W.D. 154. “.

( Tâm tư . I. Khởi bất nhĩ tư. Kim Định )

G.- TRIẾT LÝ GIÁO DỤC

( Triết lý Giáo dục. Kim Định )
Vấn đề Giáo dục và Văn hóa khỏi nói ai cũng nhận là quan trọng. Vì vậy ngoài bộ Quốc gia Giáo dục còn có nhiều hội nghị giáo dục cũng nhóm họp để tìm giải đáp cho những vấn đề liên hệ.

Triết lý Nhân sinh làm sao có thể hờ hững trước những vấn đề quan thiết đến sự sống còn của con Người và vận mạng Quốc gia như thế được.

Bởi vậy chúng tôi không ngần ngại đưa vào làm đề tài học hỏi suy luận cho các lớp Triết. Vấn đề trọng đại này phải chia ra hai phần là Lập pháp và Hiến chương.


I.- Lập pháp là phần thuộc về Bộ chúng tôi không bàn tới.

II.- Hiến chươngnền tảng căn cơ của Giáo dục và Văn hóa..


Trong phạm vi Giáo dục và Văn hóa có đến trăm ngàn đường lối nhưng tất cả phải dẫn đến một Trung tâm. Tìm ra và xác định được cái điểm Trọng tâm ấy, đó là việc của Triết lý. Và đó là việc làm dài hơi cần phải dành cho một loạt tiểu luận. Ở đây mới là mấy bài khai mạc.

1.- Sứ mạng Đại học tức cũng là thử xác định sứ mạng của Văn hóa và Giáo dục.


2.- Nhận định Tình hình thế giới. Về điểm này thấy rằng tất cả đang trải qua một cơn khủng hoảng Tinh thần rất trầm trọng.
3.- Khuynh hướng Truyền thống là hội được nhiều tay cự phách nhất, nên bàn qua cho biết.

4.- Tam giáo: tiếp tục Truyền Thống nhưng thu gọn vào phía Đông Phương với nhan đề Tam giáo.

5.- Từ Triết lý tới Đạo học.
6.- Một số quan niệm sai lầm về Văn hóa Đông Phương.
Có một điều xin lưu ý các bạn trẻ, đừng thấy bài dài mà đọc rảo qua. Tuy là dài nhưng thực ra đã gạn lọc từ một xấp tài liệu đầy đủ cho một cảo luận. Vậy mà chỉ đúc kết lại có vài ba chục trang giấy nên đây chỉ là những bài làm cốt tuỷ cho sự giảng huấn hoặc suy tư. Vậy nếu đọc rảo qua như tiểu thuyết mà không có đọc lại hoặc hồi niệm thì có cả oan cho tác giả và uổng cho người đọc.
H.- THỀM ĐẠI HỌC

1. Ý thức việc Làm

Tout seuil est une sacrée chose” (Porphyre) : Thềm nào cũng là một sự linh thiêng trọng đại, phương chi là thềm Đại học, nó càng linh thiêng vì trùng hợp với lứa tuổi thành Nhân của những người bước qua, nó đòi ở họ những đóng góp quan trọng hơn vào việc kiến thiết tương lai cho mình cũng như cho xứ sở.

Đó là nhiệm vụ đang đón chờ các bạn hôm nay đầu tiên bước qua thềm Đại học.

Để ghi bước vượt qua thềm trọng đại đó từ nay các bạn được bỏ tên học sinh để khoác lên mình một danh hiệu mới: Sinh viên. Chữ sinh viên nghe hách hơn chữ học sinh nhiều lắm, nó gợi ngay ra sự kính nể mà người đời thường dành cho những chức trách đi kèm với chữ viên: quan viên, viên chức, viên ông, viên bà… Do sự kính nể đó mà các vòng kiểm soát được nới rộng ra, tự do gia tăng gấp hai ba lần. Kể ra đó là phần thưởng đích đáng cho các cô cậu đỗ Tú tài hai.

2.- Tự do và Trách nhiệm

Tuy nhiên cái công lệ ở đời là hễ thêm Tự do thì phải thêm Trách nhiệm mà một trong những bó buộc của Trách nhiệm là phải Ý thức.

Ý thức rộng hơn Tri thức nhiều. Dưới trung học mới là Tri thức, lên Đại học phải thêm Ý thức nghĩa là tuy cũng học bài như dưới Trung học thật nhưng không còn thụ động nhận lấy mà phải Ý thức, phải cố tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện, cả đến cử chỉ hành vi đều mang thêm một ý nghĩa, đến cả bước chân của sinh viên coi như cũng vương vấn suy tư.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương