Viện khoa học và CÔng nghệ MỎ luyện kim báo cáo tổng hợP ĐỀ ÁN


CHƯƠNG 4. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH



tải về 2.61 Mb.
trang13/32
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích2.61 Mb.
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   ...   32

CHƯƠNG 4. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH

4.1. Tình hình kinh tế trong nước và thế giới ảnh hưởng đến thị trường thép, những bất cập, tồn tại, tính khả thi của việc thực hiện Quy hoạch

4.1.1. Tình hình kinh tế trong nước ảnh hưởng đến thị trường thép


Kể từ khi QH 694 được phê duyệt cho đến nay, tình hình kinh tế trong nước liên tục bị biến động. Tính từ năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm từ 2011÷2015, nước ta có những thuận lợi cơ bản như: tình hình chính trị ổn định; kinh tế - xã hội phục hồi trong năm 2010 sau hơn một năm bị tác động mạnh của lạm phát tăng cao và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Giai đoạn đầu 2011÷2013, kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Năm 2011, lạm phát ở mức độ rất cao (18,7%) buộc Chính phủ phải áp dụng nhiều biện pháp để kìm chế lạm phát như: cắt giảm đầu tư công, rà soát và cắt giảm dự án chưa thật sự cần thiết, không rõ hiệu quả và đầu tư kéo dài ở Trung ương cũng như ở địa phương, đặc biệt là chính sách thắt chặt tín dụng của các ngân hàng đối với các dự án bất động sản đã gây ra tình trạng đóng băng trong nhiều dự án trong cả nước. Việc điều chỉnh tỷ giá và lãi suất cho vay đã làm cho nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận với nguồn vốn vay của ngân hàng. Với mức lãi suất 20÷22%/năm đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ cuối năm 2013, với các chính sách đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kìm chế lạm phát, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp của Chính phủ, nền kinh tế nước ta đã phục hồi và tăng trưởng, đặc biệt là trong năm 2015. Điều này đã tạo cho ngành Thép nước ta phát triển với tốc độ nhanh và trở thành ngành đứng đầu trong các nước ASEAN.

Năm 2015 là năm ngành công nghiệp thép Việt Nam có những dấu ấn tích cực và được coi là năm của hội nhập. Tính đến cuối năm 2015, Việt Nam đã ký kết 12 Hiệp định Thương mại tự do (FTAs) đa phương và song phương với các khu vực và quốc gia. 02 FTAs đã được ký kết, bao gồm: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc; 02 FTAs đã kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU. Ngày 31/12/2015, Việt Nam cũng cùng các nước trong khối ASEAN chính thức xác lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).

AEC là khu vực có dân số 600 triệu người, tổng sản lượng (GDP) hàng năm khoảng 2.000 tỉ USD và là nền kinh tế đứng thứ 7 thế giới. Sản xuất thép thô của các nước AEC khoảng 22 triệu tấn và nhu cầu tiêu thụ hàng năm khoảng 68 triệu tấn thép. AEC là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây. Năm 2015, Việt Nam xuất siêu sang các nước AEC khoảng hơn 1,2 tỷ USD. Năm 2016, khi Formosa Hà Tĩnh đi vào sản xuất, ngành thép Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất thép lớn nhất trong khu vực.

Trong năm 2015, mặc dù tình hình kinh tế thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng với sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của Chính phủ, sự chủ động ứng phó của các Bộ, ngành trung ương và địa phương, nền kinh tế nước ta tiếp tục được phục hồi rõ nét và đạt kết quả cao hơn các năm trước. Tăng trưởng GDP năm 2015 đạt 6,68%, là mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây. Sản xuất công nghiệp phục hồi, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,8%, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng đến 10,60%. Tuy nhiên, theo nhận định của Hiệp hội Thép Việt Nam, nước ta có nguy cơ trở thành thị trường tiêu thụ thép nhập khẩu.

Như vậy, trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập rất sâu rộng. Điều này mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với ngành Thép Việt Nam.


4.1.2. Tình hình kinh tế thế giới ảnh hưởng đến thị trường thép


Trong báo cáo mới được công bố, Ngân hàng thế giới (World Bank) đã đưa ra những nhận định khá bi quan về kinh tế toàn cầu trong năm 2016. Tổ chức này nhận định rằng, đà giảm tốc của kinh tế Trung Quốc sẽ khiến thị trường hàng hóa tiếp tục suy sụp và ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế một số nước như: Brazil, Nga v.v…

World Bank hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2016 xuống còn 2,9%, so với mức 3,3% đưa ra hồi tháng 6. Năm ngoái, kinh tế thế giới tăng trưởng 2,4%, thấp hơn so với mức dự báo 2,8% hồi tháng 6 của World Bank và thấp hơn mức 2,6% của năm 2014.



Nguồn: World Bank Group

Hình 4.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới

Bức tranh ngày càng tối đi ở các thị trường mới nổi là lý do lớn nhất khiến kinh tế thế giới bước vào năm thứ 5 liên tiếp có mức tăng trưởng dưới 3%. World Bank cũng hạ dự báo tăng trưởng năm 2016 của Trung Quốc từ 7% xuống còn 6,7%. Kinh tế Brazil sẽ suy giảm 2,5% trong năm nay, trong khi kinh tế Nga giảm 0,7%.

“Kinh tế thế giới sẽ cần phải thích nghi với một thời kỳ mới trong đó các thị trường mới nổi tăng trưởng khiêm tốn hơn. Đặc trưng của thời kỳ này là giá hàng hóa sụt giảm và dòng chảy vốn cũng như thương mại lu mờ”, Phó Chủ tịch kiêm chuyên gia kinh tế trưởng của World Bank Kaushik Basu nhận định.

Mức nợ cao là rủi ro ngắn hạn của Trung Quốc. Tỷ lệ nợ/GDP của nước này cao hơn hầu hết các nước đang phát triển. Tuy nhiên, World Bank nhận định Chính phủ Trung Quốc vẫn còn dư địa để thúc đẩy tăng trưởng bằng chi tiêu công trong trường hợp tăng trưởng quá thấp.

Dự báo tăng trưởng cho kinh tế Mỹ cũng bị hạ từ 2,8% xuống còn 2,7% với nguyên nhân là đồng USD tăng giá sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu. Trong khi đó, chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ giúp Nhật Bản và eurozone duy trì được đà phục hồi mong manh.

Theo World Bank, triển vọng kinh tế thế giới sẽ được củng cố nếu các nền kinh tế lớn phục hồi đáng kể, giá hàng hóa ổn định và lãi suất tiếp tục ở mức thấp. Ngược lại, những rủi ro (dù khả năng xảy ra thấp) bao gồm tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi giảm mạnh, Mỹ tăng lãi suất quá nhanh, USD tăng giá và rủi ro địa chính trị.

Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, kinh tế Việt Nam đang tiếp tục phải đối mặt với rủi ro từ những biến động lớn trên thế giới, đặc biệt là việc giảm tốc và nguy cơ bất ổn từ Trung Quốc. Việt Nam là nền kinh tế nhỏ và có độ mở lớn nên sẽ nhạy cảm với những biến động trên thị trường thế giới.

Giai đoạn 2011-2015, nền kinh tế Trung Quốc – đứng thứ hai thế giới về tốc độ tăng trưởng đã giảm từ 9,3% xuống 6,9% nên kéo theo nhu cầu tiêu thụ thép giảm sút. Cụ thể: năm 2014 giảm 3,3% (24,3 triệu tấn) so với năm 2013; năm 2015 giảm 5,4% (38,5 triệu tấn) so với năm 2014, tạo ra sức ép xuất khẩu rất lớn. Năm 2014, Trung Quốc xuất khẩu 93 triệu tấn thép và năm 2015 xuất khẩu 112 triệu tấn thép. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến thị trường thép thế giới, đặc biệt là Việt Nam.

Do quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc khá lớn, nên với tín hiệu giảm tốc khá rõ rệt của kinh tế Trung Quốc, nước này có thể “xuất khẩu khủng hoảng” sang Việt Nam.

Theo thống kê của VSA cho thấy, tính chung trong năm 2015, Việt Nam nhập khẩu các sản phẩm thép thành phẩm khoảng 13,6 triệu tấn, tăng 22,56% so với năm 2014. Đáng chú ý, khoảng 1,78 triệu tấn phôi thép đã nhập khẩu vào Việt Nam, tăng 198% so với năm 2014; hơn 1,62 triệu tấn thép cuộn và dây thép nhập khẩu, trong khi sản xuất thép cuộn trong nước chỉ đạt 1,13 triệu tấn.

Đặc biệt, lượng thép Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam trong năm 2015 khoảng hơn 8,4 triệu tấn, giá trị hơn 3,7 tỷ USD, chiếm tỷ trọng khoảng hơn 60%. Nếu so sánh với năm 2014, lượng thép nhập khẩu năm 2015 tăng trên 57% về lượng và 13,6% về trị giá. Số còn lại là thép đến từ các thị trường khác, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, v.v…

Việc Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ sẽ tác động tiêu cực đến xuất nhập khẩu trong nước. Hiện nay, Trung Quốc đang đẩy mạnh việc xuất khẩu các mặt hàng thép vào thị trường Việt Nam. Các công ty thép Trung Quốc có thể hạ giá bán để đẩy mạnh doanh thu.

4.1.3. Những bất cập, tồn tại, tính khả thi của việc thực hiện QH 694


- Quy hoạch trên cơ sở mức độ nghiên cứu thấp, nghiên cứu thị trường thiếu chính xác, dẫn đến định hướng quy mô không phù hợp với đặc điểm từng vùng sản xuất thép cũng như chủng loại sản phẩm.

- Cấp phép cho một số chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính nên dự án không triển khai, triển khai chậm tiến độ, dở dang, ảnh hưởng đến công tác quản lý quy hoạch.

- Ban hành chưa kịp thời các cơ chế, chính sách nhằm ngăn chặn các sản phẩm thép chất lượng thấp nhập khẩu vào thị trường Việt Nam.

- Công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát các dự án đầu tư của ngành Thép theo Quy hoạch còn hạn chế. Việc kiểm tra tiến độ các dự án đầu tư mới chưa thường xuyên, chưa giải quyết kịp thời tình trạng dự án “treo”.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương