Viện khoa học và CÔng nghệ MỎ luyện kim báo cáo tổng hợP ĐỀ ÁN


Bối cảnh kinh tế quốc tế, khu vực và trong nước



tải về 2.61 Mb.
trang22/32
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích2.61 Mb.
1   ...   18   19   20   21   22   23   24   25   ...   32

6.4. Bối cảnh kinh tế quốc tế, khu vực và trong nước

6.4.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực


a. Hòa bình, hợp tác phát triển vẫn là xu thế chủ đạo

An ninh chính trị ở một số nơi trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khả năng xảy ra chiến tranh xung đột cục bộ, nhất là giữa nước lớn với nước nhỏ có chiều hướng gia tăng kéo theo xung đột chính trị - kinh tế, trừng phạt, cấm vận lan rộng. Luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, nhiều trường hợp bị diễn giải, áp dụng một cách tùy tiện nhằm phục vụ lợi ích của các nước lớn.

Tuy nhiên, hòa bình, hợp tác phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Các quốc gia, các khu vực trên thế giới vẫn tiếp tục đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế thông qua một loạt các hiệp định thương mại song phương và đa phương.

b. Kinh tế thế giới và khu vực phục hồi đà tăng trưởng nhưng còn chậm, không đồng đều và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cạnh tranh lợi ích kinh tế - chính trị giữa các nước ngày càng gay gắt, bảo hộ ngày càng quyết liệt.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế – IMF (2015) cho rằng, kinh tế thế giới đến nay đã vững mạnh hơn so với các năm trước và được kỳ vọng sẽ tiếp tục phục hồi trong các năm tiếp theo nhờ các nền kinh tế phát triển đã dần thoát ra khỏi tình trạng tăng trưởng trì trệ, cho dù tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển lại có phần chậm lại, chủ yếu do tăng trưởng của Trung Quốc chậm lại. Những biến động về kinh tế, chính trị ở một vài khu vực trên thế giới gần đây cũng ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng của kinh tế thế giới. IMF dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu đến năm 2019 vẫn duy trì được tốc độ tăng 3,9%. Các dự báo này phản ảnh xu hướng phục hồi của kinh tế thế giới đã vững mạnh hơn. Cùng với sự phục hồi của kinh tế thế giới, tăng trưởng thương mại toàn cầu cũng được dự báo tăng hơn các năm trước.



c. Toàn cầu hóa tiếp tục phát triển, các vấn đề toàn cầu diễn biến phức tạp hơn trước, liên kết kinh tế ngày càng mở rộng, linh hoạt và khó lường.

Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh giữa các nước để bảo vệ lợi ích quốc gia. Quá trình hình thành các khu vực thương mại tự do hình thức mới được đẩy nhanh tại hầu khắp các khu vực trên thế giới, nhất là châu Á - Thái Bình Dương.

Thế giới chuyển nhanh hơn sang cục diện đa cực do thay đổi nhanh chóng trong tương quan sức mạnh và quan hệ giữa các nước lớn. Quan hệ Mỹ - Trung ngày càng nổi trội, các nước đều điều chỉnh chính sách và quan hệ theo hướng “thực dụng và linh hoạt”. Quan hệ giữa các nước lớn về cơ bản vẫn theo hướng vừa hợp tác vừa đấu tranh và chịu tác động ngày càng lớn của quan hệ giữa hai nước Mỹ - Trung.

Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế. Cho đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 180 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, có quan hệ kinh tế với hơn 220 thị trường nước ngoài và là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế, trong đó có hợp tác ASEAN (1995), diễn đàn hợp tác Á - Âu ASEM (1996), diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương APEC (1998), tham gia hội nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO (2006). Việc tham gia Hiệp định TPP được coi là một bước đi quan trọng của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và được xem như cơ hội lớn để Việt Nam đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng như của cộng đồng doanh nghiệp.



d. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang trở thành trung tâm phát triển kinh tế thế giới.

Đông Á tiếp tục là khu vực phát triển năng động. Vai trò trung tâm kết nối của ASEAN trong các thiết chế khu vực tiếp tục được khẳng định song gặp nhiều thách thức cả bên trong và bên ngoài. Tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn, nhất là Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ trong khu vực ngày càng lớn, diễn biến rất phức tạp. Chủ nghĩa dân tộc có xu hướng gia tăng, tranh chấp lãnh thổ biển đảo, tài nguyên tiếp tục gay gắt và rất khó lường. An ninh, an toàn tự do hàng hải trên biển tiếp tục là vấn đề nổi trội, tiềm ẩn xung đột trong nhiều năm tới.



e. Khoa học công nghệ phát triển nhanh, vượt bậc trong một số lĩnh vực; kinh tế xanh, kinh tế tri thức và kinh tế kỹ thuật số đang trở thành xu hướng phát triển mới.

Khoa học và công nghệ trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ càng ngày càng cao trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, trong đó có thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản nói chung và đối với khoáng sản sắt nói riêng. Đây là điều kiện thuận lợi để định hướng phát triển khoa học công nghệ đối với Quy hoạch hệ thống sản xuất và phân phối các mặt hàng thép.



f. Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh năng lượng, lương thực, nguồn nước, an ninh mạng, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia... trở thành các thách thức ngày càng nghiêm trọng.

6.4.2. Bối cảnh trong nước


a. Trước tình hình mới, đã có sự thay đổi về quan điểm, nhận thức căn bản ở các cấp các ngành từ Trung ương đến địa phương.

Trước hết, có quyết tâm chính trị cao trong Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây về vai trò và ý nghĩa của cải cách thể chế, của phát triển nguồn nhân lực cũng như phát triển kết cấu hạ tầng. Các lĩnh vực này đã được khẳng định là các đột phá chiến lược nhằm đảm bảo thực hiện thành công các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới.

Vai trò của các khu vực thể chế trong phát triển kinh tế - xã hội đã được xác định lại, theo đó khẳng định sự tham gia của các lực lượng xã hội, đồng thời xác định lại vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và trong các lĩnh vực đột phá nói riêng theo hướng mở rộng hơn sự tham gia của khu vực tư trong phát triển và cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công.

Một trong những nhận thức cơ bản đã được đổi mới đó là sự thay đổi và đánh giá lại tiềm lực quốc gia, đánh giá lại vai trò của các nguồn lực trong nước và nước ngoài theo đó cần phải đẩy mạnh khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nội lực, tranh thủ hợp lý có hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài nhằm bảo đảm sự ổn định vĩ mô và phát triển bền vững.

Thực hiện chủ trương đó, Chính phủ đã và đang chỉ đạo quyết liệt việc xây dựng và triển khai các chương trình, dự án trong các ngành, lĩnh vực đột phá như: Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, các dự án, đề án nhằm thực hiện ba khâu đột phá chiến lược, v.v…Các chính sách này đã có tác động trực tiếp đến tổng thể nền kinh tế Việt Nam.

b. Thế và lực của nước ta sau 30 năm đổi mới đã lớn mạnh hơn và có nhiều bài học quý trong lãnh đạo, quản lý và điều hành phát triển kinh tế - xã hội.

Mặc dù kinh tế nước ta đang phục hồi tăng trưởng, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định nhưng còn nhiều khó khăn, thách thức, khoảng cách tụt hậu so với khu vực về phát triển ngày càng khó thu hẹp, khả năng rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” còn lớn, khoảng cách giàu nghèo ngày càng doãng ra, tác động của biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng. Trong giai đoạn tới, quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, toàn diện, bên cạnh việc mở ra nhiều cơ hội cho phát triển nhưng cũng đặt ra những thách thức lớn về cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế như thực hiện Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc và ASEAN với các đối tác khác, triển khai thực hiện Cộng đồng Kinh tế ASEAN, thực hiện đầy đủ các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các cam kết có tiêu chuẩn cao trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới.



c. Những khó khăn về kinh tế trong những năm gần đây và triển vọng trong giai đoạn tới

Tiềm lực kinh tế đất nước mặc dù ngày càng lớn, khả năng tích lũy đầu tư ngày càng cao. Tuy nhiên, việc duy trì liên tục tỷ lệ tích lũy/đầu tư ở mức cao có ảnh hưởng không nhỏ đến ổn định kinh tế vĩ mô trước tác động của bối cảnh quốc tế trong những năm gần đây với sự khủng hoảng và suy thoái kinh tế của các nước phát triển.

Trước bối cảnh đó, Chính phủ đã và đang áp dụng các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô theo đó đẩy mạnh kiểm soát nợ công, cắt giảm chi tiêu công, giảm tỷ lệ tích lũy/đầu tư so với GDP. Trong giai đoạn 2011÷2020, huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bình quân chiếm tỷ trọng xấp xỉ khoảng 35% so với GDP (giảm xuống dưới 40% là tỷ lệ của những năm 2006÷2010). Dự báo khả năng nguồn vốn đầu tư có thể huy động thời kỳ 2016÷2020 đạt khoảng 30÷33% so với GDP.

Dự kiến bước sang giai đoạn 2016÷2020, kinh tế trong nước sẽ có sự phục hồi nhưng chưa mạnh mẽ, duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát. Mức độ gia tăng vốn đầu tư (đặc biệt là đầu tư nước ngoài) đạt được tương đương hoặc thấp hơn giai đoạn 2011÷2015 nhưng xu hướng cải thiện hiệu quả vốn đầu tư tiếp tục được phát huy trong giai đoạn 2016÷2020. Tốc độ tăng trưởng GDP dự báo đạt bình quân 6,5%/năm. Huy động vốn đầu tư phát triển trên GDP đạt khoảng 30,0%; Các cân đối vĩ mô được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức khoảng 6,5÷7%; GDP bình quân đầu người khoảng 2.800÷3.000 USD vào năm 2020; Năng suất lao động xã hội tăng bình quân khoảng 4÷5%/năm (tính theo giá so sánh 2010). Tỷ lệ đô thị hoá đạt 38÷40% vào năm 2020.

Giai đoạn 2020÷2025, nước ta lúc này cơ bản là một nước công nghiệp. Nội dung bao trùm của giai đoạn này là tiếp tục thực hiện CNH-HĐH để xây dựng nền công nghiệp vững mạnh, có đủ điều kiện canh tranh với các nước trong khu vực. Đồng thời tiếp tục hội nhập quốc tế theo chiều sâu, nâng cao khả năng cạnh tranh và vị thế của đất nước. Trong giai đoạn này, sự phát triển của đất nước dựa chủ yếu vào nguồn lực nội sinh trong nước, phần ngoại sinh mang tính hỗ trợ.

Giai đoạn 2025÷2035 là giai đoạn đất nước ta đã chuẩn bị tốt những điều kiện nền tảng như: kết cấu hạ tầng, khung thể chế, đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước, hoạt động khoa học và công nghệ, quản lý doanh nghiệp, quan hệ sản xuất đã được hoàn thiện, lực lượng sản xuất phát triển với cơ cấu hợp lý, lực lượng lao động đã có trình độ cao, đáp ứng được với yêu cầu của công việc ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ. Đây là giai đoạn quan trọng có tính đột phá để tạo nên bước nhảy vọt đưa nước ta thành một nước công nghiệp hiện đại.



d. Sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển công nghiệp, khu công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp cả nước

Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc chiếm khoảng 4,64% diện tích và trên 16% dân số cả nước, tạo ra đến trên 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), nơi tập trung tới trên 25÷30% sản lượng công nghiệp của cả nước, đồng thời cũng là nơi tập trung tới 18% số khu công nghiệp cả nước.

Vùng kinh tế trọng điểm cũng là nơi có hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối phát triển, đảm bảo kết nối thuận tiện giữa các tỉnh trong vùng và ngoài vùng, đồng thời là nơi tập trung nhiều nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội, là thị trường (theo nghĩa rộng) cho sự phát triển chung của toàn vùng.

Việc đầu tư mới, mở rộng và nâng cấp các trục đường cao tốc Hà Nội (Nội Bài) - Lào Cai, Nội Bài - Hạ Long, đường Quốc lộ số 18, đường Quốc lộ số 5 (mới) đã và sẽ tiếp tục tạo cơ hội phát triển mới cho các tỉnh Bắc Bộ nói chung, các tỉnh phía Bắc sông Hồng, các tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc trong đó có Vĩnh Phúc nói riêng, đặc biệt là trong phát triển công nghiệp.

Hệ thống cảng biển khu vực cụm cảng số 1 (bao gồm Quảng Ninh và Hải Phòng) đã và đang được đầu tư trở thành cụm cảng lớn nhất phía Bắc gắn với hệ thống đường bộ ngày càng được đầu tư hiện đại mở ra cơ hội rất lớn cho sự phát triển của công nghiệp thép Việt Nam.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   18   19   20   21   22   23   24   25   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương