Uỷ ban nhân dân huyện lập thạCH


V. Nhận xét chung về phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2000 - 2010



tải về 1.63 Mb.
trang7/22
Chuyển đổi dữ liệu23.11.2017
Kích1.63 Mb.
#2673
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   22

V. Nhận xét chung về phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2000 - 2010

1. Những thành tựu


Trong nhiệm kỳ qua, các cấp uỷ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân từ huyện đến cơ sở đã quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; vận dụng linh hoạt vào tình hình thực tiễn của địa phương; cụ thể hoá thành những nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ; huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị; tập trung chỉ đạo sâu sát, dứt điểm. Đồng thời, phát huy dân chủ rộng rãi trong nhân dân, với phương châm dân biết, dân tham gia bàn bạc xây dựng kế hoạch, dân làm, dân giám sát, phát huy sự đồng thuận trong nhân dân.

Đảng bộ và nhân dân trong huyện nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát và giúp đỡ có hiệu quả của Tỉnh uỷ- HĐND-UBND tỉnh, các sở, ban, ngành của tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả với các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn huyện.



Một là: nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá. VA (giá cố định 94) tăng bình quân trên 15%/năm; Ngành công nghiệp - xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất 21,06%/năm; tiếp đó là thương mại và dịch vụ 19,60%/năm và thấp nhất là nông lâm thuỷ sản 7,88%/năm;). GTSX (GO - giá cố định 94) cũng đạt tăng trưởng bình quân trên 15%/năm.

Hai là: cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong vòng 10 năm, cơ cấu giá trị sản xuất (theo giá HH) ngành nông lâm thuỷ sản giảm 19,66% (từ 60,50% xuống còn 40,84%). Cũng trong cùng thời gian, công nghiệp và xây dựng tăng 15,87% và thương mại - dịch vụ tăng 3,79%. Trong từng ngành đã có chuyển dịch cơ cấu, gắn sản xuất với thị trường, nâng cao hiệu quả. Nền kinh tế phát triển với sự đóng góp của các loại hình sở hữu và các thành phần kinh tế.

Ba là: huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển tăng nhanh. Cơ cấu đầu tư đã có sự chuyển dịch tích cực, tập trung hơn cho những mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội.

Bốn là: chất lượng nguồn nhân lực có bước chuyển biến, khoa học công nghệ có bước tiến bộ. Đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tăng, cơ sở vật chất các trường học đã được cải thiện rõ rệt. Đào tạo nghề có sự tăng trưởng về quy mô đào tạo và ngành nghề đào tạo.

Năm là: lĩnh vực văn hoá - xã hội, từng bước kết hợp hài hoà hơn với phát triển kinh tế. Hoạt động văn hoá, thông tin phát triển khá đa dạng, có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức góp phần cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân. Thể dục thể thao có bước phát triển.

Lĩnh vực lao động và việc làm đã được sự quan tâm của các ngành, các cấp. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng; mạng lưới y tế được củng cố và nâng cấp cơ bản, hoạt động y tế dự phòng được đẩy mạnh



Sáu là: chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được củng cố tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được tăng cường một bước. Cải cách hành chính có tiến bộ nhất định về thể chế, bộ máy và cán bộ. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

2. Những yếu kém

2.1. Về kinh tế:


Tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy đạt khá nhưng còn thấp so với tiềm năng, chưa đủ sức tạo ra sự bứt phá để rút ngắn khoảng cách với mức bình quân chung toàn tỉnh. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm so với tiềm năng. Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp còn cao trong cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng thấp, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá còn yếu.

- Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn: Các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn còn có quy mô nhỏ bé, tiến độ triển khai thực hiện đầu tư chậm, gây lãng phí đất. Công tác quy hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn lúng túng, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn chậm. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ bé, ngành nghề nông thôn phát triển chưa mạnh.

- Nông nghiệp-Lâm nghiệp-Thuỷ sản: Phát triển chư­a toàn diện, chưa có những vùng chuyên canh rõ rệt. Diện tích trồng cây có giá trị kinh tế cao còn ít, các mô hình kinh tế có hiệu quả chậm được nhân rộng. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào bảo quản và chế biến nông sản sau thu hoạch còn yếu. Phong trào xây dựng các cánh đồng thu nhập cao, hộ thu nhập cao chưa được triển khai mạnh mẽ; tiềm năng thuỷ sản chưa được khai thác triệt để.

- Tài chính, thương mại, dịch vụ: Chưa thực sự năng động. Công tác quản lý tài chính, sử dụng ngân sách ở một số cơ sở chưa tốt; còn để thất thu trên một số lĩnh vực như: thuế kinh doanh vận tải, kinh doanh sản xuất VLXD, hoa lợi công sản, phí và lệ phí, thuế XDCB trong dân cư.

- Cơ sở hạ tầng: Tuy đã được tăng cường một bước song ch­ưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; tỷ lệ kiên cố hoá kênh mương còn thấp, chất lượng nhiều tuyến đường giao thông nông thôn còn kém; tỷ lệ cứng hoá đường GTNT còn thấp, mới đạt 36,5% (202,34km), một số công trình thời gian thi công còn để kéo dài; tình trạng lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn xảy ra, làm ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư.

- Công tác quản lý tài nguyên đất đai và môi trường còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Điều kiện vệ sinh môi trường và cung cấp nước sạch ở nông thôn còn thấp, nguy cơ mất vệ sinh còn cao.

- Phát triển kinh tế nhiều thành phần: Các doanh nghiệp và các hợp tác xã phát triển chưa mạnh; năng lực cạnh tranh còn thấp; doanh nghiệp tư nhân còn ít về số lượng và có quy mô nhỏ bé; kinh tế hợp tác và hợp tác xã chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế; nhiều hợp tác xã còn mang tính hình thức, hiệu quả hoạt động chưa cao.

2.2. Về văn hoá- xã hội:


- Giáo dục- đào tạo: Chất lượng giáo dục toàn diện còn hạn chế. Các hoạt động dạy nghề phát triển chưa mạnh, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề để phục vụ cho cụm công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu lao động sang tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn.

- Y tế, dân số, gia đình và trẻ em: Thiếu chuyên khoa sâu ở Bệnh viện huyện và phương tiện kỹ thuật cao chưa đầy đủ dẫn đến một số ca điều trị phải gửi tuyến trên.

- Văn hoá- thông tin- thể thao: Chất lượng một số làng văn hoá chưa cao; việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang có nơi chưa nghiêm túc, tình trạng mê tín, dị đoan có chiều hướng phát triển ở một số nơi. Quản lý nhà nước về văn hoá thông tin còn lúng túng, nhất là các loại hình như: băng, đĩa lậu, Internet …

- Thực hiện chính sách xã hội: Việc làm trong nông thôn chưa được giải quyết kịp thời.


tải về 1.63 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   22




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương