Uỷ ban nhân dân tỉnh bắc kạN



tải về 250.5 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu10.12.2017
Kích250.5 Kb.
#4478


Ustraight connector 1Ỷ BAN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC KẠN


Cstraight connector 2ỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 


Số: 468/QĐ-UBND

Bắc Kạn, ngày 20 tháng 3 năm 2014

 

QUYẾT ĐỊNH

Về việc phê duyệt đề án: Bảo tồn nguồn gen một số động, thực vật quý hiếm

trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ năm 2014 đến 2020




ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật đa dạng sinh học ngày 28 tháng 11 năm 2008 và Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đa dạng sinh học;

Căn cứ Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/5/2007 của Chính phủ Ban hành kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học;

Căn cứ Thông tư số 18/2010/TT-BKHCN ngày 24/12/2010 của Bộ Khoa học và Công nghệ về quy định việc quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ về quỹ gen;

Căn cứ Quyết định số 885/2009/QĐ-UB ngày 28/4/2009 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành quy chế quản lý các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tỉnh Bắc Kạn,

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại Tờ trình số 11/TTr- SKHCN ngày 11/3/2014,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án: Bảo tồn nguồn gen một số động, thực vật quý hiếm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ năm 2014 đến 2020 (có Đề án chi tiết kèm theo).

Điều 2. Giao Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm tổ chức triển khai, hướng dẫn thực hiện Đề án được phê duyệt tai Điều 1.

Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các Sở, Ngành: Khoa học và Công nghệ, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Kho bạc nhà nước tỉnh; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.


  Nơi nhận:

- Như Điều 3 (t/h);

- Bộ Khoa học và Công nghệ;

- PCT UBND tỉnh (ô. Chí);

- PVP (ô.Bình);

- Lưu VT- Huy, Hà.31b



TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH

Nông Văn Chí



 

UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC KẠN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 










ĐỀ ÁN KHUNG

CÁC NHIỆM VỤ BẢO TỒN NGUỒN GEN

CẤP TỈNH THỰC HIỆN TRONG GIAI ĐOẠN NĂM 2014 ĐẾN 2020




(Kèm theo Quyết định số: 468 /QĐ-UND ngày 20 tháng 3 năm 2014

của UBND tỉnh Bắc Kạn)
I. THÔNG TIN CHUNG

1. Tên đề án: Bảo tồn nguồn gen một số động, thực vật quý hiếm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ năm 2014 đến 2020

2. Tên tổ chức đề xuất: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn

3. Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn

4. Đơn vị quản lý nhiệm vụ: Bộ Khoa học và Công nghệ

5. Đơn vị phối hợp chính thực hiện nhiệm vụ: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn; Sở Y tế; Hội Đông y tỉnh, UBND các huyện có các loại cây, con cần phải bảo tồn nguồn gen, các Viện nghiên cứu, Trường Đại học.

II. CĂN CỨ PHÁP LÝ

- Luật đa dạng sinh học số 20/2008/QH 12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008.

- Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/5/2007 của Chính phủ Ban hành kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học.

- Thông tư số 18/2010/TT-BKHCN ngày 24/12/2010 của Bộ khoa học và Công nghệ về quy định việc quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ về quỹ gen.




PHẦN I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ ÁN

1. Tổng quan về tầm quan trọng và tính cấp thiết của nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen sinh vật đối với sự phát triển của Bắc Kạn


1.1. Vị trí địa lý kinh tế và các đặc điểm tự nhiên

Bắc Kạn là tỉnh miền núi Phía Bắc Việt Nam, có tọa độ địa lý 21o 48’ đến 22o 44’ độ vĩ Bắc, 105o 26’ đến 106o 15’ độ kinh Đông. Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng.

Thị xã tỉnh lỵ Bắc Kạn cách Thủ đô Hà Nội 170 km về phía Bắc, cách biên giới Việt Nam – Trung Quốc khoảng 200 km dọc theo Quốc lộ 3 nối từ Hà Nội qua Thị xã Bắc Kạn đến Cao Bằng ra các cửa khẩu biên giới với Trung Quốc. Đây là tuyến giao thông quan trọng để giao lưu kinh tế, xã hội của Bắc Kạn với Hà Nội và các tỉnh khác trong vùng.

Bắc Kạn nằm trên đường Vành đai 2 với quốc lộ 279 từ Hạ Long (Quảng Ninh), qua Đồng Mỏ về Bình Gia (Lạng Sơn) đến Chợ Rã (Bắc Kạn) đến Tuyên Quang rồi kéo dài qua Yên Bái, Lai Châu và Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Tây Trang tỉnh Điện Biên. Đây là tuyến nối Bắc Kạn với các tỉnh trong vùng trung du miền núi Bắc Bộ.

Vị trí địa lý của Bắc Kạn ở vào thế khó khăn so với nhiều tỉnh khác trong vùng, xa trung tâm phát triển kinh tế của vùng, lại không có cửa khẩu biên giới nên việc giao lưu kinh tế, thu hút nguồn lực để đầu tư khó khăn.

1.2. Đặc điểm địa hình.

Bắc Kạn có địa hình tương đối phức tạp, đa dạng, độ chia cắt mạnh gồm nhiều dạng địa hình như: Thung lũng, đồi cao, núi thấp, núi trung bình và núi đá vôi... núi đá xen lẫn núi đất dễ gây sạt lở. Dộ dốc bình quân của địa hình là 260.

- Phía Tây của tỉnh có độ cao thấp dần từ Đông Bắc xuống Đông Nam, có nhiều đỉnh cao trên 1000m, địa hình chia cắt mạnh, độ dốc bình quân 26-30o, nhiều dãy núi đá đồ sộ nằm ở phía Bắc huyện Chợ Đồn và phía Nam huyện Ba Bể xen kẽ núi đất tạo thành những thung lũng hẹp.

- Phía Đông địa hình hiểm trở nằm trong phần cuối của cánh cung Ngân Sơn -Yến Lạc, có dãy núi đá vôi Kim Hỷ là khối đá đồ sộ, dân cư thưa thớt.

- Phía Tây Bắc là hồ Ba Bể có diện tích tự nhiên khoảng 500 ha, độ sâu khoảng 20 - 30 m, thiên nhiên đã tạo ra nơi đây một phong cảnh đẹp, một khu du lịch lý tưởng.

- Phía Nam của tỉnh là vùng đồi núi thấp như vùng chuyển tiếp từ trung du lên miền núi, độ cao bình quân từ 300 - 400 m so với mặt nước biển, đây là phần cuối cùng của cánh cung Sông Gâm, Ngân Sơn - Yến Lạc. Tuy độ cao không lớn, độ dốc bình quân 26o nhưng địa hình bị chia cắt mạnh, tạo nên các thung lũng nhiều hơn và rộng hơn điển hình là các thung lũng ven sông Cầu.

1.3. Điều kiện thời tiết - khí hậu, thuỷ văn.

Bắc Kạn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc Việt Nam, một năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh, khô và mùa hè nóng ẩm. Nhiệt độ bình quân năm khoảng 22,50C, tháng 2 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 15,70C, tháng nóng nhất là tháng 6 có nhiệt độ khoảng 280C. Do địa hình phức tạp nên đã hình thành các vùng tiểu khí hậu khác nhau, nhìn chung khí hậu của Bắc Kạn tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng.

Bắc Kạn chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam về mùa hè và gió mùa Đông Bắc về mùa Đông. Tổng lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1400 - 1900 mm, cao nhất vào tháng 7 và thấp nhất vào tháng 2, mùa mưa từ tháng 3 đến tháng 9 chiểm khoảng 75-80% tổng lượng mưa trong năm. Độ ẩm không khí trung bình 82-85%.

1.4. Tài nguyên đất

Diện tích đất tự nhiên của Bắc Kạn năm 2011 là 485.941 ha, trong đó đất nông nghiệp (bao gồm cả đất lâm nghiệp) là 413.044 ha chiếm 84,99%, đất phi nông nghiệp là 21.159 ha chiếm 4,3% và đất chưa sử dụng là 51.738 ha chiếm 10,71%. Nhìn chung đất đai trong tỉnh Bắc Kạn tương đối màu mỡ, nhiều nơi tầng đất dầy, có lượng bùn cao, thích hợp cho sản xuất nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên ở một số nơi như Ngân Sơn, Bạch Thông do lớp thảm thực vật bị mất trong nhiều năm nên đất bị xói mòn, thoái hoá làm cho tầng đất mỏng, nghèo dinh dưỡng, khô cằn.

Những loại đất chính của tỉnh Bắc Kạn như sau:

- Đất phù sa sông: có diện tích khoảng 761 ha được phân bố ở ven sông Cầu, sông Năng, sông Bắc Kạn và tại các huyện Chợ Mới, Na Rì, Ba Bể, thị xã Bắc Kạn. Loại đất này giàu hàm lượng các chất dinh dưỡng, rất thuận lợi trong phát triển nông nghiệp thâm canh.

- Đất phù sa ngòi suối: loại đất này có 10.067 ha phân bố dọc theo các triền suối thuộc lưu vực sông Năng, sông Cầu và sông Bắc Kạn. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt lớn và tỷ lệ mùn trung bình, hàm lượng lân dễ tiêu khá. Tuy nhiên loại đất này chua, tỷ lệ các nguyên tố vi lượng nghèo và sắt nhôm di động cao.

- Đất dốc tụ trồng lúa nước: với diện tích 2.249 ha, phân bố xen kẽ với các loại đất khác và có mặt ở hầu khắp các huyện. Loại đất này có địa hình phức tạp do nằm xen kẽ và các lòng máng lớn nhỏ tạo thành. Đất lẫn nhiều sỏi đá và thành phần dinh dưỡng nghèo, đất chua, thiếu lân.

- Đất Ferelit biến đổi: có diện tích khoảng 2.242 ha phân bố rải rác ở các huyện và thị xã, nhưng tập trung ở huyện Bạch Thông. Đặc điểm do thường xuyên bị ngập nước nên đất chua nhưng hàm lượng dinh dưỡng ở mức trung bình. Tầng đất dày khoảng 50 cm và loại đất này khả năng giữ nước kém.

- Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ: với diện tích trên 400 ha phân bố ở huyện Chợ Mới, Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn. Đất có tầng đất dày trên 1 m và nằm trên dườn đồi có độ dốc nhỏ dưới 120. Đất chua, nghèo lân và lượng nhôm di động cao.

- Đất Feralit phát triển trên đá phiến thạch sét: loại đất này có diện tích lớn bằng 82.152 ha, phân bố ở tất cả các huyện thị trong tỉnh. Loại đất này có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày tuy nhiên cũng hay bị sụt lở. Hàm lượng dinh dưỡng phụ thuộc vào tình hình rừng ở phía trên.

- Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá granit: với 48.977 ha loại đất này phân bố ở Bạch Thông, Ba Bể, Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn. Thành phần cơ giới trung bình và tầng đất từ trung bình đến dày. Hàm lượng mùn cao, đất có phản ứng trung tính.

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá biến chất: loại đất này có diện tích lớn nhất (162.255 ha), phân bố ở Ngân Sơn, Chợ Đồn, Ba Bể, Chợ Mới. Tầng đất dày và kết cấu đất tơi xốp nên rất dễ bị sụt lở, rửa trôi. Đạm và mùn có hàm lượng khá giàu nhưng lân dễ tiêu lịa nghèo, đất chua.

- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi: có diện tích 59.728 ha, phân bố ở hầu khắp các huyện song nhiều nhất là Na Rì, Ba Bể, Bạch Thông. Tầng đất mỏng nhưng cấu tượng của đất tốt. Hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong loại đất này như Ca và Mg rất lớn.

- Đất Feralit vàng nhạt phát triển trên sa thạch: với diện tích 14.632 ha, loại đất này phân bố chủ yếu ở Na Rì, Ba Bể, Ngân Sơn. Tầng đất trung bình, thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng mùn và chất hữu cơ nghèo. Đất chua, rất chua và dễ bị xói mòn, bị bạc màu.

- Đất Feralit mùn trên núi cao trên 700 m: loại đất này có diện tích 64.200 ha, phân bố ở các huyện Ngân Sơn, Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông và Na Rì. Tầng đất mỏng nhưng hàm lượng mùn khá cao do chất hữu cơ phân giải. Loại đất này rất thích nghi với một số loại cây trồng ôn đới.

- Đất nông nghiệp: có diện tích 413.044ha, chiếm 84,99%, trong đó đất sản xuất nông nghiệp rất hạn chế chỉ có 14ha ha chiếm 0,003% diện tích tự nhiên. Với diện tích nông nghiệp lớn như vậy sẽ là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Hiện tại hệ số sử dụng đất khoảng 1,91 lần và so với các tỉnh khác trong vùng tương đối thấp. Trong đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp 36.650ha chiếm 8,9% so với diện tích nông nghiệp.

Đất trồng cây hàng năm có 31.338 ha (chiếm 85,2% diện tích đất sản xuất nông nghiệp), trong đó trồng lúa 18.563 ha, đất trồng cây hàng năm còn lại có 12.775 ha chủ yếu gieo trồng các loại rau, màu, đậu tương, ngô, lạc, bông v.v. Đất trồng cây lâu năm có 5.312 ha. Năng suất cây trồng hàng năm và lâu năm ở Bắc Kạn không cao, bình quân mới chỉ bằng 60 đến 70% so với năng suất có thể đạt được, nguyên nhân cơ bản là nông dân chưa thâm canh mà chủ yếu là quảng canh với nguồn giống chưa bảo đảm.

Đất lâm nghiệp: 470.094ha, trong đó: Diện đất có rừng 334.037 ha, trong đó diện tích có rừng sản xuất là 229.628 ha, rừng phòng hộ: 81.593ha, rừng đặc dụng: 22.817ha; diện tích rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp là 8.795ha; diện tích đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp là 89.555 ha, độ che phủ rừng 70,6% (Theo quyết định 157/QĐ-BNN-TCLN ngà 25/01/2014 của Bộ NN&PTNT)

Đất nuôi trồng thủy sản: 1043ha

Đất nông nghiệp khác: 14ha,

Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất của Bắc Kạn cụ thể như sau:



Diện tích các loại đất năm 2014

Đơn vị tính: ha

Loại đất

2001

2005

2014

Tổng diện tích đất tự nhiên

485.721

486.842

485.941

I. Đất nông nghiệp

332.232

371.767

470.094

1. Đất sản xuất nông nghiệp

30.024

37.798

36.650

2. Đất lâm nghiệp

301.718

333.058

432.387

Đất có rừng







334.037

Diện tích rừng ngoài quy hoạch







8.795

Diện tích đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp







89.555

3. Đất nuôi trồng thuỷ sản

486

861

1.043

4. Đất nông nghiệp khác

4

50

14

II. Đất phi nông nghiệp

15.622

18.582

21.159

1. Đất ở

2.124

2.345

3.333

2. Đất chuyên dùng

7.901

10.684

12.348

3. Đất tôn giáo, tín ngưỡng




4

4

3. Đất nghĩa trang, nghĩa địa

105

166

168

4. Đất sông, suối, mặt nước chuyên dụng

5.492

5.382

5.034

5. Đất phi nông nghiệp khác




1

2

III. Đất chưa sử dụng

137.867

96.493

51.738

1. Đất bằng chưa sử dụng

5.334

3.345

3.366

2. Đất đồi núi chưa sử dụng

122.480

88.516

45.120

3. Núi đá không có rừng cây

10.053

4.632

3.252

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn (2001-2005-2012),

QĐ 157/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT

- Đất phi nông nghiệp: Trong 5 năm vừa qua diện tích đất phi nông nghiệp tăng chậm, năm 2001 có 15.622 ha (chiếm 3,2% diện tích tự nhiên) đến năm 2005 tăng lên 18.582 ha (chiếm 3,8% diện tích tự nhiên) và năm 2014 là 21.159 ha (chiếm 4,3% diện tích tự nhiên).

- Đất chưa sử dụng: diện tích đất chưa sử dụng giảm từ 137.867 ha năm 2001 xuống còn 96.493 ha năm 2005 và còn 51.738ha năm 2012, nhất là đất đồi núi chưa sử dụng giảm từ 122.480 ha năm 2001 xuống 45.120ha năm 2014.

Đất chưa sử dụng là đất bằng, đất độ dốc thấp có diện tích rất hạn chế: 3.366ha (ước tính 6,5%); chủ yếu là đất chưa sử dụng có độ dốc lớn với diện tích 45.120 ha chiếm 87,2% hiện nay, chủ yếu dùng vào phát triển lâm nghiệp (rừng phòng hộ).

Từ kết quả trên cho thấy tiềm năng đất của tỉnh còn khá lớn, riêng đất chưa sử dụng có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp là trên 51 ngàn ha. Hiện nay, hệ số sử dụng đất còn thấp, có thể nâng hệ số sử dụng đất lên. năng suất cây trồng, vật nuôi cũng còn tiềm ẩn khá, nếu áp dụng đưa giống mới vào sản xuất, chế độ canh tác hợp lý thì sẽ đưa được năng suất lên ít nhất là 1,3 - 1,4 lần so với năng suất hiện nay.

1.5. Tài nguyên nước

Bắc Kạn là đầu nguồn của 5 con sông lớn, với tổng chiều dài là 313 km, lưu lượng lớn 105,3 m3/s và có nước quanh năm. Ngoài các con sông chính, trong tỉnh còn có các hệ thống suối lớn, nhỏ khá nhiều, song đa phần nhỏ và ngắn, phần lớn nằm ở thượng nguồn nên nhiều thác ghềnh. Mùa khô các con suối thường cạn nước, nhưng mùa mưa nước lại dồn về rất nhanh nên thường gây nên lũ quét ở miền núi. Nguồn nước của tỉnh Bắc Kạn tương đối phong phú nhất là nước mặt (khoảng 3,7 tỷ m3, hàng năm tiếp nhận 2 - 2,5 tỷ m3 nước mưa. Hiện nay việc khai thác tài nguyên nước mới chỉ dừng lại ở mức tự nhiên là chính, chưa có giải pháp khai thác tổng hợp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường. Trong tương lai cần đẩy mạnh trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn để hạn chế dòng chảy chống lũ lụt, xói mòn, rửa trôi, xây dựng các phai, đập, hồ chứa nước cho sinh hoạt và sản xuất nhằm khai thác hợp lý, khoa học và có hiệu quả nguồn tài nguyên nước của tỉnh.

Hồ Ba Bể nằm ở trung tâm Vườn Quốc gia Ba Bể với diện tích gần 500 ha, là hồ nước ngọt tự nhiên trên núi đá vôi cơ chế hình thành độc đáo nhất thế giới, có tính đa dạng sinh học cao với 106 loài cá, trong đó có nhiều loài đặc hữu quý, hiếm, nhiều loài có giá trị kinh tế cao; là nơi di trú của các loài chim nước, đặc biệt từ năm 2007 đến nay các nhà khoa học đã tìm thấy loài Vạc hoa - một loài chim được coi là tuyệt chủng trên toàn thế giới sau 25 năm. Nguồn lợi thủy sản của hồ Ba Bể là nguồn thu nhập chủ yếu cho cộng đồng dân cư sống xung quanh hồ. Năm 2008, Hồ Ba Bể được các quốc gia châu Á đưa vào danh sách 68 khu bảo tồn đất ngập nước nội địa, ven biển có giá trị đa dạng sinh học và môi trường quốc gia cũng như toàn cầu. Hồ Ba Bể là một trong 5 vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1479/QĐ-TTg, ngày 13/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn đất ngập nước nội địa đến năm 2020. Năm 2011 được Tổ chức Ramsar quốc tế công nhận là Khu Ramsar (Khu ngập nước có tầm quan trọng quốc tế).

1.6. Tài nguyên rừng

Đến hết năm 2012 Bắc Kạn có 375.337 ha đất rừng chiếm 77,24% đất tự nhiên. Rừng của Bắc Kạn có vị trí quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái và đời sống nhân dân. Diện tích rừng sản xuất của Bắc Kạn chiếm khoảng 65,5%; diện tích rừng phòng hộ chiếm khoảng 28,6% và rừng đặc dụng chiếm khoảng 5,9%. Bắc Kạn có vị trí địa lý nằm ở vùng giao lưu giữa 2 khu hệ động, thực vật của vùng núi Tây Bắc và Đông Bắc. Tuy rừng núi không cao nhưng rất đa dạng về địa hình, địa chất và dạng sinh cảnh.

Rừng Bắc Kạn có hệ động thực vật phong phú với nhiều nguồn gen quý hiếm, hiện có khoảng 34 bộ, 110 họ và 336 loài chim, thú, bò sát, lưỡng cư đang sinh sống, trong đó có 64 loài đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam, đặc biệt là có 10 loài đặc hữu của Việt Nam. Về thực vật có 148 họ, 537 chi và 826 loài đang sinh sống và phát triển, trong đó có 52 loài được xếp vào sách đỏ Việt Nam.

Riêng khu vực Vườn Quốc Gia Ba Bể là Khu di sản thiên nhiên Asian, Khu ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (Ramsar), Khu di tích đặc biệt của quốc gia. Bên cạnh cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ, Vườn quốc gia Ba Bể còn là nơi có tính đa dạng sinh học cao:

Khu hệ thực vật Vườn quốc gia Ba Bể rất phong phú gồm 1.268 loài thuộc 672 chi, 162 họ, 5 ngành. Trong đó có 37 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam (1996) và 21 loài có tên trong sách đỏ về các loài thực vật nguy cấp của IUCN (2004).

Khu hệ động vật: Những kết quả khảo sát bước đầu đã thống kê được 553 loài động vật có xương sống thuộc 99 họ, 32 bộ, trong đó có 51 loài đã ghi trong sách đỏ Việt Nam (2000), 26 loài cần đựơc ưu tiên bảo vệ mức độ toàn cầu và đã được ghi trong sách đỏ các loài động vật có nguy cơ bị đe dọa của IUCN (2004). Có 1 loài phụ thuộc lớp thú - Voọc đen má trắng (Seminopithecus francoisi francoisi) hiện tại chỉ biết ở khu vực phía Bắc của Việt Nam đây là loài đặc trưng của vùng núi đá vôi và 2 loài bò sát lưỡng cư (ếch Bắc bộ - Rana bacboensis Bain, Lathrop, Murphy, orlov, and Cuc, 2003, là loài mới cho khoa học và Cá cóc bụng hoa - Paramesotriton deloustali Bourret, 1934) là những loài đặc hữu của Việt Nam, 3 loài cá địa phương (Parazacco babeensis Hào và Đại, 2000; Onychostoma babeensis Hào và Hiệp, 2001; Spinibarbus babeensis Hào, 2001) mới chỉ tìm thấy ở khu vực hồ Ba Bể. Đặc biệt có loài Vạc hoa Gorsachius magnificus là một trong những loài có nguy cơ bị đe dọa mức độ toàn cầu được các nhà khoa học ghi nhận từ năm 2004.

Tóm lại, rừng Bắc Kạn là một tài nguyên quý, phong phú và đa dạng, ngoài khả năng cung cấp gỗ và các loại lâm sản, đây còn là một trong những trung tâm bảo tồn gen động, thực vật quý hiếm của các tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam.

2. Tổng quan về các nguồn gen cần bảo tồn

Hoạt động bảo tồn đặc biệt có giá trị trong việc cung cấp nguồn gen để sử dụng trong tương lai vì mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo sự ổn định của các hệ thống nông nghiệp, bảo vệ môi trường, gìn giữ các nét văn hóa, truyền thống, tri thức bản địa và cung cấp vật liệu cho các chương trình chọn tạo giống và các nghiên cứu khoa học khác. Đa số các nguồn gen bản địa quý đã không còn tồn tại trong sản xuất và tự nhiên hoặc tồn tại không đáng kể. Đây là nguồn di sản vô giá của tỉnh cần tiếp tục được quản lý hiệu quả để sử dụng trước mắt, và đặc biệt là để các thế hệ tương lai có cơ hội lựa chọn, sử dụng các nguồn gen bản địa có khả năng tạo ra sản phẩm hàng hoá có lợi thế canh tranh; Cho đến nay, nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho công tác điều tra, kiểm kê và thu thập nguồn gen cây trồng, vật nuôi còn quá ít ỏi, trong khi nguy cơ xói mòn nguồn gen cây trồng, vật nuôi trong sản xuất và trong tự nhiên ngày càng gia tăng.

Mục tiêu của đề án là nhằm bảo tồn và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thực vật, động vật, vì thế nhiệm vụ có tác động to lớn đến việc phát triển bền vững của người dân, nhất là trong bối cảnh khí hậu không ngừng biến đổi bất lợi cho sản xuất nông nghiệp và cho đời sống con người, vật nuôi. Những giống cây trồng, vật nuôi được tạo thành từ các nguồn gen với các đặc tính quý do đề án cung cấp sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho tỉnh Bắc Kạn.

Bảo tồn nguồn tài nguyên di truyền là cơ sở để nâng cao sản lượng nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững, góp phần quan trọng vào xoá đói giảm nghèo, an toàn lương thực và bảo vệ  môi trường của toàn cầu.

Tài nguyên di truyền thực vật được ghi nhận có vai trò ngang với tài nguyên đất và tài nguyên nước để duy trì an toàn lương thực cho con người trên trái đất. Khác với các nguồn tài nguyên khác, tài nguyên cây trồng là một trong những tài nguyên thiên nhiên tái tạo được và là di sản văn hoá quý giá của loài người mà vị trí và tầm quan trọng mỗi ngày một gia tăng. Nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên cây trồng, các nước đang tập trung đầu tư cho việc thu thập, bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn gen, xem đây là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất. Vì vậy, nhiều nhà khoa học tầm cỡ trên thế giới đã khẳng định rằng: Nước nào giữ và bảo tồn được nhiều tài nguyên di truyền thực vật, thì nước đó sẽ quyết định sự phát triển nông nghiệp trong tương lai.

Trong hoạt động bảo tồn nguồn gen, những thông tin từ việc việc bảo tồn sẽ được sử dụng hiệu quả trong các chương trình chọn tạo giống cũng như đóng góp cho việc bảo tồn những nguồn gen quý đang có nguy cơ suy giảm nghiêm trọng.

Trên thế giới, tại nhiều quốc gia, việc thu thập và lưu giữ nguồn gen cây trồng, vật nuôi để phục vụ phát triển kinh tế, xã hội lâu dài đã được quan tâm từ đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, từ những năm 60 cộng đồng thế giới đã coi đây là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhằm kịp thời thu thập, bảo tồn nguồn gen cây trồng, vật nuôi trước những nguy cơ xói mòn ngày càng gia tăng. Năm 1960 Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) được thành lập và năm 1962 viện này đã bắt đầu thu thập quỹ gen lúa trên toàn thế giới, và đến năm 1977 IRRI đã khai trương Ngân hàng gen lúa quốc tế (International Rice Genebank - IRGB) để lưu giữ tập đoàn quỹ gen lúa thu thập từ 110 quốc gia. Rất nhiều nguồn gen lúa của Việt Nam đã được thu thập và lưu giữ tại đây. Hiện tại, thế giới có 1,3 tỷ con bò với hàng trăm giống khác nhau đã được thuần hoá và chọn lọc, nhân thuần và lai tạo hàng trăm năm. Có nhiều giống bò thuần địa phương nổi tiếng, như bò Red Sind (Pakistan), bò Sahiwal (Ấn độ). Các giống bò nhiệt đới Châu á này là những nguồn gen quý để lai tạo với các giống bò ôn đới của Châu Âu như Santagestrudis, Charolais, Limousin để tạo nên những giống bò thịt nổi tiếng thế giới. Đồng thời chúng cũng được chọn lọc nâng cao năng suất và tạo nên các dòng thuần bò khác nhau phù hợp với môi trường nuôi dưỡng, điều kiện sinh thái của địa phương.

Ngày nay, xu thế hội nhập và cộng tác để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này càng gia tăng. Năm 1963, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp Quốc (FAO) đã thành lập nhóm chuyên gia điều tra thu thập quỹ gen thực vật để tư vấn và hướng dẫn cho nhiệm vụ thu thập, bảo tồn và trao đổi nguồn gen trên toàn thế giới. Năm 1974 Ban Tài nguyên di truyền thực vật quốc tế (nay là Bioversity International) được thành lập, và đã thiết lập một mạng lưới quốc tế nhằm bảo tồn và quản lý hiệu quả TNDTTV toàn cầu. Mục tiêu chiến lược của mạng lưới Tài nguyên di truyền thực vật Quốc tế là sử dụng một cách hợp lý nhất sự đa dạng Tài nguyên di truyền thực vật vì các mục tiêu phát triển con người và xã hội. Tầm nhìn của mạng lưới này là bảo tồn và khai thác sử dụng đa dạng sinh học nông nghiệp vì cuộc sống tốt đẹp, giầu có hơn của loài người. Các định hướng chính bao gồm: bảo tồn và sử dụng đa dạng Tài nguyên di truyền thực vật để tăng thu nhập và đảm bảo an ninh lương thực; nghiên cứu bảo tồn và sử dụng các kiến thức bản địa về Tài nguyên di truyền thực vật; phát triển năng lực và thể chế để bảo tồn và sử dụng hiệu quả Tài nguyên di truyền thực vật; phát triển chính sách hỗ trợ bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp; và nâng cao nhận thức về giá trị của Tài nguyên di truyền thực vật và sự cần thiết phải bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này.

Tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lương thực và nông nghiệp hay còn gọi Quỹ gen cây trồng (QGCT), một bộ phận quan trọng của Tài nguyên di truyền thực vật càng được thế giới quan tâm hơn. Năm 1982 FAO thành lập Ủy ban Tài nguyên di truyền thực vật, năm 1996 đổi tên thành Ủy ban Tài nguyên di truyền thực vật. Kế hoạch hành động toàn cầu về bảo tồn, sử dụng bền vững Tài nguyên di truyền thực vật do FAO chủ trì đang được thực hiện với sự tham gia của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Kế hoạch này nhằm tăng cường tất cả các nhóm hoạt động của nhiệm vụ bảo tồn Tài nguyên di truyền thực vật trên toàn thế giới.

Các nước kinh tế phát triển càng đặc biệt quan tâm đến công tác bảo tồn Tài nguyên di truyền thực vật. Nhiều nước đã thiết lập ngân hàng gen thực vật quốc gia để lưu giữ số lượng lớn nguồn gen. Hiện toàn thế giới có 140 nước và tổ chức có ngân hàng gen cây trồng, đang lưu giữ trên 6 triệu mẫu giống, trong đó 83 % là ở các ngân hàng gen cây trồng cấp quốc gia, chủ yếu là ở các nước lớn như Trung quốc, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Đức, Canada; 11% ở các ngân hàng gen của các tổ chức quốc tế, phần còn lại ở khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, và một số tổ chức khác. Những tập đoàn quỹ gen cây trồng mang tính toàn cầu được thu thập và bảo quản tại các viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế như IRRI, CIMMYT, ICRISAT, IITA, CIAT, CIP, AVRDC v.v.

Cùng với việc thực hiện các hoạt động thu thập, lưu giữ và khai thác, sử dụng nguồn gen nhiều văn bản chính sách, hiệp ước quốc tế cũng được ra đời. Năm 1992 Công ước quốc tế về đa dạng sinh học (CBD) được thông qua, năm 1994 bắt đầu có hiệu lực, và hiện tại có 190 nước tham gia, trong đó có Việt Nam. Mục tiêu của Công ước là bảo tồn và sử dụng bền vững các hợp phần của đa dạng sinh học và chia sẻ công bằng và bình đẳng lợi nhuận thu được từ việc sử dụng nguồn gen. Công ước thúc đẩy cả hai hình thức tồn ex situin situ như một giải pháp tổng thể, bổ sung cho nhau nhằm bảo tồn hiệu quả quỹ gen của từng nhóm đối tượng cây trồng. Nhất là đối với nhóm các cây nhân giống vô tính, cây ăn quả và các nguồn gen bản địa, nhiều nỗ lực đã được thực hiện để thúc đẩy bảo tồn in situ trên đồng đất của nông dân (bảo tồn on-farm), thông qua khai thác, sử dụng nguồn gen.

* Trong nước:

Việc thu thập quỹ gen cây trồng ở Việt Nam đã được bắt đầu từ sau chiến tranh Thế giới thứ nhất. Đồng thời với việc đẩy mạnh khai thác thuộc địa, người Pháp đã tiến hành thu thập các giống lúa trồng, hình thành tập đoàn quỹ gen lúa để từ đó bình tuyển các giống ưu tú mở rộng sản xuất nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam. Người Pháp cũng nhập nội nguồn gen cao su và cà phê vào Đông Dương để xúc tiến mở rộng đồn điền sản xuất hai nhóm cây công nghiệp quan trọng này ở Việt Nam.


Sau ngày giành độc lập, công tác quỹ gen cây trồng cũng ngay lập tức được chính phủ quan tâm, đầu tư. Năm 1956, Học viện Nông Lâm đã bắt đầu tổ chức thu thập và nghiên cứu một số tập đoàn giống cây trồng ở miền Bắc. Năm 1987 Chương trình Bảo tồn nguồn gen quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì đã xúc tiến nhiệm vụ bảo tồn quỹ gen cây trồng; việc định hướng chiến lược, lựa chọn phương thức bảo tồn thích hợp với từng nhóm đối tượng cây trồng từng bước được hoàn thiện. Cùng năm này bảo tồn quỹ gen cây trồng đã trở thành nhiệm vụ khoa học thường xuyên cấp nhà nước, sau khi Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, nay là Bộ Khoa học và Công nghệ, ban hành Quy chế lâm thời về bảo tồn nguồn gen.


Năm 1989 Tổ Quỹ gen cây trồng thuộc Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam cũ được thành lập. Năm 1990 cơ sở của Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia được hình thành, ban đầu lưu giữ 1.300 giống lúa. Năm 1996, Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật trực thuộc Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam cũ được thành lập, và được giao nhiệm vụ là cơ quan đầu mối điều phối các hoạt động bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật vì mục tiêu lương thực và nông nghiệp trong cả nước. Cùng với việc xây dựng và phát triển Ngân hàng gen thực vật quốc gia, Hệ thống Tài nguyên di truyền thực vật quốc gia bao gồm 22 đơn vị thành viên hoạt động theo nguyên tắc màng lưới cũng dần được hình thành.

Nguồn gen động vật quý hiếm là một bộ phận quan trọng của đa dạng sinh học nó là tài sản quý giá hiện đang phát huy ý nghĩa kinh tế như là giống thuần thích nghi với điều kiện sinh thái địa phương đồng thời còn là nguyên liệu phục vụ cho công tác lai tạo giống trước mắt và sau này. Không riêng các loài động vật hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng nghiêm trọng do môi trường sống bị thu hẹp và sự săn bắt của con người. Các giống vật nuôi dưới tác động của thiên nhiên và áp lực của kinh tế thị trường cũng đang bị mất dần, bị làm nghèo đi.

Một trong những niềm tự hào của đất nước ta, đó là dù phải trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, chúng ta vẫn còn giữ được một kho tàng đa dạng sinh học phong phú. Và việc gìn giữ kho báu này là công việc của toàn dân của nhà nước ta.

Giống như dã thú, các vật nuôi cũng chịu sự huỷ diệt của thiên nhiên và ngay của con người, ngoài các lý do thiên tai hoả hoạn còn do:

- Áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, qua thay đổi giống mới, bỏ giống địa phương.

- Tác động của các kỹ thuật mới như thụ tinh nhân tạo, tạo ra vô vàn giống lai có năng suất cao hơn, làm các giống nội thuần biến mất.

Sự tuyệt chủng của nhiều giống vật nuôi địa phương, những giống tuy năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quý giá như thơm ngon, thích nghi với điều kiện sinh thái. Sự tuyệt chủng này gần đây xảy ra rất nhanh theo tốc độ phát triển của kinh tế thị trường và đô thị hoá.

Kết quả nghiên cứu, bảo tồn chọn lọc và phát triển của Đề án Bảo tồn nguồn gen vật nuôi quốc gia, do Viện Chăn nuôi thực hiện, cho thấy, 17 năm qua, tại các tỉnh phía Bắc đã phát hiện thêm 14 loài vật nuôi mới quý hiếm, có giá trị kinh tế.

Trong đó, nhiều giống vật nuôi có vốn gen quý hiếm ở Việt Nam đã được cứu vãn và phục hồi thành công như: lợn Móng Cái, lợn Táp lá (Cao Bằng), ngựa Bạch, gà của đồng bào Mông, gà Tè (lùn), vịt Bầu Bến (Hoà Bình), vịt Kỳ lừa, vịt đốm (Lạng Sơn)...

Tại hội nghị “Phát triển các giống vật nuôi địa phương quý trong hệ thống chăn nuôi nhỏ ở miền núi phía Bắc Việt Nam: Nghiên cứu, ứng dụng và triển khai”, vừa tổ chức mới đây tại Sơn La, đề tài Đề án Bảo tồn nguồn gen vật nuôi quốc gia, do Viện Chăn nuôi thực hiện với sự hỗ trợ của FAO, Tổ chức nghiên cứu phát triển Đức (DFG) thông qua Chương trình nghiên cứu hỗ trợ vùng cao (Uplands Program) miền núi Đông Nam châu Á, đã được công bố.

Hơn 10 năm qua, Việt Nam đã quan tâm đến bảo tồn và phát triển nguồn đa dạng sinh học của các giống vật nuôi bản địa. Đã có hơn 50 giống vật nuôi bản địa được nghiên cứu, phát hiện, bảo tồn và phát triển. Một số giống đã được phục hồi và trở thành hàng hóa, mang lại lợi ích cho người nông dân. Trong đó, có 14 loài vật nuôi mới quý hiếm.

Trong các vùng sinh thái của Việt Nam, 15 tỉnh miền núi và trung du phía Bắc là khu vực có đa dạng giống vật nuôi bản địa phong phú nhất, còn lưu giữ nhiều giống nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ và phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có của vùng.

Trong xu thế hội nhập kinh tế ngày càng gia tăng và với nguy cơ ngày càng cao của suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu, quốc gia nào làm chủ đ­ược nhiều tài nguyên di truyền động, thực vật thì quốc gia đó có tiềm năng to lớn trong cạnh tranh về sản phẩm nông nghiệp, phát triển công nghệ sinh học, đảm bảo an ninh lương thực, quốc phòng và bảo vệ môi trường. Đầu t­ư cho đề án là nhằm đảm bảo để n­ước ta quản lý hiệu quả và bảo vệ quyền sở hữu của mình đối với nguồn tài nguyên quý giá này của dân tộc.



Khái quát về các nguồn gen bảo tồn tại Bắc Kạn

Nguồn gen bản địa về cây trồng và vật nuôi của tỉnh rất phong phú, có nhiều nguồn gen mang tính giá trị cao trong thực tiễn sản xuất như các giống cây trồng Hồng không hạt, Quýt Bắc Kạn, Khoai môn Bắc Kạn, Chè tuyết, Gừng đá, Lan Kim tuyến, Lúa nếp Khẩu nua lếch, lúa Bao Thai Chợ Đồn, Rong giềng, một số cây dược liệu quý.... Ngoài ra, nguồn gen động vật quý hiếm tại Bắc Kạn như Giống Bò của đồng bào Mông, trâu, gà của đồng bào Mông, lợn địa phương, Vịt bầu Bắc Kạn, Dê cỏ, Ngựa bạch, là những động vật bản địa quý hiếm và có nhiều đặc điểm ưu việt. Mặc dù vậy nhưng hiện nay những nguồn gen này đang có nguy cơ bị thoái hoá về giống do vấn đề cận huyết kéo dài. Việc khai thác các giống động vật này của đồng bào Mông mang tính tự phát thiếu điều tiết đã mang lại một số bất cập mà chúng ta phải quan tâm như sau:

- Số bán đi thường là to con, có sản lượng thịt lớn. Số còn lại kém hơn mới tiêu thụ nội bộ. Việc bán hoặc thịt đi một số con tốt sẽ gây thoái hóa đàn còn lại, vì vậy cần phải khôi phục và bảo tồn.

- Việc nuôi dưỡng vẫn chưa vươn tới sản phẩm hàng hoá, chưa có thương hiệu chưa đảm bảo cho việc phát triển bền vững.

- Phương thức chăn nuôi vẫn mang nặng tính truyền thống “thủ công”, “sản xuất nhỏ”, không đủ sức để cạnh tranh với thương trường mở với thế giới bên ngoài.

- Chưa có hệ thống chọn lọc nhân giống, quản lý giống để phát huy tiềm năng di truyền về năng xuất, sản lượng và chất lượng giống. Có nguy cơ cao về đồng huyết, dẫn đến thoái hoá do phương pháp nhân giống truyền thống. Vấn đề đặt ra là : cần phải có một kế hoạch bảo tồn và phát triển giống gia súc của đồng bào Mông tại tỉnh Bắc Kạn nhằm thuần hóa, tạo nguồn gen tốt.

Các nguồn gen động, thực vật quý hiếm tại tỉnh cũng đã được quan tâm, nhưng chỉ dừng lại ở bước đầu thu thập, phục tráng và phát triển không đáng kể. Người dân sẽ thu được hiệu quả kinh tế cao từ việc trồng các giống bản địa hoặc nuôi các giống động vật bản địa nếu có nguồn gen tốt và có từng biện pháp kỹ thuật áp dụng cụ thể cho từng đối tượng.

BẢNG 1. DANH MỤC CÁC NHIỆM VỤ BẢO TỒN NGUỒN GEN ĐỀ NGHỊ THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN NĂM 2014 ĐẾN 2020


TT

Nguồn gen cần bảo tồn

I

Cây dược liệu




Bảo tồn nguồn gen một số cây dược liệu bản địa quý hiếm tại tỉnh Bắc Kạn.

(1)- Bình vôi tím (Sterphania rotundalour).

(2)- Hà thủ ô đỏ ( Polygonum multiflorum Thunb)

(3) Bách quản (Cinnamomum sp.)

(4) Đi mi (Mật gấu) (Luculia pinciana)

(5) Mừ phi (Helicopsis lobata)

(6) Bảy lá một hoa (Paris polphylla Sm)

(7) Đào rừng (Prunus ippeliana var.crassistyla J.E.Vid)

(8) Hoàng đằng (Mahonia japonica)

(9) Hồng đằng (Ara roxburghiana)

(10) Tan huyết (Ventylago leiocrapa Benth)

(11) Tan quy (Eblia parviflora)

(12) Xiên cân lực (Flemingia macrophylla)

(13) Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume)



II

Cây lương thực




Bảo tồn nguồn gen một số cây lương thực, bản địa quý hiếm tại tỉnh Bắc Kạn

1. Lúa Bao Thai Chợ Đồn,

2. Khẩu nua lếch,

3. Ngô nếp địa phương,

4. Khoai môn Bắc Kạn, …


III

Cây rau và cây gia vị




Bảo tồn nguồn gen cây rau, cây gia vị quý hiếm bản địa trong bảo quản và chế biến thực phẩm.

1. Bò khai (Dạ yến),

2. Ngót rừng,

3. Cây lá cẩm,

4. Cây thạch đen.


IV

Cây Công nghiệp

V

Cây ăn quả




Bảo tồn nguồn gen một số cây ăn quả bản địa ở Bắc Kạn

1. Hồng không hạt Bắc Kạn,

2. Cam, Quýt Bắc Kạn,

3. Phật thủ,

4. Mận, Đào địa phương.


VI

Vật nuôi bản địa




Bảo tồn nguồn gen động vật quý hiếm bản địa ở tỉnh Bắc Kạn

1. Lợn địa phương,

2. Gà của đồng bào Mông,

3. Dê địa phương

4. Trâu.


VII

Thủy sản

VIII

Hoa cây cảnh




Bảo tồn một số loài lan quý hiếm, có nguy cơ tại Vườn quốc gia Ba Bể

(1) Lan Hài:

- Hài vàng chấm nhỏ (Paphiopedilum concolor (Bateman) Pfitzer.)

- Lan hài hêlen (Paphiopedilum helenae Aver.)

- Lan hài xanh (P. malipoense S. C. Chen & Z. H. Tsi var. malipoense)

- Lan hài chân tím (P. tranlienianum Gruss. & Perner.)

(2) Cầu diệp (Bulbophyllum purpureifolium)

(3) Hoàng thảo (Dendrobium aphyllum)

(4) Lan phích (Flickingeria vietnamensis)


3. Đánh giá hiện trạng, tình hình và kết quả công tác bảo tồn, lưu giữ nguồn gen tại địa phương.

Bắc Kạn là tỉnh miền núi, có nhiều thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội, nhất là việc khai thác có hiệu quả những tiềm năng lợi thế về cây trồng, vật nuôi, khí hậu, thổ nhưỡng. Trong thời gian qua cùng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, công tác bảo tồn các nguồn gen quý là những động thực vật ở địa phương bước đầu đã được triển khai, như chương trình phát triển gà của đồng bào Mông, lợn địa phương, Gạo bao thai Chợ Đồn, Khẩu nua lếch Ngân Sơn; Đối với lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng đã triển khai một số dự án điều tra đánh giá nguồn dược liệu tỉnh Bắc Kạn; Xây dựng chương trình trồng cây dược liệu từ nay đến năm 2015 tầm nhìn 2020. Tuy nhiên việc thực hiện các hoạt động vẫn chủ yếu là manh mún, ở phạm vi hẹp; chưa theo một chương trình bảo tồn cụ thể, do đó hiệu quả thấp, khả năng duy trì bền vững còn nhiều hạn chế.



PHẦN II. MỤC TIÊU ĐỀ ÁN

1. Mục tiêu tổng quát.


Bảo tồn được an toàn nguồn gen cây trồng, vật nuôi có giá trị lương thực, thực phẩm, dược liệu,... phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh.

2. Mục tiêu cụ thể.


- Thu thập được các nguồn gen động, thực vật bản địa quý hiếm.

- Đánh giá, chọn lọc và phục tráng các nguồn gen bản địa thu thập.

- Tư liệu hóa các mẫu gen quý hiếm, nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, chọn tạo giống hoặc trực tiếp mở rộng sản xuất;

- Thiết lập, duy trì và phát triển được những điểm bảo tồn nguồn gen.

- Tổ chức khai thác và phát triển các nguồn gen bản địa quý hiếm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

- Nâng cao năng lực quản lý các tập đoàn quỹ gen cây trồng, vật nuôi và nhận thức xã hội về nguồn gen, thông qua việc thực hiện các hoạt động thông tin, tuyên truyền và tập huấn kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ khoa học trực tiếp quản lý và người dân trong tỉnh.



PHẦN III. NỘI DUNG NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN

1. Nội dung triển khai nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen:

1.1. Nội dung 1: Điều tra, khảo sát và thu thập bổ sung nguồn gen

Dựa vào một số đặc điểm mô tả của giống, điều tra khảo sát và thu thập bổ sung các nguồn gen cây trồng, vật nuôi quý hiếm.

Tiếp tục hoàn thiện việc đánh giá ban đầu các nguồn gen để đưa đưa vào quản lý trong Cơ sở dữ liệu chung của toàn tỉnh, kế hoạch đảm bảo sau 3 - 5 năm toàn bộ số nguồn gen thu thập được hiện có được đánh giá ban đầu đầy đủ về toàn bộ các tính trạng.

1.2. Nội dung 2: Lưu giữ, bảo quản nguồn gen thực vật, động vật quý hiếm hiện có.

Quản lý tập đoàn bao gồm lưu giữ an toàn những nguồn gen hiện có trong tập đoàn và từng bước tiến hành đánh giá ban đầu những nguồn gen này để có dữ liệu đưa vào quản lý trong cơ sở dữ liệu chung để nhằm thông tin, thúc đẩy khai thác, sử dụng nguồn gen. Tùy số lượng nguồn gen, việc đánh giá được tiến hành dần qua các năm. Đối với các tập đoàn đồng ruộng, việc đánh giá ban đầu được tiến hành dần qua các năm. Để có số liệu tin cậy, mỗi nguồn gen được đánh giá trong 3 năm liên tục về cùng một số tính trạng.

+ Xác định gen một số cây trồng, vật nuôi bản địa: Hồng không hạt, cam, quýt, đào, lê, mận, bò của đồng bào Mông, gà của đồng bào Mông, lợn địa phương, ngựa bạch, lúa Khẩu nua lếch, Bao thai, chè Shan tuyết, khoai môn, gừng đá…..

+ Nhân giống nguồn gen cây có hạt tại các điểm sinh thái: Tại các vùng sinh thái phù hợp, tỉnh sẽ kết hợp các cơ quan nghiên cứu thực hiện, kết hợp đánh giá ban đầu các đặc điểm nông sinh học của nguồn gen được nhân.

+ Lưu giữ, bảo quản đồng ruộng tập đoàn cây sinh sản vô tính các điểm sinh thái: Thực hiện trồng, nhân mới và quản lý mẫu nguồn gen các cây thường niên sinh sản vô tính tại những địa điểm thích hợp, đảm bảo lưu giữ an toàn nguồn gen và hoàn thiện việc đánh giá ban đầu những nguồn gen này.

+ Bảo quản nguồn gen bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào (in vitro) một số cây trồng quý .

+ Nghiên cứu phôi các nguồn gen cây trồng có sức sống suy giảm: Kết hợp nuôi cấy phôi để nhân đủ lượng hạt đạt yêu cầu của các mẫu nguồn gen có sức nảy mầm của hạt suy giảm và khó nảy mầm trong điều kiện thông thường.

Việc lưu giữ được thực hiện theo các quy trình phù hợp với từng đối tượng cây cụ thể, áp dụng tối đa những phương pháp, quy trình, quy phạm chuẩn quốc tế, nếu có. Đối với những cây chưa có quy trình, quy phạm thích hợp, nhiệm vụ căn cứ vào những kết quả của các năm trước để áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn bảo tồn hợp lý, phù hợp nhất, đồng thời tiến hành các nghiên cứu cần thiết để cải tiến/hoàn thiện quy trình.

Các thí nghiệm nhân giống ngân hàng gen tại những địa điểm thích hợp, được kết hợp đánh giá ban đầu. Tùy thuộc vào từng nhóm cây trồng cụ thể, số các tính trạng cần đánh giá ban đầu dao động từ 30 đến 90 tính trạng, sử dụng các bản mẫu, thang điểm đã được chuẩn hóa cho từng đối tượng cây trồng. Đối với những cây chưa có những quy trình và bản mẫu chuẩn, những nghiên cứu cần thiết sẽ được thực hiện để thiết lập thang điểm, quy trình và bản mẫu đánh giá.

Đối với các tập đoàn đồng ruộng, việc nhân mới và đánh giá ban đầu nguồn gen được thực hiện ngay tại các địa điểm lưu giữ.

Đối với một các nguồn gen khó nảy mầm trong điều kiện bên ngoài, việc nhân mới sẽ được thực hiện kết hợp sử dụng bằng phương pháp nuôi cấy in vitro (cấy phôi) trên môi trường và điều kiện thích hợp.

1.3. Nội dung 3: Nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để phục tráng nguồn gen cây trồng, thuần chủng các nguồn gen vật nuôi.

- Ứng dụng chỉ thị phân tử để đánh giá đa dạng nguồn gen di truyền, từ đó rút ngắn được thời gian phục tráng nguồn gen.

- Ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ nuôi cấy mô tế bào để nhân nhanh nguồn gen phục tráng.

1.4. Nội dung 4: Nghiên cứu xây dựng, phát triển các khu vực nuôi trồng chuyên canh các loài cây, con quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng hoặc quan trọng phục vụ kinh tế, xã hội, phát triển nông nghiệp bền vững của tỉnh.

- Xây dựng các quy trình kỹ thuật nuôi, trồng cụ thể cho mỗi nguồn gen.

- Xây dựng mô hình sản xuất thử nuôi, trồng các nguồn gen.

- Phát triển mở rộng sản xuất phục vụ nhu cầu hàng hóa của tỉnh, nâng cao thu nhập cho người dân trong tỉnh.

1.5. Nội dung 5: Đánh giá sơ bộ, đánh giá chi tiết nguồn gen theo các chỉ tiêu sinh học phù hợp với từng đối tượng.

Nuôi, trồng các nguồn gen và theo dõi đặc điểm nông sinh học của các nguồn gen cây trồng, đặc điểm sinh học của các nguồn gen động vật.

1.6. Nội dung 6: Bảo tồn nguồn gen theo đặc điểm của từng đối tượng.

- Bảo tồn nguồn gen tại chỗ (Insitu) đó là tại các vùng sinh thái phù hợp với nguồn gen.

- Bảo tồn nguồn gen chuyển chỗ: Kết hợp với các cơ quan khoa học để bảo tồn nguồn gen.

- Đánh giá kết quả bảo tồn.

- Giới thiệu, cung cấp trao đổi nguồn gen và các thông tin nguồn gen theo quy định của pháp luật.

2. Các nội dung tổ chức, quản lý mạng lưới quỹ gen cấp tỉnh:

2.1. Đào tạo, Tập huấn nghiệp vụ bảo tồn gen.

2.2. Tư liệu hóa nguồn gen dưới các hình thức: bản mô tả đặc điểm sinh học.

2.3. Tổ chức, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả đạt được theo từng nội dung hoạt động.



3. Nhiệm vụ của Đề án:

- Bảo tồn được một số nguồn gen quý về các cây trồng, vật nuôi bản địa, góp phần thực hiện thành công đề án Bảo tồn nguồn gen của cả nước.

- Khai thác có hiệu quả nguồn gen được bảo tồn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

PHẦN IV. DANH MỤC CÁC NHIỆM VỤ BẢO TỒN NGUỒN GEN CẤP TỈNH THỰC HIỆN

GIAI ĐOẠN 2014 – 2020 TỈNH BẮC KẠN


TT

Tên nhiệm vụ

Tên tổ chức dự kiến chủ trì

Đối tượng và số lượng nguồn gen bảo tồn

Dự kiến kinh phí (NSNN) (triệu đồng)

Ghi chú

(ĐV phối hợp)

Thời gian thực hiện

I

CÂY NÔNG NGHIỆP
















1

Bảo tồn nguồn gen một số cây ăn quả bản địa ở Bắc Kạn (Hồng không hạt, Cam, Quýt Bắc Kạn).

Sở Khoa học và Công nghệ


3

3.000

- Viện NC Rau Qủa

- Sở NN&PTNT

- UBND các huyện


2016-2019

2

Bảo tồn nguồn gen một số cây lương thực, thực phẩm: Khoai môn Bắc Kạn, Khẩu nua lếch

Sở Nông nghiệp và PTNT

2

1.500

- Viện DTNN

- Viện NLNMN Phía Bắc

- UBND các huyện


2014-2020

3

Bảo tồn nguồn gen cây rau, cây gia vị quý hiếm bản địa trong bảo quản và chế biến thực phẩm ( Bò khai (Dạ yến), Ngót rừng, cây lá cẩm, cây thạch đen).

Sở Nông nghiệp và PTNT

4

1.500

- Viện DTNN

- Viện NC Rau quả

- UBND các huyện


2018-2020

II

CÂY LÂM NGHIỆP
















1

Bảo tồn một số loài lan quý hiếm, có nguy cơ tại Vườn quốc gia Ba Bể

(1) Lan Hài:

- Hài vàng chấm nhỏ (Paphiopedilum concolor (Bateman) Pfitzer.)

- Lan hài hêlen (Paphiopedilum helenae Aver.)

- Lan hài xanh (P. malipoense S. C. Chen & Z. H. Tsi var. malipoense)

- Lan hài chân tím (P. tranlienianum Gruss. & Perner.)

(2) Cầu diệp (Bulbophyllum purpureifolium)

(3) Hoàng thảo (Dendrobium aphyllum)

(4) Lan phích (Flickingeria vietnamensis)


Sở KH&CN

4

1.500

- Vườn quốc gia Ba Bể

- Viện di truyền NNVN

- Trung tâm ứng dụng TBKH&CN Bắc Kạn


2018-2020

III

CÂY DƯỢC LIỆU
















1

Bảo tồn nguồn gen một số cây dược liệu bản địa quý hiếm tại tỉnh Bắc Kạn

(1)- Bình vôi tím (Sterphania rotundalour).

(2)- Hà thủ ô đỏ ( Polygonum multiflorum Thunb)

(3) Bách quản (Cinnamomum sp.)

(4) Đi mi (Mật gấu) (Luculia pinciana)

(5) Mừ phi (Helicopsis lobata)

(6) Bảy lá một hoa (Paris polphylla Sm)

(7) Đào rừng (Prunus ippeliana var.crassistyla J.E.Vid)

(8) Hoàng Đằng (Mahonia japonica)

(9) Hồng đằng (Ara roxburghiana)

(10) Tan huyết (Ventylago leiocrapa Benth)

(11) Tan quy (Eblia parviflora)

(12) Xiên cân lực (Flemingia macrophylla)

(13) Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume)



- Sở Nông nghiệp và PTNT

- Sở Yế


13

3.000

- Sở KH&CN Bắc Kạn

- Hội Đông y,

- Viện Dược liệu

- UBND các huyện




2014-2016

IV

VẬT NUÔI
















1

Bảo tồn nguồn gen động vật quý hiếm bản địa ở tỉnh Bắc Kạn (lợn địa phương, gà Mông, trâu, dê địa phương,).

Sở Khoa học và Công nghệ

04

2.500

- Sở NN và PTNT

- UBND các huyện



2014-20127

V

THỦY SẢN
















VI

VI SINH SẬT



















Tổng cộng







13.000









DANH MỤC CÁC NHIỆM VỤ BẢO TỒN NGUỒN GEN CẤP TỈNH THỰC HIỆN TỪ NĂM 2014

TỈNH BẮC KẠN

TT

Tên nhiệm vụ

Tên tổ chức dự kiến chủ trì

Đối tượng và số lượng nguồn gen bảo tồn

Dự kiến kinh phí (NSNN) (triệu đồng)

Ghi chú

(ĐV phối hợp)

Thời gian thực hiện

1

Bảo tồn nguồn gen một số cây dược liệu bản địa quý hiếm tại tỉnh Bắc Kạn.

(1)- Bình vôi tím (Sterphania rotundalour).

(2)- Hà thủ ô đỏ ( Polygonum multiflorum Thunb)

(3) Bách quản (Cinnamomum sp.)

(4) Đi mi (Mật gấu) (Luculia pinciana)

(5) Mừ phi (Helicopsis lobata)

(6) Bảy lá một hoa (Paris polphylla Sm)

(7) Đào rừng (Prunus ippeliana var.crassistyla J.E.Vid)

(8) Hoàng Đằng (Mahonia japonica)

(9) Hồng đằng (Ara roxburghiana)

(10) Tan huyết (Ventylago leiocrapa Benth)

(11) Tan quy (Eblia parviflora)

(12) Xiên cân lực (Flemingia macrophylla)

(13) Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume)



Sở KH&CN Bắc Kạn

13

Tổng: 3.000

Kinh phí năm

2014: 500

2015: 1000

2016: 1500


- Sở NN&PTNT

- Sở Y tế,

- Hội Đông y,

- Viện dược liệu

- UBND các huyện


2014-2016

2

Bảo tồn nguồn gen động vật quý hiếm bản địa ở tỉnh Bắc Kạn (lợn địa phương, gà của đồng bào Mông, trâu, dê địa phương).

Sở Khoa học và Công nghệ

4

Tổng: 2.500

Năm 2014: 500

Năm 2015: 1.000

Năm 2016: 1.000


- Sở NN và PTNT

- UBND các huyện



2014-2017

PHẦN V. DỰ KIẾN KINH PHÍ THỰC HIỆN

Tổng số: 14.000.000.000 đồng (Mười bốn tỉ đồng).

Trong đó: + Kinh phí từ ngân sách nhà nước: 13.000.000.000 đồng.

+ Kinh phí khác: 1.000.000.000 đồng.



PHẦN VI. DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Dự kiến đến năm 2020, tỉnh sẽ bảo tồn được một số nguồn gen sau:



1. Bảo tồn: Bảo tồn và đánh giá được 26 nguồn gen cây trồng; bảo tồn và đánh giá được 04 nguồn gen động vật.

2. Tư liệu hóa quỹ gien, kỹ thuật bảo tồn các nguồn gen

Tư liệu hóa quỹ gen, tổng hợp kỹ thuật bảo tồn các nguồn gen (51 nguồn gen cây trồng và 9 nguồn gen động vật)



PHẦN VII. GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Ủy ban nhân dân tỉnh: Phê duyệt Khung đề án, kiểm tra theo dõi quá trình triển khai đề án đảm bảo đúng mục tiêu, nội dung được duyệt.

2. Sở Khoa học và Công nghệ:

- Là đơn vị đầu mối, quản lý các dự án trong khung đề án theo phê duyệt. Phối hợp với các đơn vị chủ trì, địa bàn triển khai đề án thực hiện triển khai đề án theo kế hoạch.

- Hướng dẫn các đơn vị chủ trì xây dựng dự án bảo tồn nguồn gen.

- Kiểm tra, giám sát các đơn vị chủ trì thực hiện các dự án; phối hợp với Bộ KH&CN tháo gỡ những khó khăn trong quá trình triển khai đề án.



3. Các, Sở ngành liên quan trong tỉnh

Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các huyện, thị, Vườn Quốc gia Ba Bể có trách nhiệm phối hợp với Sở KH&CN tổ chức triển khai Đề án.



4. Các đơn vị chủ trì thực hiện các dự án trong khung đề án

Xây dựng dự án do đơn vị mình chủ trì theo hướng dẫn của Thông tư số 18/2012/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ; tổ chức triển khai dự án theo phê duyệt. Tổng kết đánh giá dự án; kiến nghị đề xuất công tác quản lý, bảo tồn nguồn gen trong thời gian tới./.



TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH
Nông Văn Chí

UBND TỈNH BẮC KẠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


VĂN PHÒNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bắc Kạn, ngày 17 tháng 3 năm 2014

PHIẾU TRÌNH GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC


Kính gửi: Thường trực UBND tỉnh.



- Vấn đề trình : Quyết định Phê duyệt Đề án: Bảo tồn nguồn gen một số động, thực vật quý hiếm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ năm 2014 đến 2020

- Cơ quan trình: Sở Khoa học và Công nghệ

- Các văn bản kèm theo: Tờ trình số 11/TTr- SKHCN ngày 11/02/2014

Tóm tắt nội dung và kiến nghị

Ý kiến giải quyết của lãnh đạo UBND tỉnh

1. Nội dung:

2. Ý kiến các cơ quan liên quan:

3. Ý kiến đơn vị có liên quan trong văn phòng :

4. Ý kiến chuyên viên trình sau khi thẩm tra:

- Sở Khoa học và công nghệ trình đề nghị Quyết định Phê duyệt Đề án: Bảo tồn nguồn gen một số động, thực vật quý hiếm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ năm 2014 đến 2020

- Hồ sơ trình đầy đủ đúng quy định

Đề xuất ban hành Văn bản như dự thảo kèm theo, Kính trình Lãnh đạo Văn phòng và Thường trực UBND tỉnh.



5. Ý kiến lãnh đạo Văn phòng

Ngày tháng 3 năm 2014





Phó Chủ tịch: Triệu Đức Lân



Phó Chủ tịch: Nông Văn Chí


Phó Chủ tịch: Lý Thái Hải



Chuyên viên

Nông Lê Huy



tải về 250.5 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương