Viện khoa học và CÔng nghệ MỎ luyện kim báo cáo tổng hợP ĐỀ ÁN


Dự báo các yếu tố trong nước tác động đến hoạt động sản xuất và phân phối thép



tải về 2.61 Mb.
trang21/32
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích2.61 Mb.
1   ...   17   18   19   20   21   22   23   24   ...   32

6.4. Dự báo các yếu tố trong nước tác động đến hoạt động sản xuất và phân phối thép

6.4.1. Chủ trương, chính sách có liên quan của Đảng và Nhà nước


Trong giai đoạn 2010÷2015, hoạt động sản xuất thép đã đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội nước ta như đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của nền kinh tế, có kim ngạch xuất khẩu ròng góp phần giảm nhập siêu ít nhiều và tạo nhiều việc làm với mức thu nhập tương đối cao. Có được kết quả này là nhờ một phần vào sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với những chủ trương, chính sách hữu hiệu nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Cơ chế, chính sách và pháp luật tạo ra những bất cập, rào cản do không theo kịp sự phát triển của ngành thép đều đã, đang và tiếp tục được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo khắc phục bằng việc xây dựng mới hoặc sửa đổi và bổ sung với xu hướng ngày càng minh bạch, chặt chẽ, có lộ trình thực hiện và khả thi hơn.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về đầu tư, quản lý, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng hiệu quả, công nghệ sạch trong sản xuất thép…đã ban hành đến nay tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ.

Chủ trương về hạn chế, giảm xuất khẩu khoáng sản thô và từ năm 2020 sẽ chấm dứt xuất khẩu khoáng sản chưa qua chế biến sâu được thể hiện nhất quán trong Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; trong các chiến lược: Khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2011), Xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011) và Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012) và nhất là Thông tư 03/2014/TT-BCT quy định về công nghệ, thiết bị sản xuất gang, thép.

Quyết định 7896/QĐ-BCT ngày 05/09/2014 áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội dạng cuộn hoặc tấm từ Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Đài Loan.

Quyết định số 862/QĐ-BCT về việc áp dụng thuế tự vệ tạm thời đối với mặt hàng phôi thép và thép dài với mức thuế là 23,3% đối với phôi thép dưới dạng thuế nhập khẩu bổ sung và 14,2% đối với thép dài dưới dạng thuế nhập khẩu bổ sung, áp dụng với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau.

Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BCT-BKHCN ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản lý chất lượng thép trong nước và thép nhập khẩu.

Các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nêu trên chắc chắn sẽ có tác động mạnh và trực tiếp đến sự phát triển ngành thép trong tương lai.

- Tác động tích cực:

+ Thúc đẩy xuất khẩu thép thành phẩm;

+ Thu hút đầu tư nước ngoài;

+ Tăng trưởng kinh tế, việc làm;

+ Thay đổi hệ thống pháp lý minh bạch, rõ ràng hơn;

+ Tăng hiệu quả và góp phần tái cấu trúc nền kinh tế;

+ Hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới;

+ Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, thúc đẩy quan hệ với các đối tác chiến lược.

- Tác động tiêu cực:

+ Nhập khẩu thép tăng, đặc biệt là trong những năm đầu thực hiện cam kết;

+ Chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn từ hàng hóa và dịch vụ nước ngoài;

+ Không gian điều chỉnh chính sách bị thu hẹp;

+ Thu ngân sách từ thuế nhập khẩu bị giảm.

6.4.2. Triển vọng phát triển kinh tế xã hội của nước ta


Thế giới hiện đang trong bối cảnh khó khăn với những diễn biến phức tạp khó lường về kinh tế, xã hội và địa chính trị. Dự báo trong những năm tiếp theo, khủng hoảng tiền tệ ở nước Nga, nợ công khu vực Eurozone, lạm phát tăng cao, chính trị xã hội bất ổn ở nhiều nước và xung đột về địa chính trị, tranh chấp lãnh thổ gia tăng trong một số khu vực trên thế giới sẽ còn tiếp diễn nên không chỉ làm chậm quá trình phục hồi kinh tế thế giới mà còn có khả năng đẩy kinh tế thế giới rơi tiếp và sâu hơn vào trạng thái suy thoái. Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nên không thể tránh khỏi tác động tiêu cực do những diễn biến phức tạp trên gây ra.

Tuy nhiên, bối cảnh khó khăn và phức tạp khó dự đoán trên cũng tạo ra nhiều cơ hội phát triển mới cho nước ta trong quá trình triển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016÷2025 nhằm đạt được mục tiêu "đến năm 2025 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau". Một số mục tiêu về kinh tế của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2016-2025 như sau:

- Đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7÷8%/năm, GDP năm 2020 (giá so sánh) bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010 và GDP bình quân đầu người năm 2025 (giá thực tế) đạt khoảng 3.000-3.200 USD;

- Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% GDP, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP;

- Yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng GDP đạt khoảng 35%, tiêu hao năng lượng tính trên GDP giảm khoảng 2,5÷3%/năm;

- Kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ với một số công trình hiện đại, tỷ lệ đô thị hoá đạt trên 45% và khoảng 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.

Thực hiện "cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, thực hiện đồng bộ trong tất cả các ngành, các lĩnh vực trên phạm vi cả nước và từng địa phương, đơn vị cơ sở, sản phẩm chủ yếu, với tầm nhìn dài hạn và có lộ trình cụ thể" theo Nghị quyết số 10/2011/QH13 ngày 08/11/2011 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015; đặc biệt là thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 08/6/2012 nhằm triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TƯ ngày 16/01/2012 của Ban chấp hành Trung ương về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, sẽ đem lại triển vọng tươi sáng không chỉ cho nền kinh tế mà còn cho cả ngành công nghiệp thép giai đoạn 2016-2025 và xa hơn, đến năm 2035. Minh chứng rò ràng cho kết quả thực hiện chủ trương chiến lược nêu trên đó là tăng trưởng của khu vực công nghiệp hàng năm luôn cao hơn trước đã góp phần làm cho tăng trưởng GDP thoát đáy, phục hồi và tăng tốc đi lên, tạo tiền đề để nền kinh tế tăng trưởng hoàn thành mục tiêu của kế hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 cũng như Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020.

Theo Báo cáo “Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035”, và “QH tổng thể phát triển công nghiệp VN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, công nghiệp Việt Nam được định hướng phát triển trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 như sau:

- Từng bước điều chỉnh mô hình tăng trưởng công nghiệp từ chủ yếu dựa trên số lượng sang dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, đẩy mạnh phát triển các ngành và SPCN có giá trị gia tăng cao, giá trị XK lớn; gắn kết sản xuất với phát triển dịch vụ công nghiệp.

- Tập trung phát triển CNHT, đặc biệt là nhóm sản phẩm cơ khí, hóa chất, điện tử viễn thông phục vụ sản xuất công nghiệp.

- Điều chỉnh phân bố không gian công nghiệp, đảm bảo phù hợp giữa các vùng trên toàn quốc, giải quyết tình trạng mật độ công nghiệp cao ở một số khu vực, đảm bảo cân đối và hài hòa giữa các vùng và địa phương.

- Phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên tại các vùng công nghiệp lõi được hình thành từ mỗi vùng kinh tế trọng điểm và các khu kinh tế ven biển; chuyển dịch các ngành công nghiệp thâm dụng lao động, công nghiệp cơ chế, công nghiệp hỗ trợ từ các vùng công nghiệp lõi sang các vùng công nghiệp đệm.

Theo đó, nhóm ngành công nghiệp được lựa chọn ưu tiên phát triển trong giai đoạn đến năm 2025 sẽ là các nhóm ngành cơ khí và luyện kim (máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp, ô tô và phụ tùng cơ khí, thép chế tạo); nhóm ngành hóa chất (hóa chất cơ bản, hóa dầu, linh kiện nhựa-cao su kỹ thuật); nhóm ngành chế biến nông, lâm, thủy sản; nhóm ngành Dệt may-da giày (ưu tiên SX nguyên phụ liệu); nhóm ngành điện tử-viễn thông (sản phẩm thiết bị máy tính, điện thoại và linh kiện); ngành năng lượng mới và năng lượng tái tạo.

Có vai trò động lực và trụ cột của nền kinh tế, Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 được hoạch định mục tiêu tổng quát đến năm 2025, công nghiệp Việt Nam phát triển với cơ cấu hợp lý theo ngành và lãnh thổ, có khả năng cạnh tranh để phát triển trong hội nhập, có công nghệ hiện đại và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở một số chuyên ngành, lĩnh vực, có khả năng đáp ứng cơ bản các yêu cầu của nền kinh tế và xuất khẩu; đội ngũ lao động có đủ trình độ đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiện đại. Đến năm 2035, công nghiệp Việt Nam được phát triển với đa số các chuyên ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, cạnh tranh bình đẳng trong hội nhập quốc tế; đội ngũ lao động chuyên nghiệp, có kỷ luật và có năng suất cao, chủ động trong các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo. Một số mục tiêu cụ thể của Chiến lược phát triển công nghiệp được trình bày trong bảng 6.33.

Bảng 6.33. Các chỉ tiêu chiến lược phát triển công nghiệp đến 2035


Các chỉ tiêu chiến lược

Đến 2025

2026-2035

Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm công nghiệp (%/năm)

6,5÷7,5

7,5÷8,0

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp (%/năm)

11,0÷13,0

10,5÷11,0

Tỷ trọng công nghiệp-xây dựng trong GDP (năm cuối kỳ, %)

43÷44

40÷41

Tỷ trọng hàng công nghiệp xuất khẩu so với kim ngạch xuất khẩu (năm cuối kỳ, %)

85÷88

> 90

Giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao trong GDP (năm cuối kỳ, %)

45

> 50

Tỷ lệ phát thải khí nhà kính công nghiệp (%/năm)

4,0÷4,5

Như vậy, có thể thấy rằng bối cảnh phát triển sẽ kích thích và đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất thép phải cơ cấu lại hoạt động sản xuất kinh doanh và mô hình tổ chức theo hướng chuyên sâu, củng cố lại nguồn lực đầu tư và nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh. Các hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ, phát triển mạnh mẽ, nhất là các hệ thống kết cấu hạ tầng cứng, sẽ thúc đẩy các ngành, lĩnh vực công nghiệp, trong đó có ngành công nghiệp Thép, phát triển vượt bậc.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   17   18   19   20   21   22   23   24   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương