Trong đẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ



tải về 1.94 Mb.
trang1/59
Chuyển đổi dữ liệu06.01.2022
Kích1.94 Mb.
#11555
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   59

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

TÒA THÁNH TÂY NINH







TRONG

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ




THIÊN VÂN



HIỀN TÀI QUÁCH VĂN HÒA

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ



TÒA THÁNH TÂY NINH



TRONG

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ




THIÊN-VÂN



HIỀN TÀI QUÁCH VĂN HÒA



TÒA THÁNH TÂY NINH


Con người sống trên đời này không ai thoát khỏi bốn cảnh khổ: Đó là sinh, lão, bệnh, tử.

Từ lúc chào đời, một đứa bé phải cam chịu mang thân phận của một con người sống trong biển khổ, lại phải gánh chịu muôn ngàn thứ đau khổ, cho đến khi lớn lên, tuổi già bệnh tật rồi chết.

Con người là những khách lữ hành nơi thế gian, dạn dày trong cát bụi, chìm nổi trong gian truân, do nghiệp lực cuốn trôi, mờ mịt không tìm được lối ra. Luôn bị dính mắc, đắm chìm không bao giờ thoát được.

Cái khổ ở đời này không chừa một ai. Người nghèo khó đã đành chịu khổ, mà kẻ giàu sang cũng không thoát khỏi thảm thương. Càng lớn lên, sự khổ theo ngày tháng càng chất chồng vào thân xác, cho đến lúc tuổi già đau yếu, lưng còng gối mỏi, mắt mờ tai điếc, sức khỏe giảm suy, tinh thần lụn bại, ấy là sắp chấm dứt một kiếp người mong manh, ngắn ngủi. Chừng ấy, cơ thể bất động, buông xuôi hết thế sự nhân tình, tiền tài vật chất, lúc đó dù có tiền muôn bạc biển, chức trọng quyền cao cũng không có thể đem ra che đỡ cái thân mạng cho được.

Thế mà, trên đời này cũng có lắm người ham mê vật chất, tiền tài, coi cuộc đời này đầy hoa thơm bướm đẹp, nên thường say đắm trong tình yêu, danh vọng, lợi quyền, cứ ảo tưởng cuộc đời là những bài thơ hay, những bức tranh đẹp đẽ. Họ sống trong những ngày giàu sang, sung sướng hầu như bất tận. Họ tưởng hoa sẽ không tàn, trăng sẽ không khuyết, cuộc vui sẽ kéo dài đến tận thiên thu. Nhưng có ngờ đâu thời gian như bóng câu qua cửa sổ, mới trẻ rồi già, mới mạnh rồi đau, chẳng khác gì bầu trời đang quang đảng bỗng phút mây mù, cuộc vui hội ngộ đã ướm mầm chia ly!

Đời người vốn dĩ là vô thường, đó là một quan niệm căn bản của Đạo Phật. Vô thường là không thường còn, không thường hằng. Chính Đức Phật đã trình bày sự vô thường bằng những hình ảnh sau: “Đời sống của con người là ngắn ngủi, giới hạn, phù du. Nó giống như một hạt sương sẽ biến mất khi mặt trời mọc, như một bọt nước, như một đường rãnh xẻ trong nước, như một dòng suối chảy qua mang tất cả đi mà không bao giờ dừng lại”.

Lại nữa, người xưa thường bảo: “Sống gửi thác về” (Sanh ký tử quy: 生寄死歸). Tại sao lại sống gửi? Bởi vì thế gian là một cõi tạm bợ, ví như quán trọ bên đường để cho khách trần gửi thân nghỉ tạm, sau đó từ giã ra đi, chớ không phải là nơi ở mãi đặng. Còn thác lại trở về, là trở về nơi cố hương Hằng sống của Chơn linh, tức là về với nguồn cội Đại Linh quang Thượng Đế, là nơi yên nghỉ an toàn và là quê hương đẹp đẽ nhất cho những khách trần đã viễn du bao nhiêu kiếp luân hồi sinh tử trên khắp nẻo đường đời đầy gió bụi.

Làm con người ai lại không mong muốn được thoát khỏi kiếp luân hồi khổ não trong cảnh vô thường này? Nhưng có mấy ai lúc sinh thời chịu cố công tìm hiểu sự sống chết để biết tu tâm dưỡng tánh, biết bồi công lập đức hầu làm gói hành trang trong phút lâm chung được liễu sanh thoát tử.

Ai cũng biết trên đời này ít có người sống được trăm tuổi, và sống chết nối liền nhau không ai có thể tránh khỏi. Do vậy, một người hiểu được Đạo phải nghĩ làm sao giải quyết được việc sống chết, vì sống chết là việc lớn, vô thường đến rất mau chóng: “Sinh tử sự đại, vô thường tấn tốc 生 死 事 大, 無 常 進 速”. Sinh tử là một vấn đề trọng đại, vì còn sinh tử thì Chơn linh còn mãi trôi lăn trong vòng luân hồi khổ não. Muốn thoát lìa sinh tử, may duyên được sinh ra kiếp con người, đặc biệt lại gặp được thời Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn Đại Ân xá, khai nền Đại Đạo mở cơ tận độ cho toàn thể chúng sanh chung hưởng.

Người ta thường nói: “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn 人 身 難 得, 佛 法 難 聞”, nghĩa là thân người khó được, pháp Phật khó nghe. Thế mà hôm nay chúng ta đều có được cả, đó là nhờ vô lượng kiếp chúng ta tu hành, lập nhiều phước đức để tạo được duyên phần trong kiếp hôm nay. Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Thầy lấy đức háo sanh mở Đạo lần ba mà vớt kẻ hữu phần, tránh khỏi nơi buộc ràng khổ phạt. Ai hữu phước đặng để chân vào, kẻ vô phần phải bị tà yêu cám dỗ”.

Chúng ta trót sinh ra trên cõi đời này, nhất là trong thời Hạ ngươn mạt kiếp, vừa gánh chịu những nỗi khổ lụy sẵn có của con người, vừa đối mặt với thảm cảnh chiến tranh tàn khốc do con người gây ra, vừa nhận sự lây nhiễm dịch bệnh của thế kỷ lan khắp trên toàn cầu, vừa phải cam chịu sự tàn phá của thiên tai như sóng thần, bão lũ mang đến…

Lại nữa, hiện nay, nhơn loại phát triển vượt bực về khoa học kỷ thuật, khiến cho con người bị lôi cuốn tâm lực vào cuộc sống của nền văn minh vật chất. Thêm vào đó, các nền Tôn giáo trong thời nhị kỳ phổ độ đã qua hơn hai nghìn năm truyền thừa, đến nay đã có một số giáo pháp, giới luật không còn phù hợp với cuộc sống phức tạp hiện tại, hoặc sinh ra những giáo điều càng ngày càng xa rời chánh pháp. Chính Đức Hộ Pháp đã giải thích như sau: “Nho, Thích, Đạo hiện nay đã trở nên phàm giáo, chư Đệ tử trong ba nhà Đạo không giữ giới luật qui điều, canh cải chơn truyền, bày ra các điều giả cuộc làm cho Tam giáo biến thành dị đoan.

- Đệ tử nhà Đạo, chẳng tùng pháp giáo của Đức Thái Thượng Lão Quân. Tuy ở trong nhà Đạo mà tức thị mê tín dị đoan.

- Đệ tử nhà Thích không thuận theo lời giảng dạy của Đức Phật Thích Ca, thì Đệ tử nhà Thích dị đoan mê tín.

- Đệ tử nhà Nho chẳng thực hành điều mục của Đức Văn Tuyên Khổng Thánh, thì Đệ tử nhà Nho dị đoan bất chánh.

Tóm lại, hai chữ “Dị đoan” nghĩa là đồ không trúng kiểu cái qui giới thể lệ chơn truyền của Tam Giáo”.

Chính vì vậy, Đức Thượng Đế mới dùng huyền diệu linh bút giáng cơ khai mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Đạo Cao Đài vào cơ Phổ độ lần thứ ba tại miền Nam Nước Việt, với tôn chỉ “Quy nguyên Tam Giáo”, “Hiệp nhứt Ngũ Chi”. Như lời tựa Thánh Ngôn Hiệp Tuyển đã ghi như sau: “Than ôi! Lượn sóng văn minh tràn dập tới đâu thì nền luân lý ngửa nghiêng tới đó.



Nếu Đạo Trời không sớm mở lần ba, nền phong hóa mối cang thường, sau vì đó mà hư hoại.

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế vì đức háo sanh không nỡ ngồi xem nhơn sanh sa vào nơi tội lỗi nên dụng huyền diệu Tiên Thiên giáng cơ giáo Đạo”.

Nay nền Đại Đạo này được khai mở thì có những nghi thức đặc biệt để chấn chỉnh tinh thần nhân loại, trong đó sửa sang những nghi lễ của tang sự cho phù hợp với Nho Tông chuyển thế.

Trước khi có Đạo Cao Đài xuất hiện, đa số người dân Nam Bộ đều theo Đạo Phật và Đạo Khổng, nên nghi thức tang lễ xưa ở vùng đất này đều mang sắc thái pha trộn của hai tôn giáo này, lần lần những nghi thức trên càng ngày càng xa rời Chánh pháp của Phật và Khổng, thường chuộng âm thinh sắc tướng rồi sinh ra nhiều điều mê tín dị đoan. Khi Đạo Cao Đài khai mở, Đức Chí Tôn có giáng cơ dạy như sau: “Thầy chẳng dùng sự chi mà thế gian gọi là tà quái dị đoan, mà nếu xảy ra có một ít dị đoan trong Đạo đã dùng lỡ thì ấy tại nơi tâm của vài môn đệ đó. Nếu chẳng giữ theo lẽ chánh mà hành Đạo và bày biện nhiều sự vô lối thì trong ít năm sau đây, sẽ trở nên một mối Tả Đạo, mà các con đã từng thấy”. Chính vì vậy, những nghi thức tang lễ của nền Đại Đạo được Hội Thánh chấn chỉnh lại cho phù hợp với triết lý tôn giáo, ngoài ra, Đức Chí Tôn cũng ban cho một số bí tích như Giải Oan, Làm Phép Xác, Cắt Dây Oan Nghiệt…và nhất là được hưởng những đặc ân siêu rỗi của thời kỳ Đại Ân xá kỳ ba.

Những nghi lễ đó Hội Thánh nói trong “Lời nói đầu”của tài liệu Hạnh Đường như sau: “Nghi lễ là cái hình thức phô diễn bên ngoài, tính cách qui củ chuẩn thằng của tổ chức Tôn giáo. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một Tôn giáo có tôn chỉ qui Tam Giáo hiệp Ngũ Chi, tức là một sự phối hợp của tất cả các triết lý Đạo Giáo, tất cả các hình thức tổ chức Tôn giáo từ xưa đến nay.



Vì vậy, nghi lễ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ rất phù hợp với phong hóa nhà Nam và vừa trình độ tấn hóa của quần chúng, không quá xưa mà cũng không quá tân thời.

Vậy Thánh ý của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng, những bậc Tiền Bối trong nền Đạo đã dầy công nghiên cứu, châm chước và biên soạn ra các nghi lễ dùng việc Quan, Hôn, Tang, Tế. Ấy vậy, nghi lễ trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chẳng phải do ai tự ý bày vẻ ra mà là một công trình chung, trong một lề lối tổ chức đồng nhứt áp dụng cho tất cả các Châu, Tộc trên toàn quốc. Những sự sửa đổi về nghi lễ do ý riêng của mình rất tai hại vì nó làm cho tổ chức một Tôn giáo tại mỗi địa phương có hình thức một nhóm riêng, chẳng khác nào mỗi nơi đạo hữu tự ý bày ra thêm những kiểu vở, màu sắc đạo phục khác để mặc vậy, dần dần theo thời gian những sự khác biệt ban đầu nhỏ bé sau sẽ lớn dần ăn sâu vào tâm trí của nhơn sanh, thì sự thất kỳ truyền cũng do nơi đó mà ra”.

Để nghi lễ tang sự được rõ ràng, thống nhứt, chúng tôi căn cứ theo quyển Quan Hôn Tang Lễ, Hạnh Đường của Hội Thánh và Tài Liệu Thực Hành Nghi Tiết Cúng Lễ, năm 1991 của Hội Đồng Chưởng Quản mà biên soạn lại và trình bày ý nghĩa những nghi thức tang sự của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ này đối chiếu với nghi thức đám tang của dân gian Nam bộ để có một sự nhận định, với tâm nguyện hoằng truyền chánh pháp và bài trừ những nghi thức không thích nghi của nền Đại Đạo.

Sau cùng, chúng tôi lòng mong cầu cho tất cả con cái Đức Chí Tôn được vãng sanh về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống để thoát khỏi vô lượng kiếp trôi lăn trong vòng luân hồi sanh tử.

Kỷ niệm ngày Khai Đạo lần thứ 85



Hiền Tài QUÁCH VĂN HÒA



tải về 1.94 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   59




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương