Uỷ ban nhân dân tỉnh sơn la cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 385.5 Kb.
trang2/4
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích385.5 Kb.
#2095
1   2   3   4

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Kết quả đạt được

1.1. Các cấp, các ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội đã quan tâm chăm lo cho giáo dục; nhận thức về xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề của các ngành, cấp cấp và cộng đồng được nâng lên, đặc biệt là các cấp uỷ, chính quyền đã nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của công tác xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, là động lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

1.2. Các nguồn lực xã hội bước đầu được khai thác, phát huy có hiệu quả, nguồn lực xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề đã đóng góp tích cực vào phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần vào tăng trưởng kinh tế. an sinh xã hội.

1.3. Giáo dục - đào tạo, dạy nghề trong các cơ sở giáo dục ngoài công lập bước đầu phát triển với nhiều loại hình và phương thức hoạt động đa dạng. Các cơ sở ngoài công lập trong một số lĩnh vực tiếp tục được hình thành và phát triển cả về số lượng và chất lượng, hiệu quả hoạt động từng bước được nâng lên, bước đầu tạo sự cạnh tranh, bình đẳng trong giáo dục ở khu vực đô thị, tạo công ăn việc làm ổn định cho nhiều lao động.

1.4. Cùng với tăng chi từ ngân sách của tỉnh, việc đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề đã huy được nguồn lực đáng kể từ các doanh nghiệp, tổ chức, các nhân, của cộng đồng tham gia đầu tư cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, với chất lượng ngày càng tốt hơn.

2. Tồn tại, hạn chế, nguyên nhân

2.1. Tồn tại, hạn chế

- Việc triển khai thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề chậm, hiệu quả chưa cao, cơ sở giáo dục và đào tạo, dạy nghề ngoài công lập chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của tỉnh.

- Nhận thức về xã hội hoá giáo dục của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, có cá, nhân doanh nghiệp thành lập cơ sở giáo dục, tổ chức hoạt động đặt mục đích chính là lợi nhuận, chưa nhận thức đầy đủ là góp phần tham gia đóng góp nguồn lực để phát triển giáo dục và đào tạo, cùng nhà nước để thực hiện mục tiêu giáo dục của Quốc gia. Công tác quản lý xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề, quy hoạch định hướng phát triển và chỉ đạo thực hiện của các cấp, các ngành, địa phương còn hạn chế.

- Quy mô các cơ sở ngoài công lập hầu hết còn nhỏ bé, số lượng dịch vụ còn khiêm tốn, chất lượng chuyên môn một số cơ sở chưa cao hơn được như khối công lập, phát triển không đồng đều giữa các vùng và các lĩnh vực, mới chủ yếu tập trung ở khu đô thị, nơi đông dân. Nhiều đơn vị sự nghiệp ngoài công lập có cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động còn thiếu thốn, chất lượng yếu tố con người không đồng đều và còn hạn chế, chất lượng, hiệu quả các hoạt động xã hội hoá chưa cao. Một số đơn vị ngoài công lập chạy theo số lượng (trung dạy ngoại ngữ, tin học, dịch vụ tư vấn việc làm, dạy một số nghề xã hội...) đã phần nào làm giảm chất lượng dịch vụ cung cấp cho người dân.

- Phương thức phân bổ, bố trí kinh phí từ ngân sách Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập còn mang tính bình quân, chưa gắn với chất lượng dịch vụ đào tạo, chưa có sự bình đẳng giữa các đơn vị trong và ngoài công lập trong việc tiếp cận nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước.

2.2. Nguyên nhân

- Nguyên nhân chủ quan:

Công tác tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, sâu rộng bằng nhiều hình thức thiết thực, hiệu quả với sự tham gia của các đoàn thể, các tổ chức xã hội, người dân. Nhiều địa phương vẫn còn tư tưởng trong chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của nhà nước, chưa tự khắc phục khó khăn, phát huy hết tiềm năng sẵn có để tích cực tham gia xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề.

Công tác tham mưu của các cấp, các ngành còn hạn chế; các cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa chậm được cụ thể hóa, chưa thật sự khuyến khích các nhà đầu tư, chưa tạo điều kiện cho hệ thống các đơn vị ngoài công lập hình thành, tồn tại và phát triển.

Công tác chỉ đạo, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát thực hiện chủ trương, chính sách về xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề còn hạn chế, có lúc, có nơi còn chưa được quan tâm đúng mức nên kết quả đạt được còn chưa tương xứng với tiềm năng.

Sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, huyện, thành phố còn chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, các tổ chức kinh tế, xã hội tham gia vào quá trình xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề còn ít, tiềm năng trí tuệ của địa phương vẫn chưa được phát huy triệt để. Việc quan tâm và động viên kịp thời những nơi làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục - đào tạo chưa đầy đủ, kịp thời.

- Nguyên nhân khác quan

Khả năng ngân sách của tỉnh còn eo hẹp, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục - đào tạo, dạy nghề. Mặt bằng thu nhập của các tầng lớp dân cư của tỉnh còn thấp và không đồng đều, có sự chênh lệch lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các vùng của tỉnh; do vậy khó khăn trong triển khai các cơ chế, chính sách xã hội hóa phù hợp với điều kiện của ngân sách của tỉnh và thu nhập của các tầng lớp dân cư. Một số cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hoá được Chính phủ ban hành chưa được tỉnh triển khai áp dụng kịp thời, đầy đủ (chính sách khuyến khích xã hội hóa về đất đai, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, cho thuê nhà và cơ sở hạ tầng, hỗ trợ vốn vay ưu đãi đầu tư, hỗ trợ lãi suất vay đầu tư…).

Đầu tư cho các cơ sở xã hội hóa về giáo dục - đào tạo, dạy nghề đạt chuẩn cần có số vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm nên chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư. Chưa có cơ chế để huy động nguồn lực trong nhân dân nhất là khu đô thị, vùng kinh tế phát triển tham gia đóng góp cho hoạt động xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề; động cơ học tập của một bộ phận người dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp.

Sơn La là tỉnh còn nghèo, đời sống kinh tế của người dân đã được cải thiện song còn nhiều khó khăn đã ảnh hưởng nhất định đến xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề. Sơn La là tỉnh thuần nông chưa hấp dẫn được người học; việc môi giới, tìm kiếm việc làm cho người lao động còn rất khó khăn.


PHẦN III

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP XÃ HỘI HÓA

GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO, DẠY NGHỀ GIAI ĐOẠN 2017- 2020,

ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025

I. QUAN ĐIỂM

1. Xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề là một tư tưởng chiến lược lớn của Đảng, Nhà nước. Thực hiện xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề là chính sách lâu dài nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và nguồn lực trong nhân dân, góp phần huy động các tổ chức kinh tế - xã hội đầu tư để chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; tạo điều kiện để toàn xã hội, các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng thụ thành quả giáo dục ở mức độ ngày càng cao.

2. Xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề nhằm củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội được học tập suốt đời, đáp ứng nguồn nhân lực, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, tri thức và khả năng thích ứng với thị trường lao động.

3. Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề gắn với đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; đồng thời tăng cường vai trò của các cấp chính quyền, các tổ chức, các nhân, lực lượng xã hội trong việc cung ứng các dịch vụ giáo dục - đào tạo, dạy nghề nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục - đào tạo, dạy nghề phục vụ người dân tốt hơn; tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực xã hội hóa.

4. Xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề phải đảm bảo công bằng trong việc tiếp cận các nguồn lực chung của nhà nước, các thành phần kinh tế đối với mọi đối tượng xã hội; đảm bảo quyền lợi cơ bản của mọi người dân, trợ giúp người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, tạo cơ hội để mọi người dân có cơ hội được học tập suốt đời; hỗ trợ phát triển các vùng sâu, vùng xa và thực hiện công bằng xã hội; tạo điều kiện để toàn xã hội, mọi người dân quan tâm, được tham gia đóng góp, quản lý, kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động trong các lĩnh vực này.

5. Đa dạng hoá các loại hình giáo dục, phát triển giáo dục ngoài công lập gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Mở rộng liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo có uy tín, chất lượng cao trong và ngoài nước; khuyến khích du học tự túc, đầu tư phù hợp với từng lĩnh vực, từng vùng, từng địa phương để phát triển kinh tế - xã hội.

6. Xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề phải đảm bảo gắn với chất lượng và hiệu quả; đảm bảo sự thống nhất Nhà nước quản lý, giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư, phát triển hệ thống các trường công lập và ngoài công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân; gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, vùng cao, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn. Tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập phát triển cả về quy mô và chất lượng; đồng thời không giảm chi ngân sách Nhà nước mà tiếp tục tăng chi cho các lĩnh vực này trên cơ sở chất lượng dịch vụ và trực tiếp tới đối tượng thụ hưởng diện chính sách phù hợp với với tốc độ tăng thu ngân sách của tỉnh.

II. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

1.1. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề; khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho giáo dục - đào tạo, dạy nghề bằng nhiều hình thức, phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

1.2. Từng bước khắc phục mất cân đối về giáo dục và đào tạo giữa các vùng của tỉnh, nâng dần tỷ lệ giáo dục ngoài công lập nhất là giáo dục mầm non, dạy nghề; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các trường công lập và ngoài công lập tương xứng với đầu tư của Nhà nước và xã hội.

1.3. Đảm bảo nguồn tài chính bằng ngân sách Nhà nước đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo ngày càng tăng, đồng thời tăng nguồn huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước. Xây dựng và cụ thể hóa các cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật; thúc đẩy các cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục - đào tạo, dạy nghề phát triển cả về quy mô và chất lượng. Đảm bảo cho các tầng lớp xã hội nhất là người nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận các dịch vụ giáo dục và đào tạo ngày một tốt hơn; tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân có tâm huyết được đóng góp để phát triển giáo dục và đào tạo và được bình đẳng trong thụ hưởng dịch vụ, thành quả của giáo dục và đào tạo.

2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020, định hướng đến năm 2025

2.1. Giáo dục - đào tạo

Đẩy mạnh thực hiện mô hình xã hội hóa giáo dục, chú trọng khu vực đô thị, vùng kinh tế phát triển của tỉnh. Củng cố và phát triển hệ thống trường ngoài công lập, từng bước chuyển một số trường công lập ở khu vực kinh tế phát triển thành cơ sở công lập tự đảm bảo kinh phí hoạt động hoặc cơ sở giáo dục công lập cung cấp dịch vụ giáo dục chất lượng cao có sự đóng góp kinh phí từ nguồn xã hội hóa; nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng. Phấn đấu tăng dần số trường ngoài công lập, từng bước tăng số trường công lập tự cân đối thu chi so với hiện nay.

a) Giáo dục mầm non

- Mở rộng mạng lưới trường, lớp mầm non trên mọi địa bàn dân cư theo hướng: Đối với các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa: Tập trung ưu tiên hoàn thiện trường, lớp mầm non, đến năm 2020 hầu hết các trung tâm cụm bản, bản có đầy đủ các lớp mầm non. Ưu tiên đủ định mức giáo viên/lớp, nhóm lớp tại các cơ sở giáo dục mầm non; từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, tăng dần số trường tổ chức ăn bán trú học 2 buổi/ngày bằng nguồn kinh phí xã hội hóa, tăng từ 77,2% năm 2016 lên 85%% năm 2020 và 100% vào năm 2025; năm 2020 tất cả 100% trường mầm non công lập tự chủ tài chính theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của chỉnh phủ.

- Phát triển trường mầm non tư thục tại các địa bàn có điều kiện

Đối với khu vực thành phố, thị trấn, vùng kinh tế phát triển, khuyến khích thành lập mới các cơ sở giáo dục mầm non tư thục đáp ứng nhu cầu của xã hội, đồng thời tạo môi trường cạnh tranh để nâng cao chất lượng dịch vụ.

Đến năm 2020 có 14 trường mầm non tư thục (thành lập mới 04 trường mầm non). Trong đó: Năm học 2018 - 2019, thành lập 03 trường mầm non ở thành phố Sơn La tại 3 điểm: Công ty Thực phẩm, Khu Sang Luông, Lô số 5 kè suối Nậm La. Năm học 2020 - 2021, thành lập mới 01 trường mầm non tại huyện Mộc Châu. Phấn đấu nâng tỷ lệ huy động trẻ ra nhóm trẻ tư thục từ 13,6% năm 2016 lên 19,1% vào năm 2020; tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo ra lớp tư thục từ 2,2% năm 2016 lên 3,2% vào năm 2020.

Đến năm 2025 có 18 trường mầm non tư thục, thành lập mới 04 trường mầm non: Huyện Mai Sơn 01 trường, Thuận Châu hoặc Yên Châu 01 trường, Mường La 01 trường, Sông Mã hoặc Mộc Châu 01 trường. Phấn đấu nâng tỷ lệ huy động trẻ ra nhóm trẻ tư thục lên 20% và tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo ra lớp tư thục lên 4,1% vào năm 2025.

b) Giáo dục phổ thông

- Giáo dục tiểu học

Rà soát, sắp xếp, quy hoạch mạng lưới các trường tiểu học gắn với chương trình phát triển kinh tế - xã hội; mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học, trường tổ chức nấu ăn tập trung bán trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tạo điều kiện thuận lợi cho 100% trẻ khuyết tật được tham gia giáo dục hòa nhập tại các cơ sở giáo dục; năm 2020 tất cả 100% trường tiểu học công lập tự chủ tài chính theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của chỉnh phủ.

Tổ chức thí điểm mô hình cung cấp dịch vụ giáo dục theo hướng chất lượng cao ở tất cả 12 huyện, thành phố có sự đóng góp của người dân. Duy trì, mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú, trường tổ chức nấu ăn tập trung bán trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tổ chức tốt dịch vụ ăn trưa bán trú, dạy học cả ngày, giáo dục chất lượng cao trong các trường tiểu học từ nguồn kinh phí xã hội hóa. Đẩy mạnh tổ chức dạy học hai buổi/ngày, tăng tỷ lệ học sinh được học 02 buổi/ngày từ 35,6% năm 2016 lên 50% năm 2020 và lên 80% vào năm 2025.

Khuyến khích thành lập trường tiểu học tư thục ở nơi có điều kiện; đến năm 2025 thành lập trường tiểu học tư thục ở huyện Mai Sơn có quy mô từ 4 đến 8 lớp lớp, đào tạo từ 100 đến 120 học sinh. Phấn đấu tăng tỷ lệ học sinh ngoài công lập từ 0,7% năm 2016 lên 0,8% năm 2020 và lên 1,2% vào năm 2025.

- Giáo dục trung học cơ sở

Rà soát, sắp xếp, quy hoạch mạng lưới các trường trung học cơ sở gắn với chương trình phát triển kinh tế - xã hội; duy trì, mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú, trường tổ chức nấu ăn tập trung bán trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Phát triển trường trung học cơ sở công lập chất lượng cao tại tất cả 12 huyện, thành phố, đáp ứng yêu cầu đào tạo học sinh mũi nhọn; năm 2020 tất cả 100% trường trung học cơ sở công lập tự chủ tài chính theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của chỉnh phủ.

Tổ chức thí điểm mô hình cung cấp dịch vụ giáo dục theo hướng chất lượng cao ở tất cả 12 huyện, thành phố có sự đóng góp của người dân. Đẩy mạnh tổ chức dạy học 02 buổi/ngày, tăng tỷ lệ học sinh được học 02 buổi/ngày từ 20% năm 2016 lên 30% năm 2020 và lên 50% vào năm 2025.

Khuyến khích thành lập trường trung học cơ sở tư thục ở nơi có điều kiện thuận lợi; năm 2025 thành lập trường trung học cơ sở tư thục ở thành phố Sơn La có quy mô từ 4 đến 6 lớp, đào tạo từ 100 đến 180 học sinh, tỷ lệ học sinh ngoài công lập chiếm 0,2%.

- Giáo dục trung học phổ thông

Hoàn thiện hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú huyện cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông vào năm 2020, ở nơi thuận lợi tăng cường huy động nguồn lực xã hội hóa thực hiện cung cấp dịch vụ công chất lượng cao phù hợp với khả năng thu nhập, đóng góp của người dân. Tổ chức thí điểm mô hình dịch vụ giáo dục chất lượng cao có sự đóng góp kinh phí từ nguồn kinh phí xã hội hóa ở một số trường trung học phổ thông (trường THPT Tô Hiệu, Mai Sơn, Mộc Lỵ, Phù Yên, Sông Mã...). Tổ chức tốt dạy học chuyên đề, bồi dưỡng học sinh giỏi trong các trường trung học phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia, vùng kinh tế phát triển.

c) Giáo dục thường xuyên, phổ cập giáo dục, xóa mù chữ

Mở rộng quy mô, đa dạng hình thức đào tạo, học tập linh hoạt ở trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên cấp huyện, trung tâm ngoại ngữ, tin học ngoài công lập ở các trình độ khác nhau (trung cấp, cao đẳng, đại học, chứng chỉ nghề...) phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người học; quy mô đào tạo bình quân 50 lớp, 2000 - 2500 người/năm; đào tạo nghề xã hội, quy mô đào tạo 100 lớp, 2500 - 3000 người/năm; từng bước giảm dần đào tạo văn hóa bậc trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên cấp huyện trong những năm tới; tạo mọi cơ hội cho mọi người được học tập suốt đời.

Phấn đấu đến năm 2020, toàn tỉnh có 13 Trung tâm ngoại ngữ, tin học, quy mô tuyển sinh từ 2000 đến 2500 người học/năm; đến năm 2025 có 20 trung tâm ngoại ngữ, tin học, quy mô tuyển sinh từ 2500 đến 3000 người học/năm. Sau năm 2020, thực hiện thí điểm chuyển đổi một số trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên huyện, thành phố sang cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật để thúc đẩy đơn vị phát triển.

Duy trì kết quả và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, nâng mức đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở và đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2 vào năm 2020. Phấn đấu đến năm 2025 tiếp tục nâng mức độ đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở lên mức độ 3.

Thường xuyên thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, chuyển giao khoa học kỹ thuật nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng; cập nhật kiến thức về quản lý, pháp luật, kinh tế, xã hội cho người lao động ở nông thôn gắn với dịch vụ, thu hút việc làm cho người lao động. Nâng cao chất lượng công tác khuyến học, khuyến tài, phong trào xã hội học tập, tích cực tham học tập suốt đời; xây dựng bản, tổ dân phố, tiểu khu văn hóa - sức khỏe - học tập; xây dựng xã, phường, thị trấn, dòng họ “Khuyến học, khuyến tài”. Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng trong toàn tỉnh gắn phát triển kinh tế - xã hội tại các xã, phường, thị trấn.

Nâng dần tỷ lệ nguồn thu sự nghiệp và dịch vụ trên tổng kinh phí hoạt động khối các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trung tâm hướng nghiệp dạy nghề tỉnh, từng bước giảm dần ngân sách nhà nước cấp theo Nghị định số 16/2015/ND-CP của chính phủ sau năm 2020.

d) Giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học

Trên cơ sở quy hoạch nguồn nhân lực, đào tạo các ngành nghề ở các lĩnh vực phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của tỉnh; đến năm 2010, quy mô đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thuộc tỉnh khoảng 25.600 học sinh, sinh viên (bình quân 5.120 người/năm); đến năm 2025 quy mô đào tạo khoảng 17.600 học sinh, sinh viên (bình quân 3.520 người/năm) đáp ứng nguồn nhân lực của tỉnh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho các tỉnh bắc Lào. Khuyến khích các cơ sở đào tạo của tỉnh liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước có chất lượng cao; các mô hình liên kết đào tạo với nước ngoài, du học tự túc theo nhu cầu người học bằng nguồn xã hội hoá góp phần tạo nguồn nhân lực, cán bộ khoa học, kỹ thuật chất lượng cao, quy mô trung bình từ 30 - 40 sinh viên/năm. Liên kết với các học viện, các trường đại học để đào tạo nguồn nhân lực ở các ngành tỉnh có nhu cầu cao, đào tạo văn bằng hai, đào tạo trên đại học, đào tạo dưới hình thức vừa làm vừa học phù hợp để nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức toàn tỉnh từ nguồn xã hội hóa, quy mô bình quân từ 200 - 250 người/năm.

Từng bước chuyển dần quy mô đào tạo giao theo chỉ tiêu từ ngân sách nhà nước sang đào tạo sang theo hướng dịch vụ, đặt hàng theo nhu cầu của người học, nâng dần tỷ lệ nguồn thu sự nghiệp và dịch vụ đào tạo trên tổng kinh phí hoạt động khối các trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp công lập theo Nghị định số 16/2015/ND-CP của chính phủ, giảm dần ngân sách nhà nước cấp xuống còn dưới 95% vào năm 2020: Trường Cao đẳng Sơn La và Cao đẳng nông lâm, ngân sách Nhà nước 95%, ngân sách xã hội hóa 5%; Trường Cao đẳng Y tế và trường Cao đẳng nghề, ngân sách Nhà nước 90%, ngân sách xã hội hóa 10%; Trường Trung cấp văn hóa, nghệ thuật, đối với một số chuyên ngành nghệ thuật, ngân sách Nhà nước 100%, đối với các ngành khác, ngân sách Nhà nước 95%, ngân sách xã hội hóa 5%.

Đến năm 2025, ngân sách nhà nước cấp xuống còn 90%, ngân sách xã hội hóa dưới 10%: Trường Cao đẳng Sơn và Trường Cao đẳng nông lâm, ngân sách Nhà nước 90%, ngân sách xã hội hóa 10%; Trường Cao đẳng Y tế và trường Cao đẳng nghề, ngân sách Nhà nước 85%, ngân sách xã hội hóa 15%; Trường Trung cấp văn hóa, nghệ thuật, đối với một số chuyên ngành nghệ thuật, ngân sách Nhà nước 100%, đối với các ngành khác, ngân sách Nhà nước 90%, ngân sách xã hội hóa 10%.

2.2. Dạy nghề

Đến năm 2020, có 34 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên và cơ sở dạy nghề, theo hình thức sở hữu: Công lập 17; Tư thục 17; đến năm 2025 tiếp tục duy trì vững chắc 34 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên và cơ sở dạy nghề, theo hình thức sở hữu: Công lập 17; Tư thục 17.

Giai đoạn từ năm 2017 - 2020 đạt tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 50 - 55%, trong đó được cấp bằng, chứng chỉ từ 15 - 20%; Trung bình mỗi năm đào tạo được 14.300 lao động/năm; Trong đó đào tạo ở trình độ cao đẳng chiếm 3,74%; Trung cấp 18,57%; Sơ cấp 67,55%. Nâng cao tỉ lệ học sinh phổ thông trung học vào các học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt 45% vào năm 2020. Thu hút 15% học sinh trung học cơ sở, 30% học sinh trung học phổ thông vào học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp vào năm 2020.

Đến năm 2025 đạt tỉ lệ lao động qua đào tạo trên 55%, trong đó được cấp bằng, chứng chỉ từ 20 - 25%; Trung bình mỗi năm đào tạo được 19.500 lao động/năm; Trong đó đào tạo ở trình độ cao đẳng chiếm 10,45%; trung cấp trở lên đạt 35%; Sơ cấp 54,55%. Thu hút 25% học sinh trung học cơ sở, 50% học sinh trung học phổ thông vào học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp vào năm 2025. Chia theo các ngành, lĩnh vực:

Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp: Năm 2015 nhân lực trong ngành này chiếm 73% vào năm 2020 giảm xuống còn 66%, năm 2025 còn 50%. Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo nghề, dạy nghề tăng từ mức 27,31% năm 2015 lên 33,77% vào năm 2020, năm 2025 là 40%. Trong đó: Sơ cấp nghề 30,8%, Trung cấp nghề 15,31%, Cao đẳng nghề 12,71%.

Khu vực công nghiệp - xây dựng: Năm 2015 chiếm 13% và năm 2020 tăng 15,3%, năm 2025 là 17%. Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo dạy nghề tăng từ mức 85% năm 2015 lên khoảng 90% năm 2020, năm 2025 là 95%. Trong đó: Sơ cấp nghề 27,46%, Trung cấp nghề 12,76%, Cao đẳng nghề 10,8%.

Khu vực thương mại - du lịch: Năm 2015 chiếm 13% và năm 2020 tăng 15,3%, năm 2025 là 17%. Tỷ lệ nhân lực qua đào tạo dạy nghề tăng từ mức 13,3% năm 2015 lên 17,9% năm 2020, năm 2025 là 20%. Trong đó: Sơ cấp nghề 31,91%, Trung cấp nghề 13,51%, Cao đẳng nghề 13,73%.

Phát triển hệ thống các cơ sở đào tạo nghề, tư vấn du học, dịch vụ tư vấn việc làm ngoài công lập, đến năm 2020 cò từ 4 - 5 trung tâm, đến 2025 có từ 10 - 15 trung tâm. (có Phụ lục số I kèm theo).

III. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP, CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH

1. Tuyên truyền, vận động mọi đối tượng, thành phần trong xã hội nhận thức đúng đắn về chủ trương xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề

1.1. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề đến các cơ quan, đơn vị, Hội khuyến học, Hội cựu giáo chức, các tổ chức xã hội, Ban đại diện cha mẹ học sinh, già làng, trưởng bản và mọi tầng lớp nhân dân để thực hiện có hiệu quả các nội dung của Đề án.

1.2. Tuyên truyền sâu rộng chủ trương chính sách về xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề để các cấp uỷ, chính quyền các cấp, các cơ sở giáo dục công lập, ngoài công lập và nhân dân nhận thức đúng và đầy đủ, chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả.

1.3. Phân công trách nhiệm của các cấp, các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc thực hiện xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề. Tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương phối hợp các lực lượng xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục và đào tạo; định kỳ tổ chức Đại hội giáo dục để bàn và ra nghị quyết, tìm giải pháp về thực hiện xã hội hoá hoạt động giáo dục - đào tạo, dạy nghề.

1.5. Tuyên truyền để mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội nhận thức đầy đủ để con em vào học các trường ngoài công lập, về hồ sơ, văn bằng các cấp học có giá trị như nhau để học lên hoặc để đi vào cuộc sống (không phụ thuộc vào loại hình cơ sở giáo dục đào tạo công lập hay ngoài công lập), trên cơ sở đó lựa chọn loại hình giáo dục, hình thức học tập phù hợp.

2. Công tác quản lý nhà nước

2.1. Tăng cường quản lý Nhà nước thống nhất đối với các cơ sở công lập và ngoài công lập; phân công, phân cấp rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ từng cấp, từng ngành đối với việc thực hiện chủ trương xã hội hóa cũng như thực hiện mục tiêu của Đề án; phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành, huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn để tập trung chỉ đạo, điều hành, tăng cường sự phối hợp liên ngành trong tổ chức thực hiện Đề án.

2.2. Xây dựng định mức chi phí cho cho từng đối tượng thụ hưởng làm căn cứ hỗ trợ kinh phí từ Ngân sách cho các cơ sở xã hội hóa.

2.3.Xây dựng kế hoạch hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ việc sắp xếp, tuyển dụng nhân lực đối với các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang loại hình tự cân đối thu chi, các cơ sở xã hội hóa.

2.4. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và nước ngoài thực hiện đầu tư, hợp tác, hỗ trợ kỹ thuật trong các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề phù hợp với luật pháp hiện hành.

2.5. Các cơ quan, đơn vị chủ động phối hợp và tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng người dân tham gia thực hiện và kiểm tra, giám sát quá trình xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề.

3. Công tác quy hoạch

3.1. Tiếp tục rà soát, bổ sung quy hoạch ngành, quy hoạch mạng lưới đơn vị thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo đến năm 2020, định hướng đến năm 2025, xây dựng quy hoạch quỹ đất, kế hoạch sử dụng đất dành cho cơ sở thực hiện xã hội hóa theo lộ trình thực hiện, ưu tiên dành tỷ lệ thích đáng quỹ đất cho thuê đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập.

3.2. Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới, quy hoạch đất, kế hoạch sử dụng đất các cơ sở giáo dục, trường học, danh mục các dự án xã hội hóa kêu gọi đầu tư, giới thiệu địa điểm đã được quy hoạch hoặc trong kế hoạch giải phóng mặt bằng để các doanh nghiệp, nhà đầu tư xem xét; quy hoạch xây dựng các khu đô thị, khu dân cư đảm bảo tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, công trình hạ tầng xã hội gắn với quy hoạch ngành thực hiện xã hội hóa giáo dục.

4. Thực hiện đồng bộ các cơ chế chính sách của Trung ương, xây dựng cơ chế chính sách của tỉnh về xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề

Cơ chế chính sách thực hiện hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề; các cơ sở sự nghiệp công lập tự cân đối thu chi, cung cấp dịch vụ theo yêu cầu, dịch vụ chất lượng cao trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề. Các cơ sở xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề ngoài các ưu đãi theo quy định chung của Nhà nước, Nghị quyết số 39/2017/NQ-HĐND về cơ chế hỗ trợ thành lập trường mầm non tư thục trên địa bàn tỉnh, Quyết định số 3194/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2016 của UBND tỉnh Sơn La về việc thực hiện thí điểm xây dựng trường mầm non tư thục trên địa bàn thành phố Sơn La; được tỉnh ưu đãi, khuyến khích các cơ chế, chính sách dưới đây.

4.1. Chính sách hỗ trợ chi phí đầu tư hạ tầng kỹ thuật

- Các cơ sở thực hiện xã hội hóa xây dựng nhà, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề nằm trong các dự án, khu đô thị mới đã được xây dựng hạ tầng kỹ thuật (đường giao thông, hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước, lập quy hoạch...) nếu phải nộp chi phí xây dựng hạ tầng kỹ thuật thì sẽ được tỉnh hỗ trợ 100% chi phí xây dựng hạ tầng kỹ thuật.

- Tạo điều kiện để các nhà đầu tư, doanh nghiệp tự bỏ vốn đầu tư cơ sở hạ tầng một số cơ sở giáo dục công lập sau đó cho nhà nước thuê dài hạn, hết thời hạn cho thuê, nhà đầu tư, doanh nghiệp bàn giao cơ sở vật chất cho nhà nước quản lý, sử dụng phục vụ cho hoạt động giáo dục và đào tạo của tỉnh.

4.2. Chính sách về giao đất, cho thuê đất

- Căn cứ điều kiện thực tế và từng trường hợp cụ thể, cơ sở thực hiện xã hội hóa được UBND tỉnh xem xét quyết định giao đất có thời hạn hoặc cho thuê đất có thời hạn đã hoàn thành giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề theo các hình thức sau:

+ Giao đất không thu tiền sử dụng đất.

+ Được cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng và được miễn tiền thuê đất cho cả thời gian thuê đất, thời gian cho thuê không quá 50 năm được UBND tỉnh cho thuê đất.

- Trường hợp chủ đầu tư đã ứng trước kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư dự án xã hội hóa theo phương án bồi thường được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì số kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư đã đầu tư đối với diện tích đất phục vụ hoạt động xã hội hóa sẽ được Ngân sách nhà nước hoàn trả. Mức giá và phương thức hoàn trả theo quy định của nhà nước. Thời gian hoàn trả chia làm hai đợt: Đợt 1: Hoàn trả 50% tổng giá trị bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư của dự án xã hội hóa theo phương án bồi thường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với phần diện tích đất phục vụ hoạt động xã hội hóa trong niên độ ngân sách của năm mà chủ đầu tư đề nghị sau khi dự án đi vào hoạt động. Đợt 2: Hoàn trả 50% tổng giá trị bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư của dự án xã hội hóa theo phương án bồi thường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với phần diện tích đất phục vụ hoạt động xã hội hóa còn lại trong niên độ ngân sách của năm tiếp theo.

- Trường hợp có từ hai nhà đầu tư trở lên cùng đăng ký lựa chọn một địa điểm để thực hiện dự án đầu tư trong lĩnh vực xã hội hóa thì thực hiện theo phương thức đấu thầu để lựa chọn nhà đầu tư có dự án đáp ứng cao nhất các tiêu chí về quy mô, chất lượng, hiệu quả.

- Trường hợp cơ sở thực hiện xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề có nguyện vọng được thực hiện theo phương thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện dự án đầu tư (không thực hiện miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất) thì UBND tỉnh sẽ xem xét, quyết định theo thẩm quyền việc giao đất, cho thuê đất cho chủ đầu tư dự án xã hội hóa theo quy định hiện hành về thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê. Trong trường hợp này cơ sở thực hiện xã hội hóa được trừ chi phí bồi thường đất, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ đất đã ứng trước theo quy định (nếu có) vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp nhưng không vượt quá tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp theo quy định; được tính giá trị quyền sử dụng đất, giá trị thuê đất vào giá trị tài sản của dự án đầu tư và có các quyền và nghĩa vụ như tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền một lần theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai.

- Trường hợp cơ sở công lập chuyển đổi sang loại hình cơ sở xã hội hóa thì được UBND tỉnh xem xét quyết định cho phép tiếp tục sử dụng diện tích đất đang sử dụng dưới các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất, hoặc cho thuê đất miễn thu tiền thuê đất theo chính sách này và Quyết định chế độ giao đất, cho thuê đất đối với đất đô thị, đất ở của UBND tỉnh.

- Cơ sở thực hiện xã hội hóa phải sử dụng đất đúng mục đích và phù hợp với quy hoạch đất dành cho lĩnh vực xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề. Trường hợp cơ sở thực hiện xã hội hóa sử dụng đất không đúng mục đích được giao thì bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai, đồng thời phải nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền sử dụng đất được miễn từ thời điểm giao đất đến thời điểm thu hồi đất theo giá thuê đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất và phải nộp ngân sách nhà nước những khoản mà cơ sở thực hiện xã hội hóa được ưu đãi theo quy định.

- Trường hợp cơ sở thực hiện xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề thực hiện dự án đầu tư không đáp ứng đầy đủ về loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn, kỹ thuật, tiến độ đầu tư dự án được xác định trong Giấy chứng nhận đầu tư hoặc đã thể hiện bằng văn bản cam kết riêng thì nhà đầu tư không được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất do UBND tỉnh quyết định tại thời điểm có quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền hoặc nộp tiền thuê đất theo quy định của UBND tỉnh từ thời điểm cho thuê đất theo giá thuê đất tại thời điểm có quyết định xử lý và phải nộp vào ngân sách nhà nước những khoản mà cơ sở thực hiện xã hội hóa đã được ưu đãi theo quy định.

- Cơ sở thực hiện xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất, cho thuê đất nhưng miễn tiền thuê đất phải thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Đất đai; không được tính giá trị quyền sử dụng đất đang sử dụng vào giá trị tài sản của dự án đầu tư và không được dùng để thế chấp làm tài sản vay vốn.

- Cơ sở thực hiện xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề không được chuyển nhượng đất đã được giao để thực hiện dự án xã hội hóa. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển nhượng cơ sở thực hiện xã hội hóa thì phải bảo đảm việc chuyển nhượng không làm thay đổi mục đích sử dụng đất phục vụ hoạt động xã hội hóa. Trong trường hợp này, việc thu hồi lại đất đã giao cho chủ đầu tư cũ để giao đất hoặc cho thuê đất đối với chủ đầu tư mới thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai.

- Các cơ quan nhà nước khi quy hoạch hoặc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh (bao gồm cả các khu đô thị mới, khu công nghiệp) phải bố trí quỹ đất phù hợp quy hoạch sử dụng đất dành cho các lĩnh vực xã hội hóa được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

4.3. Chính sách ưu đãi về tín dụng

Chính sách hỗ trợ tiền lãi suất vay đầu tư cơ sở thực hiện xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề. Cơ sở thực hiện xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề được hỗ trợ lãi suất đối với số tiền thực vay để đầu tư dự án xã hội hoá với mức tối đa không vượt quá 50% giá trị đầu tư. Cụ thể mức hỗ trợ lãi suất vay như sau:

- Khu vực các huyện Vân Hồ, Bắc Yên, Quỳnh Nhai, Sốp Cộp được hỗ trợ 50% lãi suất vay trong 5 năm.

- Khu vực các huyện Yên Châu, Phù Yên, Thuận Châu, Mường La, Sông Mã được hỗ trợ 30% lãi suất vay trong 5 năm.

- Khu vực thành phố Sơn La, huyện Mộc Châu, Mai Sơn được hỗ trợ 20% lãi suất vay trong 5 năm.

Mức lãi suất áp dụng theo kỳ hạn 01 năm của Ngân hàng thương mại tại tỉnh Sơn La.

4.4. Chính sách hỗ trợ phát triển từ ngân sách Nhà nước

- Hỗ trợ kinh phí đối với các cơ sở công lập chuyển đổi sang xã hội hóa, cơ sở công lập tự đảm bảo kinh phí: Ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho các đơn vị trong 3 năm đầu với mức 50% chi thường xuyên cho năm đầu tiên, hai năm tiếp theo hỗ trợ mỗi năm bằng 25% của năm thứ nhất.

+ Từ năm thứ tư trở đi các cơ sở công lập đã thực hiện xã hội hoá hoặc chuyển sang cung cấp dịch vụ tự đảm bảo kinh phí hưởng mức hỗ trợ như đối với các đơn vị ngoài công lập cùng lĩnh vực; trường hợp cơ sở xã hội hóa chưa tự đảm bảo kinh phí hoạt động, nhà nước sẽ hỗ trợ một phần kinh phí chi thường xuyên tùy theo khả năng ngân sách của tỉnh. Các cơ sở xã hội hóa, cơ sở tự cân đối thu chi được hỗ trợ kinh phí theo số lượng các đối tượng nghèo, đối tượng chính sách sử dụng dịch vụ và định mức chi trên đối tượng bằng với cơ sở công lập.

4.5. Chính sách về hỗ trợ nguồn nhân lực

Dành tỷ lệ 10% - 20% tổng số tiêu chuẩn đào tạo, bồi dưỡng hàng năm của tỉnh cho cơ sở thực hiện xã hội hóa tham gia chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, viên chức; hỗ trợ kinh phí tham gia chương trình đào tạo, bồi dưỡng như cán bộ, viên chức khối đơn vị sự nghiệp công lập; hỗ trợ việc sắp xếp, tuyển dụng nhân lực đối với các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang loại hình tự cân đối thu chi, các cơ sở xã hội hóa.

4.6. Chính sách thi đua - khen thưởng

Có chính sách thỏa đáng việc công nhận danh hiệu cán bộ quản lý, giáo viên gỏi..., xét, phong tặng các danh hiệu thi đua cho tập thể, cá nhân theo quy định của Nhà nước đối với cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên, học sinh thuộc các cơ sở giáo dục ngoài công lập có thành tích, đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo như cơ sở giáo dục công lập.

5. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và quản lý Nhà nước trong các hoạt động xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề; xây dựng xã hội học tập nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện Đề án.

5.1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và giám sát của các cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân, UBND các cấp; phát huy vai trò của các tổ chức Công đoàn, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên, Hội đồng giáo dục, Hội khuyến học và các đoàn thể, các tổ chức xã hội các cấp, Ban đại diện cha mẹ học sinh các cơ sở giáo dục, dạy nghề; xây dựng xã hội học tập, huy động nguồn lực toàn xã hội tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục, dạy nghề.

5.2. Đổi mới công tác quản lý Nhà nước, tạo điều kiện cho giáo dục - đào tạo, dạy nghề công lập và ngoài công lập được bình đẳng trong việc thực hiện nhiệm vụ. Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục - đào tạo, dạy nghề công lập thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn.

5.3. Thực hiện phân cấp trong quản lý Nhà nước đối với các cơ sở giáo dục - đào tạo, dạy nghề một cách hợp lý, dân chủ hoá trong công tác quản lý giáo dục và trong các cơ sở giáo dục - đào tạo, dạy nghề. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra trường học. Thực hiện cải cách hành chính, mở rộng mô hình trường công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

5.4. Trong kế hoạch của từng cấp, từng ngành phải xác định rõ chỉ tiêu phấn đấu, giải pháp, cơ chế chính sách và nguồn lực cho việc thực hiện xã hội hoá giáo dục - đào tạo, dạy nghề thuộc phạm vi quản lý. Hàng năm định kỳ sơ kết, tổng kết, bổ sung các giải pháp và nhân rộng các điển hình; báo cáo các cấp có thẩm quyền về tiến độ, kết quả thực hiện.

6. Tăng cường huy động mọi nguồn lực để thực hiện xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề

6.1. Tập trung tăng đầu tư trong cơ cấu ngân sách, đầu tư phát triển giáo dục vùng khó khăn, cho các đối tượng chính sách, người nghèo…, để thụ hưởng thành quả ngày càng cao của giáo dục và đào tạo.

6.2. Tập trung huy động các lực lượng xã hội cộng đồng trách nhiệm tham gia làm giáo dục. Đối với vùng thuận lợi, có cơ chế huy động nguồn lực từ xã hội hóa để hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất (xây tường rào, làm sân trường, bếp ăn, sửa chữa cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị trường học...) nâng cao dịch vụ công từ nguồn xã hội hoá, tổ chức dạy học, đáp ứng nhu cầu của xã hội, chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa.

6.3. Xây dựng quỹ khuyến học từ tỉnh đến cơ sở do nhân dân và các tổ chức kinh tế - xã hội tự nguyện đóng góp nhằm khuyến khích tài năng và trợ giúp người nghèo đi học.

6.4. Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức hội để tăng thêm nguồn lực phát triển sự nghiệp giáo dục. Khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho giáo dục, nhất là giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.




tải về 385.5 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương