VấN ĐỀ giáo dục chúng tôi viết Bài này để Kính nhớ ngày Giổ thứ 1



tải về 6.6 Mb.
trang1/29
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích6.6 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29

VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

Chúng tôi viết Bài này để Kính nhớ ngày Giổ thứ 21 (25 tháng 3 hàng năm )

của Minh sư Kim Định.

TRIẾT GIA ( T.G.) KIM ĐỊNH VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

MỞ ĐẦU

Trong các Cơ chế Xã hội thì Kinh tế là khâu quan trọng hàng đầu, vì Kinh tế giúp cho con Người có của Ăn uống và Phương tiện cần thiết để nuôi sống cơ thể hầu sinh tồn và phát triển, vì vậy mới có câu: “ Có Thực mới vực được Đạo “.

Muốn vực được Đạo làm Người thì trước tiên phải có của ăn đã, có “ Phú chi “ mới tính được đến Vấn đề “ Giáo chi: Nghĩa là phải có ăn đã mới bàn đến chuyện học hành Đạo lý làm Người tức là Giáo dục được.

Vậy Kinh tế và Giáo dục là hai khâu quan trọng nhất, Kinh tế để nuôi Vật chất, còn Giáo dục để di dưỡng Tinh thần nơi nguồn Tâm linh.

Nhìn lại hoàn cảnh Dân tộc nước ta thì cả hai đều còn ở trong tình trạng xuống cấp trầm trọng, nguyên do căn bản là vì bị nạn “ Dị Cường lăng Nhược mà mất Gốc.

Khốn thay khi bị khủng hoảng, thay vì tìm lại Gốc Dân tộc trước, rồi mới đi học tinh hoa của người ngoài làm phong phú cho Văn hoá Dân tộc, thì lại bỏ Tinh hoa của Văn hóa mình, đi học lấy cái Dở của người ngoài, do nạn Thù đồ mà quên Đồng quy, nên làm cho tình trạng Dân tộc bị phân hoá ngày càng thêm trầm trọng, nhất là nạn rước Quỷ Ma Tây Bắc phương về làm Quốc Tổ của CS.
Triết Gia Kim Định đã để cả cuộc đời khai quật lại Tinh hoa của nền Văn hoá Tổ tiên, hầu xây dựng lại con Người và Tinh thần Dân tộc, nền Văn hoá đó là Việt Nho, là thứ Nho Vương đạo đã in sâu vào cốt tuỷ nếp sống của người Việt, vì mất Ý thức nên không còn nhận ra.

Chúng ta cần phục hoạt lại phần Tinh hoa của Nho đã thẩm nhập vào đời sống Việt tự ngàn xưa, nay còn sống vật vờ một cách vô thức trong huyết quản Dân Việt, Nho này là Việt Nho thuộc Vương đạo khác với Hán Nho là thứ Bá đạo. Việt Nho trọng sự khoan hòa nhu thuận, có bản chất Hoà bình, biết lấy Dân làm Gốc” Dân duy bang bản, bản cố bang ninh”.Đó là nền Văn hóa Nông nghiệp.

Còn Hán Nho thì trọng Bạo lực, có bản chất Chiến tranh, tôn quân làm Thiên tử. Suốt dỏng lịch sữ các Vua Chúa Tàu cứ gây Chiến tranh Cướp bóc và Bành trướng. Việt Nam phải luôn đối đầu với kẻ thù truyển kiếp nên không ngóc đầu lên được.
Theo nghĩa chữ Nho thì Giáo là truyền dạy những kiến thức tức là cung cấp thông tin ( information ) cho người Học, còn Dục là nuôi dưỡng nghĩa là phải giúp người Học và Hành lặp đi lặp lại theo thời gian dài giúp cho trưởng thành ( tức là formation ), nghĩa là phải luyện tập sao cho những kiến thức Học được thành ra của riêng mình, để mọi người có hành trang sống “ Ở Đời “ hoà hảo với nhau.

Vậy công trình Giáo Dục là kết hợp “ Học Hành làm Một “ hay “ Tri Hành hợp nhất “ để giúp con Người phát triển toàn diện, chứ việc học không chỉ dùng kiến thức làm khẩu trang giảng thuyết những chuyện xa rời sự sống, mà là cung cấp nhu yếu Vật chất và Tinh thần cho con Người, mọi Người Nơi Đây và Bây Giờ.
Khi lập Quốc, Cha ông chúng ta đã xây nên một nền tảng Tinh thần vững chắc cho con Người và Dân tộc để mọi người liên kết với nhau, hầu mọi người chung Lòng, chung Trí, góp Công cùng nhau Xây dựng và Bảo vệ nước để sống an vui hạnh phúc bên nhau.

Nền tảng đầu tiên là phải định vị cho được vị trí con Người trong Trời Đất để không những sống Hoà với nhau mà còn sống đúng theo tiết nhịp của Vũ trụ, hay còn gọi là Thiên lý hay Dịch lý. Nho tóm tắt lại trong câu” Thuận Thiện giả tồn, nghịch Thiên giả vong “ . Thiên đây là Dịch lý tức là nguồn Biến hoá bất biến gọi là nguồn“ sinh sinh hoá hóa trong Vũ trụ “, không những thế mà con Người còn phải có tinh thần Triết học và Nghệ thuật để sống sao cho “ Thiên sinh Địa dưỡng, Nhân hoà, gọi là Tiết nhịp Hòa của Vũ trụ ( Cosmic rhythm ).

Muốn vậy thì Quốc gia phải thiết lập cho được một nền Giáo dục có một Chủ đạo Hòa làm môi sinh Tinh thần để sống chung với nhau. Những vấn đề về Dân tộc cùng Truyền thống và Đạo lý Nhân sinh cũng cần phải đề cập tới một cách rốt ráo, vì đây là nền tảng Tinh thần của Dân tộc.
Theo TG Kim Định thì nền Quốc gia Giáo dục phải gồm hai phần: Hiến chương và Lập pháp.
Hiến chương được gọi là Đường hướng của nền Giáo dục từ nền Văn hóa Thái hòa Dân tộc, có Gốc từ nguồn Tâm linh.
Còn phần Lập pháp là công việc của Bộ Giáo dục Quốc gia phải dựa theo tinh thần Chủ đạo của Hiến chương mà soạn ra một Bộ sách Dân tộc,và thảo ra Chương trình Giáo dục các cấp cho thích hợp để cho việc giáo dục làm tròn sứ mạng “ Thụ nhân “của mình.
Sở dĩ đến nay phải bàn đến những vấn đề như thế là vì Tổ tiên xưa đã thiết lập nên phần nền tảng đó, chưa xây dựng xong đã bị sa vào vòng nô lệ, bị áp bức và bóc lột lâu ngày mà bỏ quên, làm cho con Người ngày nay bị giáng cấp và và Xã hội điêu linh, nay cần phải tìm tòi, tinh lọc và phát triển thêm cho hợp với thời đại văn minh hiện nay.
Triết gia Kim Định đã cố gắng đào sâu về Vấn đề Hiến chương trong một số tác phẩm, nhưng là những vấn đề được viết tản mác nơi một số cuốn, chúng tôi chỉ mạo muội sắp xếp lại tương đối có Hệ thống, thêm vào các Chương mục và Chi tiết để giúp cho lớp trẻ dễ lãnh nhận hơn, đây là một Hướng đi độc đáo rất cũ và cũng rất mới. Hy vọng sẽ được nhiều vị quan tâm.
Còn phần Lập pháp là công việc của Bộ giáo dục, cần phải có một Ban Tu thư có Tâm huyết và Khả năng để soạn thảo cho được Bộ sách Dân tộc theo Tinh thần của Hiến Chương và soạn thảo Chương trình Giáo dục thích hợp cho các cấp, một số ít người không thể làm nổi.

Ta có thể ví nền Giáo dục như một tấm Lụa màu, trong đó phần tấm Lụa thuộc về Lập pháp và Màu Nhuộn thuộc về Hiến chương, chúng ta phải làm sao cho cái Màu được tẩm nhuận sâu và đều khắp vào trong các sợi chỉ để cho Tấm Lụa toát ra vẻ đẹp của nền Văn hoá cao siêu của Dân tộc, hay cách khác là cái Hồn của Đạo lý Dân tộc phải được tẩm nhuận vào trong mọi lãnh vực thuộc phần Lập pháp của Giáo dục. Hiến Chương thuộc phần Hồn, còn Lập pháp của Giáo dục thuộc phần Xác.

Hy vọng những ai lưu tâm đề tiền đồ của Dân tộc, lưu tâm đến Thế hệ trẻ, sẽ bắt tay góp sức chung vào công trình “ Thụ nhân to lớn này “ .
Chúng tôi da theo Tinh thần của T. G. Kim Định, trích những đọan đó đây của công trình liên quan đến Vấn đề Giáo dục cũng như sắp xếp lại theo một trình tự để viết nên những giòng sau hầu gợi ý cũng như đóng góp phần nhỏ nhoi của mình vào nền Giáo dục Dân tộc, hy vọng những Vị có kiến thức sâu rộng đầy Tâm huyết cùng nhau khởi công và hoàn thành cho được công trình to lớn và quan trọng bậc nhất này.
( Những giòng chữ đứng là phần trích đó đây của T.G. Kim Định và các nguồn khác,còn chữ Xiên là của chúng tôi, các Tiết mục chi tiết cũng do chúng tôi thêm vào )

A.- ĐỊNH NGHĨA GIÁO DỤC

Giáo: Dạy bảo, mệnh lệnh. Tôn giáo.

Dục: Đẻ con, ( phải nuôi dưỡng một thời gian dài để cho trưởng thành ).

Giáo dục:Dạy dỗ người ta khiến cho thoát ly cái trạng thái tự nhiên của Tạo vật sinh ra.

( Từ Điển Đào Duy Anh )

Giáo dục để thoát khỏi trạng thái bất toàn bẩm sinh để sống hoà hợp và sung mãn với nhau.

Việc Giáo dục cũng phải trải qua một thi gian dài, khi đã được dạy dỗ một số kiến thức rồi, còn cần phải có môi trường nuôi dưỡng lâu dài giúp cho việc Học Tập được nhuần nhuyễn, Tri / Hành được lưỡng nhất thì mới trưởng thành, mới đạt mục tiêu.

Dưới đây là quan niệm Giáo dục của Tây phương

Definition of Education

1 The process of receiving or giving systematic instruction, especially at a school or university.

a course of education’ ( Giáo trình Dạy và Học có Hệ thống )

More example sentences

Synonyms


    1. 1.1 The theory and practice of teaching. ( Tri Hành hợp nhất )

colleges of education’

More example sentences



    1. 1.2 count noun A body of knowledge acquired while being educated.

his education is encyclopedic and eclectic’ ( Giáo dục bách khoa và đa chiều )

Synonyms


    1. 1.3 Information about or training in a particular subject.

health education’ ( Giáo dục riêng về Y tế )

2 an educationAn enlightening experience.( Cảm nghiệm và thể nghiệm )

Petrus is a good workman—it is an education to watch him’



B.- MỤC TIÊU CỦA GIÁO DỤC

Theo Tiên Nho thì Mục tiêu của Giáo dục là:

Tiên học Lễ: THÀNH NHÂN./ Hậu học Văn: THÀNH THÂN

Học Lễ để thành Nhân, để biết Cách làm Người, nghĩa là thành Người có Tư cách, hầu biết cách hành xử công bằng để sống Hòa với mọi người trong Gia đình và ngoài Xã hội.

Học Văn đề Thành Thân hầu có Khả năng, để biết cách Làm Ăn, làm tốt mọi công việc bất kể lớn nhỏ.

Đó là hai Yếu tố quan trong của mỗi người trong Xã hội mà nền Giáo dục phải đào tạo cho được.

C.- HAI LỐI GIÁO DỤC

Đồng nhất và Khai phóng



I .- Giáo dục đồng nhất

“ Ở đây chỉ xin làm sáng tỏ vấn đề bằng so sánh đường lối giáo dục ( tức sự sửa soạn xa ) :

Một theo Tâm Lý đồng nhất của Hạ trí,

Một theo lối Thái hoà của Tâm Linh.



Lối Giáo dục đồng nhất có 3 nét đặc trưng sau:

1.- Trước hết là nhồi sọ : Nhồi sọ cho thực đầy, nhét cho thực chặt, không còn để một quảng thì giờ trống nào để tâm hồn rảnh rang, hầu có thể tự suy nghĩ lấy cách tư riêng . Hết giờ học thì đến giờ làm việc, hết lao tác thì đến học tập.

2.- Thứ đến là lối độc hữu: Do quan niệm Chân lý có một, vì thế một là cấm đoán triệt để tất cả tư tưởng khác với Chân lý được chấp nhận, như ta thấy rất rõ trong chế độ Cộng sản. Hai là không dành cho chút thì giờ rảnh nào, đặng nhìn ra ngoài.

3.- Thứ ba là hệ quả của sự không để giờ cho suy nghĩ thì tất nhiên phải suy nghĩ hộ : không ai có quyền suy nghĩ nữa, đã có Đảng và Bác suy tư . Tất cả chỉ có việc theo lý trí của người trên. Như vậy là lý trí ròng làm sao Lý trí gặp được Tâm linh.

Biết bao người Việt Cộng đã nghĩ đến tình đồng bào, tình huynh đệ, cha con, muốn ngừng tay đâm chém phá hoại, nhưng Bác và Đảng đã bắt phải từ khước những ý nghĩ đó, cho đấy chỉ là những tàn tích của phong kiến, của tư bản, cần đoạn tuyệt, để được hướng trọn vẹn tai mắt, trí, ý vào chân lý của Đảng mà thôi. Vì thế nhìều đảng viên phải giả điếc trước tiếng nói của Tâm tình, của Lương tâm để tuân theo chỉ thị cấp trên, bắt phải hoạt động như cơn sốt rét để khỏi nghe tiếng lòng . . .

2.- Giáo dục khai phóng

Bây giờ chúng ta trở về với Chân lý khai phóng của Việt Nho, nó có những đặc tính sau đây :

1.-Trước hếtsự thanh thoát trong đường lối Giáo dục , được tượng trưng trong việc “Đi tắm sông Nghi, hóng mát trên dài Vu Vũ, ca hát mà trở về ” . Thật là nhẹ nhàng cởi mở, giàu tính chất Tâm linh thanh thoát ( xem Tâm Tư , chương IV ) .

Còn về sách vở tuyệt nhiên không bao giờ lấy nó làm tiêu chuẩn tối hậu kiểu Mặc Địch để chúng chắn đường con người trở lại với Tâm mình. Nếu có dùng sách thì cũng không có những sách chặt chẽ kiểu ý hệ, mà là những sách có lối văn lỏng lẻo, cởi mở như Thi , Thư , Lễ , Nhạc , không có chút chi trói buộc Tâm hồn. Đã vậy cũng không có nhịp điệu chung nào Anh này ra một ý chưa múc cạn, thì cứ múc đi; vài ba tuần dăm ba tháng mới trở lại gặp thầy cũng được.

2.-Điểm thứ hai, đối với những tư trào khác, thì nên tránh công kích : “ Công hồ dị đoan, tư hại dã dĩ đoan ” . Vậy có nghĩa là Dung thông.

Tất nhiên chỉ Dung thông những tư trào nào vẫn để cho mình được phép mãi mãi dung thông. Vì nếu bừa bãi chấp nhận những thuyết đầy chất độc hữu, thì ngày nào thắng thế, nó phải bắt mình cũng phải độc hữu . Y như Việt cộng hiện nay, biết bao người chỉ đón rước cộng sản như để mở rộng đường suy tư, có ngờ đâu đến lúc nó thắng thế, thì dù muốn dù chăng mình cũng phải trở thành một chiều như nó . Vì thế nhân danh tinh thần Tương Dung mà chấp nhận bất cứ tư trào nào là một thứ “ ba phải ” rất tai hại.

3.-Cái nét cuối cùng của Việt Nho là đề cao việc trở lại với Tâm tư mình. Có theo ông thầy thì chẳng qua mình thấy ông nói hợp Tâm Trí mình chứ không phải vì là của ông. Vì thế có đi cùng một đường với ông, cũng chính là đường của mình. Đại để đó là mấy nét biểu thị nền Giáo dục của Nho giáo Nguyên thuỷ, tức cũng là Việt Nho.”

D.- HAI NỂN TẢNG CỦA GIÁO DỤC

Huấn linh và Bác vấn. Để được xứng danh là một nền Giáo dục phải có hai phần Huấn linh và Bác vấn :



I.- Huấn linh ( Chỉ sự Đào luyện: formation ) < THÀNH NHÂN > “ Muốn đào luyện phải có Cơ sở tinh thần để y cứ và để tài bồi vun tưới trở lại rồi trở đi mãi mãi, có thế mới là Huấn, mới là Luyện. Chữ luyện nói lên sự đi lại nhiều lần mãi mãi cho tới độ đạt thuần thục và tinh ba, nên cũng gọi Thần là Linh, gọi tắt là Huấn linh.

II.- Bác vấn: Chỉ sự Quảng vấn ( : information < THÀNH THÂN > Là hiểu biết Rộng

Song song với Huấn linh như Hồn, thì cần phải có Bác vấn như Xác, tức là Cách học Quảng vấn ( information ).

Bác học là chiều Rộng,

Huấn linh là chiều Sâu.

Chiều Rộng càng lớn thì giúp cho chiều Sâu vào sâu hơn nữa. Hiện nay các nền giáo dục hầu hết đều rộng quá rộng, đến độ để cho Bác vấn lấn át Huấn linh, khiến cho giáo dục thiếu mối Quán nhất Nội tại.

Thực ra sự biết rộng ( bác vấn ) là một điều hay dành cho một số nhỏ có khả năng bách khoa mà không hợp cho phần đông chỉ cần một tầm học vấn thông thường, cùng lắm là hai ngành chuyên môn mà thôi. Nhờ có óc thiết thực, mà Mỹ Anh Nga đã dám làm cuộc Cách mạng giáo dục. Chương trình trung học mà nặng về Bác vấn mà bỏ qua Huấn linh là nền giáo dục bì phu, bỏ Gốc ôm Ngọn, như thế thì làm sao gây nên những cán bộ Văn hoá, tạo được niềm tin tưởng để gắn bó người trong nước thành một mặt trận Tinh thần.”

( Dịch Kinh Linh Thể. Kim Định )

E.- ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC

Khi đã có Mục tiêu rồi thì cần phải biết Hướng phải nhắm tới để đạt Mục tiêu.

I.-Cần phải định hướng


Tất cả chúng ta đều là một thế hệ đã trốc Gốc. Hơn thế nữa trốc Gốc nói đây không chỉ là trốc Gốc đối với Nước non, nhưng thật ra còn xa hơn nhiều đó là trốc hết Mọi Gốc: Gốc Xã hội, Gốc Tiên tổ, Gốc Dòng tộc, Gốc Thiên Địa. Không riêng gì một ai mà tất cả mọi người khai sáng ra nền văn minh hiện đại đều là trốc Gốc.

“Bởi vì một trong những nét đặc trưng của con Người Văn minh khi nói cách tổng quát thì chính là sự tan rã giữa Lòng nó:



Bệnh cân não thần kinh chỉ là một trường hợp đặc biệt của Người văn minh đang Bất hòa với chính mình ngay trong việc nó phải giàn hòa với Thiên nhiên với Văn hóa ở chính nơi Lòng nó”. (Jung, Psychologie de l'Insconcient p.47)
Mấy lời trên có thể coi như nhân chứng, như một tiếng thét vang dậy để nhắc nhở con Người phải tìm ra Hướng Đi, Hướng Học, Hướng Sống. Bởi vì: “không có một ngọn gió nào giúp ta được, nếu ta không có một Bến nào để đến. (Montaigne)”
Nhân tâm như Thuyền, Đạo tâm như Lái. Ngồi Thuyền mà không Lái, thì chẳng biết đi ngả nào. Nhưng cầm vững lái thì lại là ở Mình” (nhược chấp định đà tắc khứ vãng tại ngã, Chu Hy).

Tìm ra cho việc Học một Hướng đi đó là Vấn đề tối yếu.
Thiếu Hướng đi đó có học già đời cũng vẫn là Học quẩn, cũng vẫn vong Thân, cũng vẫn quay cuồng trước các luồng gió lốc và nếu không mắc Tâm não bệnh (névrosé) thì ít nhất cũng bị tản mát Nhân Tâm rồi suốt một đời, hay cả đến bao thế hệ cũng không kiến tạo nên được cái chi có giá trị, có Tinh thần bền bỉ.

Vì thiếu Hướng nên không thể Lâu, thiếu Lâu làm sao đi Xa, không đi Xa thì làm chi có Sáng soi Nồng cháy.

Xét đến Cá nhân cũng thế: không thiết học, vì cái học có chi đâu mà thiết nên thời gian lãng phí hết vào những chuyện nhảm, tin tức.

Vì vậy tìm ra một Hướng đi cũng là tìm ra được Nguồn mạch vui sống hăng say an tĩnh và bình thản. Có An tĩnh mới có Lự, tức là Lo liệu chu đáo về những Công việc mình làm, mới hòng Đắc tức là thành công.

Đại học nói: “Tri chỉ nhi hậu hữu định. Định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an. An nhi hậu năng lự. Lự nhi hậu năng đắc” 知止而后有定。定而后能静。静而后能安。安而后能慮 。慮而后能得。(Đại học 1): Có biết dừng lại thì mới ổn định, có ổn định thì an tĩnh, có an tĩnh để lo liệu chu đáo mọi công việc thì mới thành công.


Nói thật ra có lẽ không ai chối sự thiết yếu cần phải Định Hướng cũng như cần phải có Hòa hợp Thống nhất.
Tuy nhiên muốn là một chuyện mà làm được, biết làm cách nào là chuyện khác. Trong giảng khóa này chúng ta sẽ cố đóng góp vào việc đó bằng đưa ra một ít phân biệt, vì có phân biệt mới dọi được tia sáng vào cái cảnh “Hỗn mang chi sơ, vị phân Thiên Địa” đang bao trùm nền Học vấn cũng như Văn hóa hiện nay.
Cần phải có nhiều nhận xét phân biệt rành rẽ về những vấn đề đang đặt ra cho thời đại, mới trông đẩy sát tới bờ hoạt động cách hữu hiệu.

Nếu chỉ dừng lại ở những câu chung khái quát, thì không sao đạt được giải pháp hữu hiệu. Người ta đã nói cả từ trăm năm rồi về sự cần phải Tổng hợp Đông Tây, điều đó càng ngày thấy càng bách thiết mà sao vẫn chưa làm được, ấy vì còn chưa đi vào tận Nền móng. Có một điều lạ là ai cũng mong mỏi Tổng hợp, nhưng hễ nói đến thì như có một sự e ngại, đề phòng hoặc đả kích. Đâu là lý do của thái độ kỳ lạ đó? Khi xem kỹ lại thì do sự thiếu nhận thức sâu xa về ý niệm Thống nhất, thứ đến là Tiêu chuẩn Học Hành rất lờ mờ. Vì thế chúng ta sẽ phân tích kỹ hai ý niệm then chốt về Thống nhất mà ta cần phải phân biệt với Đồng nhất.


II.-Thống nhất với Đồng nhất

Đồng nhất là thái độ do Nguyên lý Nhị nguyên: lấy Một bỏ Một, chấp nhận tất cả hoặc không chấp nhận gì, ou tout ou rien, không có giải pháp thứ ba- “tertium non datur” ta quen gọi là “diệt tam”, “tiers exclu” vì người theo óc Nhị nguyên thường có thái độ độc chuyên, độc hữu (exclusif) bắt mọi người nghe theo y như nhau kiểu “Thượng đồng” của Mặc Địch, của Phát xít. Phát xít Đức nói “ mục đích nền giáo dục quốc xã là làm cho 80 triệu người Đức trở thành 80 triệu tác động phản đáp theo lối nhìn đời và xử sự của Adolf Hitler”.
Đó là một lối Đồng nhất hóa con Người.
Con người sống với nhau cần phải có đồng nhất nếu không thì đời sống công cộng tan vỡ liền. Đường phải tránh một chiều tay trái hay tay phải: ai cũng phải tuân theo. Đến 9 giờ tối ai cũng phải vặn radio nhỏ lại, nếu không sẽ làm mất giấc ngủ người bên và tỏ ra thiếu giáo dục. Việc công dân ai cũng phải chu toàn v.v... những ích lợi này thiết thực quá không ai chối cải được nổi và đó chỉ là kỷ luật.

Nhưng khi biến nó thành độc hữu để choán chỗ tinh thần: như suy tư, tín ngưỡng tự do thì đó là vượt biên giới cần thiết của kỷ luật để biến nó ra đồng nhất rất tai hại cho con Người.

Con người là giống Lưỡng thê: một chiều sống trong xã hội còn chiều sâu Tinh thần, Tình cảm cần được Tự do.

Vì thế mà người ta không thể chịu nổi đường lối Đồng nhất (massification), và ngày nay mỗi khi nói đến Thống nhất thì phản động tự nhiên là e ngại đề phòng.
Chính vì thiếu nhận thức về Thống nhất hoặc vì Thống nhất phần nhiều chỉ có tiếng còn trong thực chất là Đồng nhất, nên hễ nói đến Thống nhất thì tất nhiên là chống đối là phản động. Nhưng trong Triết lý hễ đã phản động thì đến 99% là đi sang cực đoan ngược hẳn lại tức đa phương (pluralisme) với tâm trạng “ mèo bỏng sợ tro lạnh “ và do đó dễ đề cao một sự tự do tuyệt đối bất chấp đời sống thực tại trên bình diện xã hội. Muốn đưa tự do của tinh thần áp dụng cả vào đời sống cụ thể.

Thế là rơi sang cực đoan khác tuy chống đối lại cực đoan đồng nhất, nhưng cả hai vì là chống đối nhau, nên cùng ở trên một bình diện Nhị nguyên là chọn một bỏ một.
Lấy thí dụ về hòa Nhạc mà nói thì đồng nhất bắt mọi người phải cử một bài theo nhịp của một nhạc trưởng. Từ sự hợp lý đó sẽ đi đến chỗ bắt mọi người phải dùng một nhạc khí như nhau, thế là quá đáng, liền khởi lên một phản ứng trái hẳn lại đòi cho mỗi người được tự do sử dụng thứ nhạc khí ám hợp cho tài năng, sở thích của mình.

Đây là một sự hết sức hợp lý, nhưng từ chỗ hợp lý đó lần sang đến yêu sách đòi mỗi người cử một bài riêng, theo một tiết điệu tự do. Và thế là trở thành mớ âm thanh hỗn loạn. Đấy là một hình ảnh cho dễ hiểu, trong thực tế chẳng ai đòi như vậy. Tuy nhiên trong Triết lý lại xảy ra như thế.




Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   29


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương