Vợ chồng a phủ Đọc – hiểu văn bản



tải về 38.37 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu02.01.2022
Kích38.37 Kb.
#2229
  1   2   3   4

VỢ CHỒNG A PHỦ


  1. Đọc – hiểu văn bản:

  1. Tác giả:

  • Tô Hoài (1920): Tên khai sinh là Nguyễn Len

Quê ngoại: Kim Bài - Thanh Oai - Hà Tây nay thuộc Hà Nội.

Quê nội: Nghĩa Đô- Hoài Đức- Hà Đông- nay là Thanh Xuân- Hà Nội.



  • Gắn bó với nghệ thuật suốt thời niên thiếu, quê ngoại trở thành không gian nghệ thuật quen thuộc trong sáng tác nghệ thuật.

  • Cuộc đời: học tiểu học ở trường tiểu học Yên Phụ

_1936- 1940: Làm nhiều nghề để kiếm sống, bán hàng cho hãng giày ba ta, làm kế toán cho hiệu buôn.

_1941: chuyển sang nghề viết văn.

_1937- 1942: Tác giả hoạt động phong trào cách mạng, làm thư kí ái hữu cho thợ dệt Hà Đông, thanh niên phản Đế, dạy học và truyền bá chữ quốc ngữ ( khả năng tự học đáng khâm phục)

_1943: tham gia hội văn hóa cứu quốc, trong kháng chiến chống Pháp, hoạt động văn nghệ ở Việt Băc, làm tổng bí thư và phó tổng thư kí hội nhà văn trong nhiều năm ( là người rất hồn hậu, chan hòa, cởi mở, là một tấm gương về ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống, trí nhớ tốt, vốn sống phong phú)

1986- 1996: Là chủ tịch hội văn nghệ Hà Nội.


  • Sự nghiệp văn học:

+ Quan điểm sáng tác: “viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự thật. Đã là sự thật thì không tầm thường cho dù phải đập vỡ nhiều thần tượng trong lòng người đọc”

+ Nội dung sáng tác và quá trình sáng tác:

Trước CMT8: chỉ tập trung vào 2 đề tài đó là: truyện về các loài vậ và truyện về cuộc sống của những người dân nghèo, thợ thủ công ở vùng ngoại ô thành Hà Nội.

Tác phẩm chính: Dế mèn phiêu lưu kí (1941), tiểu thuyết quê người ( 1941), O chuột (1942), Xóm giềng ngày xưa (tiểu thuyết 1943)

Sau CMT8 ngòi bút Tô Hoài càng sung sức, những trang viết của ông xoay quanh các đề tài miền núi Tây Băc, Việt Bắc trong CM kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội sáng tác cho thiếu nhi, viết về hồi ức.

Tác phầm chính: : Tô Hoài tự truyện, truyện Tây Bắc, Cát bụi chân ai (1993), Chiều chiều ( 1999),…



  • Phong cách nghệ thuật:

+ Đặc điểm văn chương: là nhà văn có biệt tài kể chuyện, lối kể chuyện có duyên

+ Tô Hoài là cây viết văn xuôi hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại, sáng tác của ông tái hiện vốn hình ảnh phong phú về đời sống đặc biệt là sinh hoạt với phong tục ở làng quê ngoại thành Hà Nội và miền núi Tây Bắc. Nghệ thuật văn xuôi Tô Hoài có nhiều nét đặc sắc, lối trần thuật tự nhiên, sinh động, hóm hỉnh, cách mô tả giàu chất tạo hình, ngôn ngữ phong phú đậm tính khẩu ngữ, đậm chất dân gian và giàu chất thơ.



  1. Văn bản:

  1. Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ và nội dung sáng tác:

Truyện “vợ chồng A Phủ” ( 1952) là kết quả của chuyến đi dài tháng đi với bộ đội vào giải phóng Tây Bắc. Trong chuyến đi này nhà văn đã sống hòa đồng thân thiết với đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Thái, Mường. Chuyến đi đã giúp cho nhà văn hiểu biết sâu sắc về cuộc sống và con người miền núi, nỗi thống khổ của đồng bào dưới ách áp bức của bọn thổ ti lang dạo. Đồng thời nhà văn cũng phát hiện, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp và tấm lòng hướng về CM của đồng bào. Tác phẩm gồm 3 truyện ngắn: “Cứu đất cứu Mường’, “ Mường,,,” “ Vợ chồng A Phủ”

Vị trí: tập “ truyện Tây Bắc” là một thành quả mới, bước phát triển về tư tưởng và nghệ thuật của đời văn Tô Hoài. Là bông hoa đầu mùa trong vườn văn xuôi CM viết về một quê hương mới: “Tây Bắc”

Mục đích sáng tác: Tác phẩm tái hiện số phận của nhân vật Mị và A Phủ để từ đó phản ánh bức tranh hiện thực về cuộc sống và thân phận khổ đau của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân phong kiến đồng thời khẳng định khát vọng tự do, sức sống và tấm lòng hướng về CM của đồng bào.


  1. Đọc – tóm tắt: (gồm 2 phần: cuộc sống của Mị và A Phủ khi ở Hồng Ngài + cuộc sống của Mị và A Phủ khi ở khu vực du kích Phiềng Sa)

Tác phẩm “ vợ chồng A Phủ” kể về hai thanh niên dân tộc Mèo là Mị và A Phủ. Mị là một cô gái xinh đẹp, hiếu thảo, đảm đang. Chỉ vì món nợ từ thời cha mẹ mới lấy nhau, Mị bị thống lí Pá Tra bắt về làm dâu gạt nợ nhưng tính chất là làm nô lệ không công.

Kể từ khi bước chân vào nhà thống lí, Mị đã phải sống những chuỗi ngày đau thương, tăm tối, bị đầy đọa về thể xác, bị chà đạp về tinh thần, phải lao động quằn quại như con trâu, con ngựa. Đã có lần cô muốn chết nhưng liên lụy tới bố nên lại thôi, tiếp tục trở về cuộc đời nô lệ. Mị sống âm thầm như chiếc bóng, cho đến môt đêm mùa xuân náo nức tiếng sáo gọi bạn tình, bồi hồi, tha thiết vọng tới tai Mị, đánh thức trong tâm hồn cô niềm khao khát hạnh phúc mãnh liệt. Mị chuẩn bị váy áo để đi chơi ngày xuân nhưng A Sử - chồng Mị đã trói đứng cô bằng một thúng sợi đay. Cũng đêm hôm ấy, A Sử phá đám cuộc chơi của con trai làng nên bị A Phủ đánh cho trọng thương. Một vụ xử kiện đầy bất công đã diễn ra ở nhà thống lí Pá Tra. A Phủ trở thành đầy tớ gạt nợ cho nhà thống lí, vì mải bẫy nhím, A Phủ đã để hổ ăn mất nửa con bò và bị thống lí Pá Tra trói dựng vào cột đến gần chết. Cảm thông với người cùng cảnh ngộ, Mị đã cởi trói cho A Phủ, hai người chạy tới khu du kích Phiềng Sa và trở thành vợ chồng, được cán bộ A Châu giác ngộ, họ đã vững tin trở thành những người du kích kiên cường trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù.




  1. Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của “Vợ chồng A Phủ”

  1. Mở bài: Dẫn dắt từ nđ của nhà văn Nguyễn Minh Châu về thiên chức của nhà văn.

  2. Thân bài:

  1. Luận điểm 1: Giải thích khái niệm giá trị hiện thực và gía trị nhân đạo của tác phẩm văn chương.

  2. Luận điểm 2: Phân tích và chứng minh những biểu hiện của giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực trong tác phẩm “ Vợ chồng A Phủ”.

  • Những biểu hiện của giá trị hiện thực

  • Tác phẩm “vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài đã phản ánh một cách chân thực, sinh động bức tranh đời sống xã hội và nhân dân miền núi Tây Bắc trước ngày giải phóng.

  • Tái hiện chân thực bề mặt của giai cấp thống trị thông qua hình ảnh cha con thống lý Pá Tra.

  • Tố cáo, phê phán những thủ tục nặng nề những cảnh đánh người và trói người tàn nhẫn, dã man.

  • Tố cáo tội ác của bọn thực dân tàn bạo, chúng đã đến những bản làng xa xôi để đốt phá nhà cửa bắt người dân phải phục dịch cho chúng.

  • Tái hiện số phận, bi thương của người lao động miền núi qua nhân vật Mị và A Phủ.

  • Tác phẩm phản ánh hướng vận động tích cực của hiện thực đó là con đường Mị và A Phủ đến với CM.

  • Những biểu hiện của giá trị nhân đạo.

  • Thể hiện tiếng nói đồng cảm, xót thương sâu sắc đời sống với số phận bất hạnh bị tước đoạt quyền sống, bi kịch của Mị, bi kịch của A Phủ.

  • Lên án gay gắt thế lực thực dân phong kiến với cường quyền, thần quyền và bạo quyền.

  • Khám phá, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của Mị, sự trưởng thành của A Phủ trên quê hương CM.

  • Chỉ ra con đường giải phóng thực sự cho người lao động từ tự phát cho đến tự giác, từ tăm tối đau thương vươn lên dưới ánh sáng của tự do, nhân phẩm nhờ sự dìu dắt của Đảng.

  1. Luận điểm 3: Bình luận nâng cao vấn đề:

  • Những đóng góp mới mẻ của Tô Hoài trên phương diên nội dung, tư tưởng.

  • Những sáng tạo nghệ thuật trong nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật góp phần thể hiện tâm lý con người.

  1. Kết luận: khẳng định sức sống lâu bền của truyện ngắn.




  1. Đề số 1: Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài.\



MỞ BÀI:
_c1: Đi từ phương pháp gián tiếp, so sanh Chí Phèo – Mị

_c2: Đi từ nhận định của nhà văn Tô Hoài

_c3: ĐI từ vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn chương.

_c4: Không gian nghệ thuật.

1, Nếu truyện ngắn “chí phèo” của nhà văn Nam Cao ám ảnh người đọc bởi hình ảnh một thằng người ngật ngưỡng giữa những cơn say và tiếng chửi lạ lùng thì truyện ngắn “vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài lại gây ấn tượng mạnh với người đọc ở một cô gái dân tộc Mèo. “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay gánh nước từ khe suối lên cô ấy cũng ….rười rượi.”

Đằng sau khuôn mặt đẹp và buồn ấy là cuộc đời khi đau và bất hạnh. Mị đã trở thành linh hồn của truyện ngắn, người con gái xinh đẹp, tài hoa, bất hạnh nhưng vẫn luôn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt.

2, Có ai đó đã từng nhận xét: “ suy cho cùng ý nghĩa thực sự của văn học là nhân đạo hóa con người”. Bình phẩm văn chương là sản phẩm tinh thần của người nghệ sĩ, sáng tạo ra để đáp ứng nhu cầu của chính con người. Vì vậy, văn chương chỉ thực sự có giá trị khi nó lên tiếng vì con người, ca ngợi và bảo vệ con người. Với ý nghĩa đó, một tác phẩm lớn trước hết phải là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu săc, truyện ngắn “ vợ chồng A Phủ” chính là một minh chứng tiêu biểu cho xu hướng nhân đạo hóa của văn chương. Trong đó, nhân vật trung tâm của tác phẩm – Mị - một người con gái Tây Bắc xinh đẹp, tài hoa giàu sức sống đã để lại ấn tượng đậm nét trong lòng người đọc.

3, Tô Hoài đã từng tâm sự: “ Đất nước và con người miền Tây đã để thương, để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không bao giờ quên. Tôi không thể bao giờ quên được lúc vợ chồng A Phủ tiền tôc khơi dốc núi làng Tà sưa rồi cũng vẫy tay gọi theo: chéo lù, chéo lù! ( trở lại, trở lại). Không bao giờ quên được lúc vợ chồng Lí Nư Chu tiễn tôi dưới chân núi Cao Phạ cũng vẫy tay lên: “ chéo lù, chéo lù”. Hai tiếng “ trở lại, trở lại” chẳng những nhắc tôi có ngày trở lại, phải đem trở lại cho những người thương ấy của tôi một kỷ niệm ấm lòng mình….”.,. Và Tô Hoài đã thực sự trở lại với Tây Bắc, trả mối duyên nợ ân tìn đối với Tây Bắc bằng một truyện ngắn xuất sắc: “ Vợ chồng A Phủ”. Tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, đặc biệt với Mị- người con gai Tây Bắc xinh đẹp, tài hoa, bất hạnh mà vẫn luôn tràn đầy sức sống tiềm tàng mãnh liệt.


THÂN BÀI:


  • Luận điểm 1: Nêu ngắn gọn về hcst, xuất xứ, mđ sáng tác.

  • Luận điểm 2: Phân tích cách giới thiệu nhân vật và ý nghĩa.

Nhân vật Mị xuất hiện ngay từ những dòng đầu của tác phẩm qua một đoạn văn trữ tình ngoại đề. “ Ai ở xa về có việc qua nhà Thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa cạnh tàu ngưa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi,… mặt buồn rười rượi”. Những dòng miêu tả của nhà văn gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc, đưa người đọc lại bước đến với không gian của Tây Bắc, xa xôi trong một câu chuyện cổ tích hiện đại về một thân phận, một cuộc đời bất hạnh. Nơi Mị ngồi bên tảng đá trước cửa cạnh tàu ngựa, phải chăng tảng đá số phận tự bao giờ cũng đã đè nặng lên cuộc đời của cô trong cảnh nhà giàu. Mị cũng chẳng khác gì thân trâu ngựa – một nô lệ mang danh là vợ vì vậy Mị xuất hiện trong tâm thế và tư thế cúi mặt, mặt buồn rười rượi, một sáng vẻ cam chịu, lầm lũi vơi những ấm ức, xót xa và đớn đau thân phận. Cô như muốn thu mình lại, dấu mình đi, tan nhòa cùng với những vật vô tri. Mị lại lòng, cô đơn giữa khung cảnh tấp nập giàu sang của nhà Thống lí “nhiều bạc, nhiều nương, nhiều thuốc phiện nhất làng”

  • Luận điểm 3: Sđ lý luận phân tích, cm, bình luận để làm rõ những đặc điểm của nhân vật Mị, nguồn gốc, lai lịch, bi kịch cđ, sức sống tiềm tàng, khát vọng tự do.

  1. Nguồn gốc lại lịch + đặc điểm tâm hồn, tính cách.

Lật giở từng trang đời của Mị, người đọc xót xa trước số phận nhiều can trái của một cô gái bất hạnh, Mị hoàn toàn xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng cuộc đời cô lại là những bi kịch nối tiếp bi kịch. Đó là người con gái Hmong xinh đẹp, tài hoa có đời sống tinh thần phong phú. Nhà văn không miêu tả vẻ đẹp của Mị nhưng chỉ với chi tiết đậm tính phong tục của người dân vùng cao: “Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị” người đọc đã có thể hình dung được vẻ đẹp rực rỡ của một đóa hoa rừng. Mị thổi lá cũng hay như thổi sáo, chỉ cần đặt chiesc lá trên môi là cất lên thành những tiếng ca ngọt ngào làm mê đắm lòng người. Có biết bao chàng trai say mê Mị, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị hết núi này sang núi khác. Mị cũng đã có một tương lại tương sáng đón chờ nhưng éo le thay, Mị lại xuất thân trong một gia đình nghèo gia truyền. Cha mẹ Mị lấy nhau không có tiền phải vay nợ nhà giàu. Mị mắc nợ từ khi còn trong bụng mẹ - món nợ truyền kiếp, món nợ tiền kiếp. Đến khi trưởng thành Mị bị đưa lên bàn cân của số phận, với giá trị về mặt không bằng một nương ngô gạt nợ. Mị đã bị lừa cướp đoạt một cách trắng trợn về làm dâu nhà Thống lí. Ban đầu tuyệt vọng hàng mấy tháng trời đêm nào Mị cũng khóc/ Mị đã có ý định tự tử bằng cách ăn lá ngón, nhưng vì thương cha cô đành chấp nhận quay về nhà Thống lí Pá Tra trong thân phận của cô con dâu gạt nợ - nô lệ chung thân. Có thể khẳng định Mị là hình tượng đẹp về người thiếu nữ Tây Bắc: ở ô toát lên vẻ đẹp vừa tự nhiên, vừa giản dị, vừa phóng khoáng, thẳm sâu như như thiên nhiên như rừng đại ngàn của Tây Bắc. Với những phẩm chất tốt đẹp của mình, Mị hoàn toàn có quyền được hưởng hạnh phúc nhưng bi kịch đã đến với vô mọt cách phũ phàng bởi cưởng quyền, bạo quyền và thần quyền. Mị trở thành điển hình cho một kiếp tài hoa nhưng bất hạnh.




  1. tải về 38.37 Kb.

    Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương