Viện khoa học và CÔng nghệ MỎ luyện kim báo cáo tổng hợP ĐỀ ÁN



tải về 2.61 Mb.
trang11/32
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích2.61 Mb.
1   ...   7   8   9   10   11   12   13   14   ...   32

2.6. Kết luận

2.6.1. Các kết quả đạt được


Trong thời gian qua, công tác quản lý Nhà nước về ngành Thép đã được quan tâm và tích cực triển khai thực hiện; Bộ Công Thương (Bộ quản lý ngành) đã tập trung chỉ đạo, triển khai các dự án đầu tư thượng nguồn theo định hướng quy hoạch là tăng năng lực sản xuất phôi thép trong nước, giảm sự phụ thuộc vào phôi thép nhập khẩu. Kết quả là, ngành sản xuất phôi thép và thép dài thành phẩm có mức gia tăng đáng kể, đáp ứng hoàn toàn nhu cầu trong nước, một số doanh nghiệp bước đầu đã tiến hành xuất khẩu (Hòa Phát, VNSTEEL, v.v...).

Sau hơn 3 năm thực hiện Quy hoạch, về cơ bản, ngành thép đã thực hiện được mục tiêu đáp ứng đầy đủ và kịp thời (bao gồm cả sản xuất và nhập khẩu) về số lượng và chủng loại các sản phẩm thép cho nền kinh tế, không để xảy ra tình trạng thiếu thép. Năng lực sản xuất thép ngày càng tăng về sản lượng và đa dạng về chủng loại.

- Về luyện gang: đã đầu tư thêm 7 lò cao từ 120÷750 m3 với tổng công suất thiết kế 2,645 triệu tấn gang/năm. Trong đó, 6 lò vẫn đang hoạt động với tổng công suất thiết kế 2,445 triệu tấn gang/năm. Tuy nhiên, sản lượng này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ.

- Về luyện phôi thép: đã đầu tư 6 lò điện hồ quang có dung lượng từ 40÷120 tấn với tổng công suất thiết kế 4,35 triệu tấn/năm; 5 lò chuyển có dung lượng từ 20÷50 tấn với tổng công suất thiết kế 2,32 triệu tấn/năm và 26 cặp lò cảm ứng trung tần có dung lượng từ 12÷50 tấn với tổng công suất thiết kế 1,67 triệu tấn/năm. Tổng công suất thiết kế của các loại lò luyện thép giai đoạn 2011÷2016 đạt tới 8,34 triệu tấn/năm, chiếm ~ 68% công suất thiết kế của ngành thép hiện nay (12,29 triệu tấn/năm). Với năng lực sản xuất hiện tại, ngành thép Việt Nam có khả năng đáp ứng 100% nhu cầu phôi thép.

- Về thép dài:

+ Thép xây dựng: đã đầu tư 11 nhà máy cán từ 250.000÷1.000.000 tấn/năm. Tổng công suất thiết kế của các nhà máy cán thép xây dựng giai đoạn này là 6,18 triệu tấn/năm. Năm 2015, sản lượng sản xuất – tiêu thụ thép xây dựng lần lượt là 7,2 triệu tấn và 6,95 triệu tấn. Như vậy, thép xây dựng đáp ứng 100% nhu cầu tiêu dùng trong nước.

- Về thép dẹt:

+ Thép dẹt cán nguội: Sản xuất sản lượng mỗi năm 1,2 triệu tấn, đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và đã xuất khẩu.

+ Tôn mạ và sơn phủ màu: Sản lượng năm 2015 đạt 3,3 triệu tấn đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, ngoài ra còn xuất khẩu. Đây là chủng loại sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, khó cân đối cung cầu ở phân khúc này. Để mở rộng thị trường tiêu thụ cũng tăng khả năng xuất khẩu, đề nghị bỏ phân khúc này ra khỏi Quy hoạch.

Như vậy, thời gian qua ngành thép phát triển mạnh với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, phát triển từ khâu thượng nguồn đến hạ nguồn. Cung cấp đủ một số chủng loại sản phẩm thép cho nền kinh tế quốc dân như thép xây dựng, tôn mạ các loại và đã tham gia xuất khẩu.

Nhờ việc tăng cường công tác quản lý nhà nước, có sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Công Thương với các địa phương nên trong thời gian qua không xảy ra tình trạng các địa phương cấp phép đầu tư các dự án ngoài quy hoạch như giai đoạn trước đây. Điều này cho thấy, công tác quản lý quy hoạch đã được thực hiện một cách nghiêm túc.

Toàn ngành đã tập trung đầu tư đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, đầu tư xây dựng các nhà máy mới với quy mô phù hợp, nâng cao năng lực sản xuất của ngành.

Ngành thép đã chú trọng đầu tư vào các DA quy mô lớn, sản xuất các sản phẩm trước đây chưa có như thép tấm cán nóng, thép lá cán nguội, v.v…

2.6.2. Các kết quả chưa đạt được


- Phát triển nhanh nhưng mất cân đối giữa phát triển thượng nguồn và hạ nguồn. Mặc dù ngành thép đã đáp ứng đủ nhu cầu phôi thép xây dựng, nhưng chủng loại thép hợp kim, đặc biệt là thép tấm cán nóng - nguyên liệu đầu vào cần thiết cho nhiều ngành như sản xuất thép cán nguội, tôn mạ, ống thép, đóng tàu, cơ khí chế tạo, có nhu cầu lớn (trên 9 triệu tấn/năm) trong nước lại chưa sản xuất được, hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu.

- Trong số các nhà máy sản xuất phôi đang hoạt động có nhiều nhà máy có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh kém. Đa số các nhà máy sản xuất phôi thép trong nước chủ yếu dựa vào công nghệ lò điện (4,5 triệu tấn/6 triệu tấn). Mặt khác, nguyên liệu sản xuất thép là thép phế trong nước lại không đáp ứng đủ, hàng năm phải nhập trên 3 triệu tấn với kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ Đô la Mỹ.

- Các công ty gang thép ở Việt Nam sử dụng lò cao có dung tích rất nhỏ, từ vài chục đến vài trăm m3, thấp hơn rất nhiều so với dung tích lò cao bình quân của các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản. Trong khi đó, theo quyết định 694, yêu cầu dung tích lò cao phải tối thiểu 500 m3 áp dụng đối với khu vực không có nguồn quặng sắt tập trung, còn đối với những khu vực có nguồn quặng sắt tập trung thì tối thiểu phải 700 m3, thậm chí đối với DA sử dụng quặng sắt nhập khẩu được bố trí ở ven biển thì dung tích tối thiểu 1.000m3.

- Cách thức quản lý của một số cơ quan Nhà nước chưa quyết liệt làm cho tình trạng dự án “treo” ở ngành thép vẫn xảy ra.



* Bài học kinh nghiệm

- Đầu tư phải theo quy hoạch, cân đối giữa thượng nguồn (luyện phôi) và hạ nguồn (cán ra thành phẩm). Đầu tư xây dựng các lò cao sản xuất gang đi từ quặng sắt - luyện thép - đúc liên tục - cán nóng là một yêu cầu cấp bách hiện nay của ngành thép Việt Nam. Đầu tư công nghệ mới, công suất lớn thì sản xuất mới hiệu quả và sản phẩm mới có sức cạnh tranh.

- Cần có sự phối hợp hoạt động giữa các Bộ ngành trong công tác quản lý Nhà nước, xử lý các vấn đề có liên quan đến sản xuất và kinh doanh của ngành.

- Xử phạt thật nghiêm, thậm chí rút giấy phép đầu tư đối với những đơn vị sản xuất thép xả thải gây ô nhiễm môi trường.

- Xử phạt thật nghiêm đơn vị cung cấp các mặt hàng thép chất lượng kém, nhái thương hiệu. Chế tài xử lý hàng giả không dừng lại ở mức độ dân sự mà cần mạnh hơn, đủ sức răn đe hơn.

CHƯƠNG 3. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN QUY HOẠCH




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   7   8   9   10   11   12   13   14   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương