Uỷ ban nhân dân tỉnh thừa thiên huế Số: 03/bc-ub cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 83.3 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu04.12.2017
Kích83.3 Kb.
#3853

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

THỪA THIÊN HUẾ

Số: 03/BC-UB



CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Huế, ngày 13 tháng 01 năm 2005



BÁO CÁO


QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU

Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc duyên hải miền Trung, có diện tích 5053,99 km2; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, phía Tây giáp nước bạn Lào, phía Đông giáp Biển Đông. Địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều đồi núi, sông suối, đầm phá nên vừa có vùng đồng bằng vừa có vùng núi, vùng gò đồi vừa có vùng ven biển, vùng đầm phá. Toàn tỉnh có 8 huyện và thành phố trong đó có 2 huyện miền núi) với 150 phường, xã, thị trấn ( 121 phường, xã, 29 thị trấn), trong đó có 54 xã miền núi và gò đồi, 27 xã vùng biển và đầm phá, 31 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn và 20 xã nghèo. Dân số toàn tỉnh có 1.105.494 người mật độ bình quân là 219 người /km2 . Bên cạnh người Kinh chiếm đa số, Thừa Thiên Huế còn là nơi tụ cư của nhiều dân tộc thiểu số anh em như Tà Ôi, Vân Kiều, Pa Cô, Ca Tu, Pa Hy...sống tập trung ở các ở các huyện A Lưới, Nam Đông và rải rác ở mật số huyện trung du. Trước năm 1990, đa số đồng bào dân tộc sống du canh, du cư. Từ những năm 1993,1994, theo sự vận động của Tỉnh, đồng bào đã dần dần sống định canh, định cư. Tuy nhiên, trình độ dân trí vẫn còn thấp, tập quán canh tác vẫn còn lạc hậu.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Thừa Thiên Huế là nơi chịu nhiều sự tàn phá của chiến tranh. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhân dân bắt tay vào việc xây dựng cuộc sống mới. Tuy nhiên, do điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt liên tục xảy ra và hậu quả chiến tranh chưa được khắc phục hết, nên nhìn chung, kinh tế của tỉnh phát triển chưa nhanh chóng và bền vững, đời sống của một bộ phận nhân dân lao động vẫn còn khó khăn. Bình quân mức tăng trưởng GĐP hàng năm của tỉnh là 9,1%. của một bộ phận nhân dân lao động vẫn còn khó khăn. Bình quân mức tăng trưởng GDP hàng năm của tỉnh là 9,1%. .

Riêng về văn hoá, giáo dục; Thừa Thiên Huế là một tỉnh có truyền thống và đang phát triển khá đồng đều. Trên địa bàn tỉnh, hiện có 6 trường đại học, 12 trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Ngành học phổ thông phát triển rộng khắp: Toàn tỉnh có 38 trường trung học phổ thông, 100 trường trung học cơ sở, 236 trường tiểu học, 169 trường mẫu giáo. Bình quân ba người dân có một người đi học.

Đối với ngành học không chính qui, toàn tỉnh có 1 trung tâm GDTX Tỉnh , 9 trung tâm GDTX huyện, thành phố, 10 trung tâm ngoại ngữ, tin học, 10 Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp do sở GĐ&ĐT trực tiếp quản lý. Trên, khắp các huyện, thành phố đã có 58 trung tâm học tập công đồng rãi khắp 4010 số phường, xã đã đi và hoạt động có hiệu quả; góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội từng địa phương., Năm 1996, tỉnh Thừa Thiên Huế được công nhận đạt chuẩn phổ cấp GDTH và từ đó tỉnh cũng đã chỉ đạo triển khai việc thực hiện phổ cập GDTHCS liên tục cho đến nay.

Trong quá trình thực hiện PCGDTHCS, tỉnh gặp những khó khăn và thuận lợi sau:



A. THUẬN LỢI:

- Việc đạt chuẩn PCGĐTH sớm ( trước 4 năm ) tạo nên cơ sở vững chắc, làm tiền đề tốt để thực hiện có hiệu quả PCGDTHCS.

- Tỉnh uỷ, HĐND, UBNĐ và các cấp uỷ, chính quyền địa phương đã tích cực chỉ đạo công tác PCGD với những giải pháp khả thi và một quyết tâm cao nên đã kịp thời tháo gở những vướng mắc, trở lực, bảo đảm kế hoạch đã đề ra.

- Các tổ chức, đoàn thể, ban ngành tích cực phối hợp với ngành giáo dục, đã trực tiếp tham gia hoặc tạo những điều kiện thuận lợi để phong trào phát triển liên tục và bền vững.

- Việc xã hội hoá giáo dục phát triển mạnh mẽ không những ở ngành học phổ thông mà ở cả ngành học phi chính quy. Công việc vận động, huy động học viên đến lớp phổ cập đều có sự tham gia tích cực của gia đình, dòng tộc và đã trở thành quy ước của làng xã, thôn bản.Việc đầu tư kinh phí xây dựng lán trại, mua sắm bàn ghế, dụng cụ học tập và cả việc hỗ trợ tiền bạc cho học viên đến lớp, đến trường, bên cạnh nguồn của Nhà nước, còn có sự đóng góp của nhân dân.

- Hệ thống trường lớp từ mầm non đến phổ thông, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học phát triển hoàn chỉnh nên đã góp phần phân quang ở ngành học chính quy và hỗ trợ công tác PC GĐ THCS.

- Chất lượng giáo dục trong những năm vừa qua không ngừng được nâng lên, các tiêu chí đánh giá của giáo dục Thừa Thiên Huế ngày càng được đảm bảo.

- Nhân dân Thừa Thiên Huế vốn có truyền thống hiếu học, lại được các tổ chức quần chúng vận động tốt đã tích cực hưởng ứng phong trào PCGĐ.

- Ngành Giáo dục đã tham mưu có hiệu quả đối với các cấp uỷ, chính quyền các cấp nên những chủ trương, chính sách của tỉnh, của huyện, xã đã kịp thời đến với người dân, đã trở thành động lực phát triển phong trào. Chủ trương định canh định cư của Tỉnh trong những năm trước đây đã tạo nên những thuận lợi cơ bản cho công tác phổ cập giáo dục ở những vùng núi non, đầm phá, vùng sông nước.

B. KHÓ KHĂN:

- Địa hình của tỉnh trải dài, một số vùng có sự chia cắt nên việc đi lại vận động, giảng dạy của cán bộ, giáo viên và việc học tập trung của học viên cũng gặp mặt số trở ngại Đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, một số trong đối tượng phổ cập phải chuyển đi làng ăn xa theo mùa vụ, có số lại là lao động chính trong gia đình nên việc tham gia các lớp phổ cập không thường xuyên, hay gián đoạn. .

- Trình độ dân trí của đồng bào dân tộc miền núi còn thấp, một bộ phận không ý thức được đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm học tập nên có nơi, có khi còn ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước. Ở hai huyện Nam Đông và A Lưới, việc sai lệch trong hộ tịch, hộ khẩu của các đối tượng phổ cập còn nhiều, phải mất nhiều thời gian để điều chỉnh, gây trở ngại không ít trong công tác điều tra, thống kê, phân loại đối tượng.

Tuy tỉnh đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư kinh phí cho công tác phổ cập, nhưng vẫn chưa đáp ứng tốt các yêu cầu của công tác phổ cập.



PHẦN THỨ HAI : QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PCGDTHCS

A. Các chủ trương lớn của Tỉnh thực hiên công tác PCGDTHCS

Thực hiện Chỉ thị 61/CT/TƯ ngày 28/12/2000 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 41/2000/QH ngày 09/12/2000 của Quốc hội, Nghị định số 88/NĐ/CP của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Tỉnh uỷ và HĐND Tỉnh đã kịp thời ban hành các văn bản pháp quy để chỉ đạo việc thực hiện PCGDTHCS:

Chỉ thị 04/CT/TU ngày 20/3/2001 của Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ đã xác định mục tiêu PCGDTHCS cho học sinh trong độ tuổi qui định cỡ 100% phường, xã, thị trấn vào năm 2005 và HĐND tỉnh khoá IV đã ra Nghị quyết 5D/NQ-HĐNĐ về việc thực hiện PCGĐTHCS giai đoạn 2001- 2005 , đồng thời thông qua ''Đề án thực hiện và hoàn thành PCGDTHCS vào năm 2005'' với mục tiêu tổng quát” bảo đảm hầu hết thanh niên, thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học, tiếp tục học để đạt trình độ THCS trước khi hết tuổi 18.

Thực hiện Chỉ thị của Tỉnh uỷ và Nghị quyết của HĐNĐ Tỉnh; UBND Tỉnh đã có nhiều văn bản chỉ đạo, triển khai cụ thể, nhằm bảo đảm mục tiêu: Tỉnh TTH đạt chuẩn PCGDTHCS vào năm 2005.

Từ đó, trên toàn tỉnh đã dấy lên phong trào PCGDTHCS khá rầm rộ. Đặc biệt, đến năm 2003, khi 7/9 huyện, thành phố đã đạt chuẩn PCTHCS thì khả năng tỉnh sẽ đạt chuẩn PCGDTHCS vào năm 2004 ( trước kế hoạch 1 năm ) là hiện thực, nếu có sự tập trung cao trong việc chỉ đạo cho hai huyện miền núi Nam Đông , A Lưới đạt chuẩn PC vào cuối năm 2004. Vì vậy, UBNĐ Tỉnh đã trình HĐND Tỉnh thông qua '' Dự án PCGĐTHCS huyện A Lưới năm 2003-2004'' với mục tiêu A Lưới đạt chuẩn PCGĐTHCS vào cuối năm 2004.

Để tạo cơ sở, nền tảng cho việc đẩy nhanh tiến độ PCGĐ ở các vùng khó, năm 2002 Tỉnh uỷ, HĐND đã ban hành các Nghị quyết phát triển KTXH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chỉ đạo UBND tỉnh tiến hành xây dựng đề án tổ chức thực hiện. Các nghị quyết đề án đó đã tháo gỡ nhiều khó khăn về KT-XH nói chung và giáo dục nói riêng, bảo đảm hoàn thành mục tiêu PC.

Trong quá trình thực hiện PCGDTHCS, Tỉnh cũng đã chỉ đạo các ban ngành liên quan phối hợp với ngành giáo dục, có những chủ trương, giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện thắng lợi mục tiêu PC mà tỉnh đã đề ra. Điển hình như Sở Tài chính - vật giá đã có Công văn số 2028/LN ngày 5/9/2001 '' Quy định tạm thời chế độ PCGDTHCS'', Công văn số 21 55/TC-HCSN về việc '' Đề nghị cấp gạo cho học viên có hoàn cảnh khó khăn đang học PCGDTHCS tại A- Lưới ''...

Căn cứ và chủ trương của Tỉnh v à sự chỉ đạo trực tiếp của Sở GD- ĐT, sự chỉ đạo của các ban, ngành cấp tỉnh nên lãnh đạo các huyện, thành phố và phường, xã cũng đã nhanh chóng xây đựng thành nghị quyết, chỉ thị chuyên đề của Cấp uỷ, HĐND, UBND. Nhờ vậy, các chủ trương của tỉnh đã đến huyện, xã và đã triển khai rộng khắp trong quần chúng, được nhân dân đồng tình hưởng ứng.


B. Công tác tổ chức thực hiện PCGDTHCS tai tỉnh TTH


1. Tỉnh đã nhanh chóng xây dựng đề án phổ cập GD THCS lần đầu từ năm 1997. Đề án đã đề ra những nội dung, chỉ tiêu; xác định các điều kiện, biện pháp cụ thể để thực hiện công tác PCGD trên toàn tỉnh. Trên cơ sở đó, lãnh đạo từ các huyện, thành phố đến các phường, xã, thị trấn đã cụ thể hoá thành đề án PCGD riêng cho từng địa phương. Từ đó, một phong trào tham gia công tác PCGD đã được phát triển rộng khắp từ miền xuôi cho đến miền ngược, từ đồng bằng cho đến thành thị.

2. Thường xuyên kiện toàn Ban Chỉ đạo PCGD các cấp. Để chỉ đạo công tác PCGD trên toàn Tỉnh, tỉnh đã thành lập ban chỉ đạo PCGD Tỉnh theo Quyết định số 3094/QĐ/UBND ngày 23/12/1997 gồm đầy đủ các thành viên đại diện cho các tổ chức, đoàn thể xã hội liên quan với sự phân công, phân nhiệm rõ ràng. Trong quá trình chỉ đạo, ban chỉ đạo Tỉnh đã thường xuyên sinh hoạt và đã tham mưu có hiệu quả cho tỉnh những giải pháp khả thi để thực hiên PCGDTHCS. Ban chỉ đạo Tỉnh đã bổ sung kịp thời các thành viên khi có thay đổi và hiện nay ban chỉ đạo đã được kiện toàn sau bầu cử HĐND ( theo Quyết định số 2306/QĐ/UB ngày 15 tháng 7 năm 2004). Cùng với tỉnh, các ban chỉ đạo của huyện, thành phố và phường xã cũng đã hoạt động có hiệu quả, đã tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương chỉ đạo tốt công tác PCGD. Các thành viên của ban chỉ đạo thường được phân công phụ trách từng địa bàn dân cư, từng đối tượng cụ thể và luôn luôn gắn trách nhiệm với việc thành bại của phong trào.

3. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động để bộ phận nhân dân trong đối tượng phổ cập thấy rõ trách nhiệm và nghĩa vụ tham gia các lớp PCGĐ, góp phần nâng cao dân trí, tăng cường nguồn lực cho địa phương, đồng thời tổ chức các lực tượng quần chúng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thực hiện PCGDTHCS. Trong 7 năm thực hiện phổ cập giáo dục, toàn tỉnh đã huy động được 14.762 em có hoàn cảnh khó khăn và bỏ lỡ giữa chừng vào các lớp bổ túc. Nhiều địa phương đã đưa việc tham gia và hoàn thành chương trình PCGĐTHCS thành tiêu chí xây dựng gia đình, dòng tộc, làng xã văn hoá, đã tạo thêm động lực cho người trong đối tượng ra lớp. Các chi bộ Đảng, các chi đoàn Thanh niên, các chi hội Phụ nữ, hội Cựu chiến binh, hội Khuyến học... đều phân công Đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia công tác PCGĐ và đó cũng là tiêu chí để xếp loại đảng viên, đoàn viên, hội viên hàng năm.

4. Đẩy mạnh việc thực hiện xã hội hoá PCGDTHCS, biến PCGDTHCS thành một phong trào sâu rộng trong toàn thể cộng đồng nhân dân, thu hút sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, các tổ chức đoàn thể và đã tranh thủ huy động được các nguồn lực con người, tài chính, hiện vật cho công tác PCGD. Cụ thể đã huy động 500 chiến sĩ bộ đội biên phòng ở vùng biên giới, vùng biển tham gia các cộng việc liên quan phổ cập; huy động đóng góp 500 bộ bàn ghế, 15.000 cuốn vở, 9.300 cuốn sách và gần 500 triệu đồng từ ngân sách xã.

5. Tăng cường chỉ đạo trung điểm 2 huyện miền núi Nam Đông, A Lưới - những huyện có nhiều khó khăn về công tác phổ cập. Đã giải quyết khó khăn ở đây, Tỉnh đã tập trung đầu tư chỉ đạo mặt cách quyết liệt và kịp thời Lãnh đạo tỉnh đã nhiều lần làm việc với lãnh đạo các huyện để giúp tháo gở những khó khăn, vướng mắc. Riêng sở GD&ĐT đã tổ chức mặt bộ phận chuyên viên đặc trách, thường xuyên bám sát tình hình và hỗ trợ Nam Đông, A Lưới về mặt kỹ thuật, nghiệp vụ.

Lãnh đạo các huyện trên cũng đã có những giải pháp rất tích cực chỉ đạo phong trào như tổ chức trực báo hàng tuần với Ban chỉ đạo các xã, Phòng Giáo dục và Trung tâm GĐTX huyện hoặc phân công các uỷ viên uỷ ban phụ trách công tác PCGD từng xã một. Nhờ vậy, công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện phổ cập đảm bảo được kế hoạch mở lớp và tiến độ đã đề ra.

6. Thường xuyên tổ chức tập huấn nghiệp vụ phổ cập cho các Trung tâng GDTX, Phòng Giáo dục và các trường. Gắn tập huấn với việc cung cấp thông tin về các bài học kinh nghiệm từ các đơn vị điển hình. Ban chỉ đạo đã quy định thống nhất các loại biểu mẫu, hồ sơ và chỉ đạo việc sử dụng tin học trung công tác phổ cập. Do vậy, cơ bản các loại hồ sơ phổ cập từ huyện đến xã đều được vi tính hoá

7. Ngành Giáo dục & Đào tạo đã tăng cường chỉ đạo việc phối hợp giữa Phòng Giáo dục, Trung tâng GDTX về công tác phổ cập; chỉ đạo các trường tiểu học, THCS, THPT thực hiện nguyên tắc '' một hội đồng hai nhiệm vụ''; Ngành cũng đã huy động tốt đội ngũ giáo viên đang công tác trong ngành và các lực lượng giáo viên khác giảng dạy các lớp phổ cập. Để đảm bảo cơ sở vững chắc cho việc thực hiện Phổ cập GDTHCS, Ban chỉ đạo tỉnh đã gắn chỉ đạo phổ cập GD.THCS với phổ cập GD. tiểu học ĐĐT, đồng thời mở rộng mạng lưới trường THPT và trường nghề; không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, bổ túc; đẩy mạnh công tác phong lưu ban, bỏ học; tổ chức thực hiện tốt chương trình giáo dục phổ thông.

8. Để làm cơ sở thực hiện bền vững và có hiệu quả PCGDTHCS, ngành giáo dục đã đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, tăng cường đội ngũ giáo viên nâng, cao chất giáo dục phổ thông từ tiểu học đến trung học . Hiện nay, trên toàn tỉnh đã có đủ phòng học dành cho học sinh từ tiểu học đến trung học cơ sở, xóa bỏ được tình trạng học ba ca, đồng thời đã tăng dần số lớp học hai buổi ngày. Đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng về mặt số lượng và đang thông, qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao tay nghề, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay và các tiêu chuẩn PCGDTHCS đòi hỏi (đính kèm các bản Phụ lục ).

9. Riêng đối với công tác PCGDTHCS, tỉnh và ngành giáo dục đã tập trung đầu tư kinh phí để chi trả công tác điều tra, mua, tập biểu bảng, bồi dưỡng cho công tác giảng dạy, hỗ trợ gạo và văn phòng phẩm cho người đi học có khó khăn ở miền núi, xây dựng trại lán, điều chỉnh hộ tịch... bình quân mỗi năm và 1,200 tỷ đồng. Riêng năm 2002 là 1,650 tỷ đồng, năm 2003 là 1,400 tỷ đồng và 132 triệu đồng tiền cấp gạo, năm 2004 là 1,250 tỷ đồng. Ngoài ra Sở GD&ĐT đã tăng cường thêm đội, ngũ giáo viên chuyên trách, xây dựng cơ sở vật chất và cung cấp trang thiết bị cho các trung tâm GDTX nhằm tạo điều kiện làm tốt công tác PCGD.



C. Kết quả đạt được :

Với sự chỉ đạo kịp thời, sâu sát của Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh, UBND tỉnh cùng sự nỗ lực, quyết tâm cao của đội ngũ cán bộ, giáo viên, ngành giáo dục và sự phối hợp, hỗ trợ của các ban ngành, tổ chức, đoàn thể xã hội, sự ủng hộ của quần chúng, nhân dân việc thực hiện PGCDTHCS trên toàn tỉnh ngày càng tiến bộ, đạt được những thành quả to lớn:

+ Năm 1998 có 21/150 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGDTHCS

+ Năm 1999 có 50/150 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGDTHCS

+ Năm 2000 có 68/150 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGĐTHCS

+ Năm 2001 có 88/150 xã, phường, thị trấn và 1/9 huyện, thành phố đạt chuẩn PCGDTHCS

+ Năm 2002 có 112/150 xã, phường, thị trấn và 5/9 huyện, thành phố đạt chuẩn PCGDTHCS

+ Năm 2003 có 130/150 xã, phường, thị trấn và 7/9 huyện, thành phố đạt chuẩn PCGDTHCS

Riêng năng 2004 có 148/150 xã, phường, thị trấn và 9/9 huyện, thành phố đạt chuẩn PCGDTHCS với các chuẩn sau:

- Tỷ lệ trẻ vào lớp 1: 99%

- Tỷ lệ trẻ 11 đến 14 tuổi tốt nghiệp tiểu học : 94,6%

- Học sinh tốt nghiệp tiểu học và lớp 6 : 98,1%

- Các cơ sở giáo dục bảo đảm việc thực hiện giảng dạy đủ các môn của chương trình.

-Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở của hai hệ năm qua: 91,7%

-Tỷ lệ thanh thiếu niên 15-18 tuổi tốt nghiệp THCS : 84,8%

Như vậy, tính đến tháng 12 năm 2004 Tỉnh Thừa Thiên Huế đạt chuẩn PCGDTHCS với 148/150 xã, phường, thị trấn và 9/9 huyện, thành phố đạt chuẩn PCGDTHCS.


PHẦN THỨ BA: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM


1. Sự quan tâm chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp là yếu tố quyết định thắng lợi của công tác PCGDTHCS. Nơi nào, lãnh đạo Đảng, chính quyền thường xuyên theo dõi, chỉ đạo, giám sát thì phong trào phát triển mạnh mẽ, bằng ngược lại, sẽ không gặp ít khó khăn, ách tắc. A Lưới và một ví dụ điển hình. Khi lãnh đạo tỉnh, huyện, xã cùng bắt tay vào cuộc thì những vướng mắc, trở lực đều được giải quyết một cách nhanh chóng trong một thời gian ngắn nhất và với một hiệu quả cao nhất.

2. Xã hội hoá công tác PCGD là phương án tới ưu để thực hiện thắng lợi PCGĐTHCS. PCGD và mất công tác rất phức tạp, khó khăn và kéo dài không có điểm dừng, do đó phải thường xuyên quan tâm, nuôi dưỡng. Muốn thế, cần phải có sự tham gia của nhiều tổ chức, đoàn thể xã hội và sự tích cực hưởng ứng của quần chúng, nhân dân. Khi công tác PCGDTHCS trở thành sự nghiệp chung của cộng đồng thì sức mạnh vật chất, sức mạnh tinh thần được nhân lên gấp bội, tạo động lực giành thắng lợi.

3. Bên cạnh đầu tư, chỉ đạo trên toàn cục thì cũng phải quan tâm tập trung đầu tư, chỉ đạo có trọng điểm, với những giải pháp đột phá mạnh mẽ, tạo tiền đề cho phong trào PCGĐTHCS phát triển. Khi xác định A Lưới là địa bàn khó khăn nhất về PCGD, Tỉnh đã có ngay '' Đề án PCGĐTHCS năm 2003, 2004 ở huyện A Lưới'' nhằm tập trung kinh phí, nhân lực, vật lực để tháo gở những khó khăn và trong một thời gian ngắn đã đưa A Lưới tiến kịp các huyện khác. Việc đầu tư kinh phí là một minh chứng cụ thể. Kinh phí ngành Giáo dục đầu tư cho A Lưới chiếm hơn 50% kinh phí PCGĐ trên toàn tỉnh (Năm 2003 là 740 triệu/1400 triệu; năm 2004 là 650 triệu/1250 triệu)

4. Phổ cập GDTHCS phải đi liền với PCGDTH đúng độ tuổi và việc thành lập các trung tâm HTCĐ, phát triển trung tâm GDTX, xây dựng xã hội học tập. GDTH đúng độ tuổi là tiền đề vững chắc để thực hiện PCGDTHCS. TTHTCĐ và TTGĐTX là ''bà đỡ'' của phong trào PCGĐTHCS để bảo đảm huy động tối đa số đối tượng còn ngoài xã hội vào các lớp BTVH, các lớp PC.

5. Sự phối kết hợp giữa Phòng GD và TTGDTX càng chặt chẽ, càng cụ thể bao nhiêu thì công tác PCGDTHCS phải thống nhất, rạch ròi trong phân công trách nhiệm chỉ GD và TTGDTX phải thống nhất. rạch ròi trong phân công trách nhiệm chỉ đạo; trường phổ thông và giáo viên chuyên trách phải thống nhất trong phân công trách nhiệm thực hiện, thì mọi việc hoạt động sẽ nhịp nhàng, thúc đẩy lẫn nhau phát triển hoàn thiện. Khi trường phổ thông thực hiện phương châm” một hội đồng hai nhiệm vụ” thì giáo viên chuyên trách phải “ba cùng" với nhà trường để thể hiện sự cộng đồng trách nhiệm .

6. Phải triển khai chỉ đạo công tác phổ cập giáo dục cụ thể đến từng xóm, thôn, bản, hộ gia đình theo phương châm '' đến từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng'' để kịp thời có các giải pháp phù hợp, khả thi, tránh chung chung xa rời thực tế.

7. Phải tiến hành liên tục, thường xuyên công tác phổ cập để xây dựng các đơn vị phổ cập đạt chuẩn mới kết hợp củng cố phát triển các thành quả phổ cập ở những phường, xã đã đạt được, như vậy mới có cơ sở để tạo sự đồng đều, bền vững về kết quả

PHẦN THỨ TƯ: PHƯƠNG HƯỚNG TRONG THỜI GIAN TỚi

1. Tiếp tục nâng cao chất lượng các ngành học phổ thông. Bảo đảm 100% trẻ em 6 tuổi đều đến trường, hạn chế tối đa tình trạng lưu ban, bỏ học xuống dưới 1% tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp giảng dạy, thực hiện tốt đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, phấn đấu xây dựng nhiều trường đạt chuẩn quốc gia để việc thực hiện PCGDTHCS được hiệu quả và bền vững.

2. Tiếp tục hoàn chỉnh màng lưới trường lớp bao gồm các trường mẫu giáo, tiểu học, đặc biệt là trường THCS. Đảm bảo mỗi xã, phường, thị trấn có một trường THCS để tạo điều kiện học tập cho học sinh, đồng thời thuận lợi cho việc thực hiện công tác phổ cập.

3. Tiếp tục thực hiện PCGDTHCS với một yêu cầu cao hơn về số lượng lẫn chất lượng. Phấn đấu, năm 2005 có 100% xã, phường, thị trấn và 100% huyện, thành phố đạt chuẩn PCGDTHCS. Tỷ lệ thanh thiếu niên từ 15 –18 tuổi tốt nghiệp THCS cao hơn năm 2004 là 2 %.

4. Tích cực chỉ đạo việc củng cố và phát triển các TTHTCĐ để góp phần xây dựng xã hội học tập theo tinh thần Chương trình hành động quốc gia giáo dục cho mọi người năm 2003-2015 nói chung và trước mắt để tổ chức các lớp tốt PCGDTHCS. Bảo đảm trong năm 2005 có 50% và đến năm 2010 có 100% phường, xã, thị trấn có TTHTCĐ.

5. Tích cực thực hiện phổ cập giáo dục bậc trung học. Phấn đấu đến năm 2015, Thừa Thiên Huế đạt chuẩn PCGD bậc trung học. Riêng thành phố Huế phấn đấu đạt chuẩn vào năm 2007. Các huyện trong năm 2005 có 2, 3, xã, thị trấn có điều kiện đạt chuẩn.

Thực hiện PCGDTHCS là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, tạo cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, Lãnh đạo các cấp ủy Đảng trên địa bàn nhằm góp phần phấn đấu xây dựng TTH trở thành một tỉnh ổn định về chính trị, kinh tế xã hội ngày càng phát triển, an ninh quốc phòng vững mạnh, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX.



Nơi nhận:

- Ban Khoa giáo TW

- Bộ Giáo dục &Đào tạo

- TV Tỉnh uỷ

- TT Hội đồng nhân dân Tỉnh

- Chủ tịch và các PCT UBND Tỉnh

- Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ

- Văn phòng Tỉnh uỷ

- Các đoàn thể cấp Tỉnh

- Các sở GD&ĐT,VH-TT,Y tế lao động –TBXH,Kế hoạch- Đầu tư Tài chính, Bộ CHQS Tỉnh

- UBND và HĐND huyện, thành phố

- Các cơ quan thông tin, báo chí của TW và ĐP

- VP:LĐ và CV VH-XH

- Lưu :VT

TM/UBND TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

TRƯỞNG BAN CHỈ ĐẠO PCGD TỈNH

ĐÃ KÝ

NGÔ HOÀ

Каталог: Upload -> DOCUMENTS -> 2008
2008 -> Về việc thu hồi cơ sở nhà, đất trường Mầm non Hoa Anh Đào đang quản lý để giao trường Tiểu học Thị trấn 1 quản lý và sử dụng
2008 -> Về việc thu hồi và giao đất cho Trường Tiểu học số 2 Kim Long để sử dụng vào mục đích xây dựng, mở rộng trường học
2008 -> Ủy ban nhân dân tỉnh thừa thiên huế
2008 -> Uỷ ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh thừa thiên huế Độc lập Tự do Hạnh phúc
2008 -> Huế, ngày21 tháng 10 năm 2002
2008 -> Uỷ ban nhân dân tỉnh thừa thiên huế
2008 -> Uỷ ban nhân dân tỉnh thừa thiên huế
2008 -> Uỷ ban nhân dân tỉnh thừa thiên huế Số: 70 /bc -ubnd cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
2008 -> Số: 798 /qd-ubnd
2008 -> Uỷ ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh thừa thiên huế Độc lập Tự do Hạnh phúc

tải về 83.3 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương