TrưỜng đẠi học khoa học tự nhiên khoa công nghệ thông tin nguyễn mạnh luân-mai ngọc sưƠng nghiên cứu và phát triển bpel designer sử dụng công nghệ javafx khóa luận tốt nghiệp cử nhân cntt tp. Hcm, 2010


Các thành phần của Oracle BPEL Process Manager



tải về 0.84 Mb.
trang4/7
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích0.84 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

Các thành phần của Oracle BPEL Process Manager

Sau khi hoàn tất quá trình cài đặt Oracle Process Manager bạn có thể bắt đầu sử dụng Oracle và các thành phần của nó. Bảng 4.5 mô tả các đường dẫn và thư mục để khởi động các thành phần của BPEL Process Manager.

Thành phần

Cách khởi động

Oracle BPEL Server

Để khởi động Oracle BPEL Server chọn Select Start > All Programs > Oracle -Oracle_Home > Oracle BPEL ProcessManager 10.1.2 > Start BPEL PM Server

JDeveloper BPEL Designer

Start > All Programs > Oracle -Oracle_Home > Oracle BPEL ProcessManager 10.1.2 > JDeveloper BPELDesigner hoặc khởi động trực tiếp từ shocut

Developer Prompt

Start > All Programs > Oracle -Oracle_Home > Oracle BPEL ProcessManager 10.1.2 > Developer Prompt

Oracle BPEL Process Manager Samples

Hướng dẫn

Start > All Programs > Oracle -Oracle_Home > Oracle BPEL ProcessManager 10.1.2 > Getting Started withSamples

Sample Worklist Application

Start > All Programs > Oracle -Oracle_Home > Oracle BPEL ProcessManager 10.1.2 > Sample WorklistApplication bạn cũng có thể khởi động Worklist từ internet sử dụng url từ tập tin bpelsetupinfo.txt


Bảng 4.5- Các thành phần của Oracle BPEL Process Manager

  • Kết nối tới Oracle BPEL Server

Khi bạn khởi động JDeveloper BPEL Designer trong lần đầu tiên thì một kết nối LocalBPELServer tự động được thiết lập. Kết nối này cho phép bạn triển khai các tiến trình BPEL từ JDeveloper BPEL Designer lên Oracle BPEL Server . Mặc định thì với kết nối này là đủ để bạn triển khai các tiến trình BPEL lên Oracle BPEL Server. Tuy nhiên nếu bạn muốn tạo một kết nổi bổ sung thì thực hiện như sau :

  1. Chọn Connection Navigator từ menu View trong động JDeveloper BPEL Designer.

  2. Click chuột phải vào BPEL Process Manager Server.

  3. Chọn New BPEL Process Manager Connection

  4. Click Next trong màn hình Wellcome.

  5. Điền tên của kết nối

  6. Click Next

  7. Nhập các thông tin sau

Trường

Giá trị

Host Name

localhost (mặt định)

Port

9700(giá trị mặc định)



  1. Click next

  2. Thử kết nối bằng cách chọn Test Connection. Nếu kết nối thành công thì hệ thống sẽ báo Success.

  • Thiế lập Host Name trong trình duyệt web

Nếu bạn không làm việc này thì hệ thống sẽ báo lỗi khi bạn import một tập tin WSDL trong cửa sổ WSDL Chooser. Tiến hành theo các bước sau:

  1. Bước 1. Chọn Preferences từ menu Tools.

  2. Bước 2. Chọn Web Browser and Proxy.

  3. Nhập hostname vào ô Exceptions. Ví dụ nếu host name của bạn là myhost-pc: us.acme.com|*.us.acme.com|localhost|127.0.0.1|myhost-pc.

  4. Phải chắc chắn rằng localhost xuất hiện trong ô Exceptions

  5. Click OK và bạn có thể bắt đầu làm việc.

Sau khi đã thiết lập và config các component của Oracle BPEL Process Manager thì bạn có thể bắt đầu thiết kế và tổng hợp các quy trình BPEL.

  1. Eclipse BPEL Designer

  1. Giới thiệu về Eclipse BPEL Designer

Đây là một plugin cho Eclipse hiện nay vẫn đang còn phát triển, Plugin này đã hổ trợ đến chuẩn BPEL 2.0. Phiên bản mới nhất là 6.0. Eclipse BPEL Designer hổ trợ bạn xây dưng và thự thi các tiến trìn BPEL và hổ trợ deloy lên Apache ODE Sever, ngoài ra nó còn hỗ trợ pubslish các thông tin của Web-Servirce lên UDDI sever. Bạn có thể download tại http://www.eclipse.org/bpel/downloads.php.

  1. Cài đặt Eclipse BPEL Designer

Trước khi cài đặt thì máy tính của bạn cần yêu cầu phải có cấu hình như sau[ ]:

Hệ điều hành của bạn có thể là một phiên bản hiện đại của Microsoft® Windows®, Linux® hoặc Mac OS X. Phần mềm này đã sử dụng Linux, vì vậy có thể cần phải điều chỉnh các vị trí tệp theo tùy chỉnh của hệ điều hành của bạn. Trước khi cài đặt ODE và BPEL cho Eclipse, hãy chắc chắn rằng phần sau đây đã được cài đặt trên máy tính của bạn:



  • Java™ V5.0 hoặc mới hơn

  • Tomcat V5.5 hoặc mới hơn

  • Eclipse V3.3.x với các trình cắm thêm sau đây được cài đặt:

      • EMF V2.3.x.

      • GEF V3.3.x

      • DTP STK V1.5.x

      • WTP (Web Tools Platform - Nền tảng của các dụng cụ Web) V2.0.x

Việc cài đặt Eclipse BPEL Editor khá đơn giãn, bạn cần tải về và cài đặt Eclipse và Apache Tom cat, Apache ODE Sever, sau đó tải gói Plugin từ http://www.eclipse.org/bpel/downloads.php và chép gói này vào thư mục Plugins của Eclipse.

Để cập nhật các version mới hơn bạn chọn Help > Software Update > Find & Install trong Eclipse và chọn New feature để cài đặt một tùy chọn. Nhấn vào New Remote Site... và thêm URL:http://download.eclipse.org/technology/bpel/update-site/ vào hộp thoại trên trang Web New Update Site (cập nhật mới) , rồi đặt tên trang Web BPEL. Hãy nhấn vào Finish (Kết thúc), chọn một máy nhân bản ở gần, chọn BPEL Designer for Eclipse (Trình thiết kế BPEL cho Elipse) chấp nhận các thuật ngữ cấp phép, chọn Select All (Chọn tất cả), sau đó nhấn Next và Finish. Eclipse sẽ cảnh báo bạn về bất kỳ các xung đột trùng lắp tiềm ẩn nào, sau đó cảnh báo bạn về BPEL chưa được đánh dấu. Nhấn vào Install (Cài đặt) nếu nhà cung cấp là Eclipse.org. Khi việc cài đặt hoàn thành, Eclipse sẽ yêu cầu bạn khởi động lại nó.



  1. Sử dụng Eclipse BPEL Designer

  • Tạo một quy trình BPEL

Để tạo một quy trình BPEL đơn giản, hãy chạy Eclipse và nhấn vào mục trình đơn File > New > Other, chọn tùy chọn BPEL 2.0 -> BPEL Project và tạo một dự án BPEL mới tên là HelloWorld. Sau khi đã tạo ra dự án, bạn đã sẵn sàng để tạo ra quy trình BPEL đầu tiên của bạn. Nhấn vào mục trình đơn File > New > Other một lần nữa và chọn tùy chọn BPEL 2.0 > New BPEL Process File như hình 4.4 để bắt đầu với trình thủ thuật tạo quy trình BPEL.

d:\study\document\bpel_baocao\tailieuthamkhao\process-creation-dialog.jpg

Hình 4.4-Tạo một quy trình BPEL với Eclipse BPEL Designer



Tệp WSDL cho một quy trình BPEL sẽ mô tả các kiểu được sử dụng trong quy trình BPEL cũng như các kiểu cổng, các ràng buộc và các dịch vụ cho quy trình của bạn. WSDL tự động được tạo ra bởi trình thủ thuật đã chứa kiểu cổng và để tạo ra chức năng của quy trình, chúng ta cần phải tạo ràng buộc và dịch vụ cho nó. Mở tệp WSDL trong trình soạn thảo tương ứng và xem định nghĩa đồ họa của kiểu cổng:

d:\study\document\bpel_baocao\tailieuthamkhao\helloworld-porttype.jpg

Hình 4.5-Thay đổi thông tin tập tin WSDL

Để tạo ra một sự ràng buộc dịch vụ Web, nhấn chuột phải vào bất kỳ vùng trống trong trình soạn thảo WSDL và chọn tùy chọn Add Binding. Trong khung nhìn Properties đổi tên ràng buộc mới được tạo ra thành HelloWorldBinding và chọn HelloWorld làm kiểu cổng cho ràng buộc mới. Nhấn vào nút Generate Binding Content (Tạo nội dung ràng buộc) để đưa ra hộp thoại Binding Wizard như hình sau:

d:\study\document\bpel_baocao\tailieuthamkhao\helloworld-bindingwizard.jpg

Hình 4.6-Tạo ràng buộc cho tập tin WSDL trong Eclipse BPEL Designer

Chọn giao thức SOAP trong hộp chọn Protocol kiểm tra tùy chọn tài liệu chữ trong phần SOAP Binding Options (Tùy chọn ràng buộc SOAP) và nhấn vào Finish.Sau dó bạn có thể chỉnh lại các thuộc tính của tệp tin như sau:

d:\study\document\bpel_baocao\tailieuthamkhao\helloworld-bindingoptions.jpg

Hình 4.7-Thay đổi các thuộc tính của tập tin WSDL trong Eclipse BPEL Designer

Sau khi tạo ra sự ràng buộc, nhấn chuột phải vào bất kỳ vùng trống nào trong trình soạn thảo WSDL và chọn mục trình đơn Add Service để tạo ra một mục mới có tên là HelloWorldService. Sau đó chỉ định HelloWorldPort cho tên cổng của ràng buộc và địa chỉ của nó là URL http://localhost:8080/ode/processes/HelloWorld. Ngoài ra chọn HelloWorldBinding làm sự ràng buộc cho dịch vụ mới được tạo ra như hình 4.7.

d:\study\document\bpel_baocao\tailieuthamkhao\helloworld-wsdl.jpg

Hình 4.8-Ràng buộc trong tập tin WSDL



  • Triển khai một quy trình BPEL lên ODE Sever

Để triển khai một quy trình BPEL trong Eclipse thì đầu tiên bạn phải tạo ra một tập tin deploy.xml để mô tả cho tiến trình của mình. Tập tin này có nội dung được mô tả như sau:


>?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>

>deploy xmlns="http://ode.fivesight.com/schemas/2006/06/27/dd"

xmlns:pns="http://www.ibm.com/wd2/ode/HelloWorld"

xmlns:wns="http://www.ibm.com/wd2/ode/HelloWorld">

>process name="pns:HelloWorld">

>active>true>/active>

>provide partnerLink="client">

>service name="wns:HelloWorldService" port="HelloWorldPort"/>

>/provide>

>/process>

>/deploy>



Bảng 4.6-Nội dung tập tin deloy.

ODE hỗ trợ sử dụng nóng qui trình BPEL. Để triển khai quy trình BPEL, chỉ cần chép thư mục chứa tất cả các tệp của quy trình vào thư mục webapps/ode/WEB-INF/processes của Tomcat Apache của bạn nơi mà ODE đã được triển khai.

Một cách dễ dàng để kiểm tra quy trình được triển khai là sử dụng công cụ Eclipse Web Services Explorer (Trình thám hiểm các dịch vụ Web Elipse). Nhấn chuột phải vào tệp HelloWorld WSDL của bạn và chọn mục trình đơn hiện lên Web Services > Test with Web Services Explorer. Eclipse sẽ khởi động công cụ thử nghiệm Web Services Explorer. Khi sử dụng công cụ này, nhập một số văn bản cho tham số đầu vào và gọi thao tác Process. Như trong hình sau:



d:\study\document\bpel_baocao\tailieuthamkhao\process-test.jpg

Hình 4.9-Triển khai quy trình BPEL lên ODE Server trong Eclipse

Trên đây là cách cấu hình cũng như triển khai một quy trình BPEL đơn giãn với Eclipse BPEL Designer.Ngoài việc hỗ trợ việc thiết kế cũng như triển khai một quy trình BPEL Eclipse còn hổ trợ bộ update, cho phép bạn nhìn thấy được các lỗi cú pháp trong quá trình thiết kế và còn nhiều tiện ích khác từ Eclipse BPEL Designer.


  1. Kết luận và đánh giá

Hiện nay trên thị trườn thì không có nhiều các BPEL Designer, phần lớn là các phần mềm được phát triển bởi các tổ chức hoặc cá nhân nhỏ sử dụng cho mục đích của cá nhân hoặc tổ chức. Các BPEL Designer mà chúng tôi giới thiệu ở trên thuộc các dự án mã nguồn mở và còn đang trong quá trình phát triển và chưa hoàn chỉnh.

Với cơ sở lý thuyết về BPEL 2.0 và Apache ODE là tiền đề để chúng tôi quyết định nghiên cứu và phát triển thử nghiệm một BPEL Designer chạy trên nên web với công nghệ JavaFx. Phần sau chúng tôi xin giới thiệu tới các bạn một số kiến thức về Java-Fx và UDDI.



  1. TÌM HIỂU VỀ CÔNG NGHỆ JAVA-FX VÀ MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ UDDI

Nội dung:ở chương này chúng tôi cũng sẽ giới thiệu sơ lượt tới các bạn về công nghệ Java-Fx, một giải pháp mà chúng tôi đã chọn để xây dựng ứng dụng của mình. Đồng thời qua chương này chúng tô cũng xin giới thiệu tới các bạn một số kiến thức về UDDI.

  1. Giới thiệu công nghệ Java-Fx.

  1. Java-Fx script

JavaFX Script là một ngôn ngữ khai báo với việc hộ trở hướng đối tượng. Nếu bạn đã làm quen với các ngôn ngữ khác như Java, JavaScript, Groovy, Adobe ActionScript hoặc JRuby,thì JavaFX Script trông có vẻ rất quen thuộc, tuy nhiên, cũng sẽ có những khác biệt. Ngoài các hộ trở của Scripting truyền thống, nó còn hộ trở khả năng dóng gói và tài sử dụng bằng hướng đối tượng. Điều này cho phép các lập trình viên sử dụng JavaFX để làm ra và bảo trì các ứng dụng rất linh hoạt. Một đặc điểm khác đó là JavaFX Script hoàn toàn tương thích với Java[ ].

JavaFX Script thì được chia vào hai mức chính, Script và Class. Tại mức Script, các biến và hàm có thể được định nghĩa, điều này có thể được chia sẽ với các Class khác được định nghĩa bên trong Script, hoặc nếu chúng có quyền rộng hơn chúng có thể chia sẽ với các Classes và Scripts khác. Thêm vào đó, các biểu thức rỗng “loose expressions” có thể được tạo ra. Chúng là những biểu thước được khai báo bên ngoài định nghĩa lớp. Khi một Scirpt được thực thi, tất cả các biểu thức trống này cũng được thực thi. Ví dụ về một script JavaFx cách tính giai thừa của 3:




public var result:Number;

function run(args : String[]) : java.lang.Object {

var num = if(sizeof args > 0) {

java.lang.Integer.valueOf(args[0]);

} else {


10;

};

result = num;



var a = result - 1;

while(a > 0) {

result *= a;

a--;


}

println("{num}! = {result}");

}






  1. Một số User Interface trong JavaFx

JavaFX tập trung vào việc cung cấp một nền tảng để việc tạo ra giao diện một cách dể dàng và nhanh chóng. Từ đó tạo cảm giác ấn tượng cho người dùng khi tương tác với nó. Chúng ta sẽ tập trung vào lớp tương tác người dùng của JavaFX.Trong phần này, chúng ta sẽ điểm qua các từ khóa được dùng để xây dựng giao diện người dùng trong JavaFX. Chương này sẽ bao gồm các thành phần cơ bản của giao diện người dùng. Trong các chương sau, chúng ta sẽ thảo luận về animations ( sự di chuyển hình ảnh), các hiệu ứng và các đặc điểm đa phương tiện. Để bắt đầu, bạn phải định nghĩa từ khóa “stage”.

  • State

Lớp javafx.stage.Stage là lớp lớn nhất đối với phần giao diện của JavaFX. Nó tách biệt phần thực thi của người lập trình, vì vậy nó có thể tái sử dụng trên nhiều nền tảng khác nhau như desktop, mobile phone hoặc ti vi. Trong môi trường destop, “Stage” tương đương với 1 cửa sổ trong hệ điều hành window.

Một “stage” có 1 tiêu đề và 1 không gian giao diện, nó tương tự như cửa sổ trong hệ điều hành window và có thể thay đổi kích thước được,ví dụ:




import javafx.stage.Stage;

Stage {


title: "An empty stage"

width: 250

height: 80

}


Một ứng dụng có thể có nhiều “stage”. Lúc này, một “stage” được kích hoạt. Các sự kiện ở đây có thể là con trỏ nhấn, có thể làm cho “stage” được kích hoạt hoặc ngừng lại. nếu nó được hổ trợ, “stage” có thể thể hiện tính ẩn hiện bằng cách thay đổi thuộc tính. Phần nội dung của “stage” có thể thay đổi trong suốt chu trình sống của ứng dụng.



  • Scene

Giao diện, javafx.scene.Scene là node ở mức cao nhất với giao diện đồ họa. Một giao diện đồ họa bao gồm các node theo một thứ tự nhất định. Giao diện sẽ có hình khối xác định, có màu nền, con trỏ và các tùy chọn dạng CSS ( như bên web) có thể sử dụng bởi các thành phần của giao diện. Hình khối của giao diện sẽ là phạm vi của “stage” hiện thị, trên đó, ta có thể hiện thị các thành phần của giao diện. nếu “stage” thay đổi kích thước, giao diện cũng sẽ thay đổi, bằng cách này, bạn có thể đặt các thành phần bên trong giao diện và đảm bảo là chúng hiển thị đầy đủ, ví dụ sau sẽ trình bày “stage” và dạng hình khối:


import javafx.stage.Stage;

import javafx.scene.Scene;

import javafx.scene.text.Text;

import javafx.scene.text.TextOrigin;

import javafx.scene.text.Font;

import javafx.scene.paint.Color;

var scene:Scene;

var text:Text;

var stage:Stage = Stage {

title: "Stage and Scene Geometry"

x: 250

y: 150


width: 800

height: 100

scene: scene = Scene{

fill: Color.NAVY

content: text = Text {

translateX: bind



(scene.width-text.layoutBounds.width) / 2 -

text.layoutBounds.minX

translateY: 24

fill: Color.YELLOW

textOrigin: TextOrigin.TOP

font: Font { size: 24 }

content: bind

"Stage: [{stage.x},{stage.y}] , "

"[{stage.width}, {stage.height}]"

"Scene: [{scene.x},{scene.y}] , "

"[{scene.width}, {scene.height}]"

}

}



}


Trước tiên chúng ta sẽ khởi tạo giao diện thông qua biến “scene”. Tiếp theo, chúng ta sẽ sử dụng biến khởi tạo, “scene”, “width” để cập nhật vị trí cho biến “Text”. Lưu ý là vị trí của “stage” [250,150] đó là tọa độ của màn hình destopo, ngược lại vị trí của “scene” [5,23] đó là vị trí so với tọa độ của “stage”. Tương tự, chiều rộng (790) và chiều cao (72) là chiều rộng và chiều cao tối thiểu của “stage”.Chúng ta phải sử dụng bind, bởi vì kích thước giao diện sẽ thay đổi. Kết quả sau khi thực thi như sau:



Hình 5.1-Ví dụ về State

Ngoài việc trang trí giao diện bằng màu sắc, bạn cũng có thể sử dụng các kiểu con trỏ cho toàn bộ màn hình. Mặc định thì giá trị null là con trỏ mặc định sẽ được sử dụng. Bạn có thể lựa chọn kiểu con trỏ từ Lớp javafx.scene.Cursor, gồm các kiểu default, wait, crosshair, hand, move và text. Bạn cũng có thể thay đổi kích thước con trỏ theo các hướng east, north, northeast, northwest, west, southwest, south, southeast, vertical và horizontal. Tất nhiên là cũng có tùy chọn không sử dụng con trỏ.


  • Style sheet

Cascading style sheets (CSS) thường được sử dụng trong kỹ thuật Web để phân chia nội dung trình bày. Điều này giúp chúng ta dể dàng thay đổi phần trình bày mà không cần phải sửa đổi code. Một “style sheet” là một bộ các qui luật để điều khiển việc hiện thị các thành phần. Mỗi qui luật ở đây sẽ phù hợp với thuộc tính của thành phần nào đó. JavaFX cũng hổ trợ style sheets, nhưng nó hơi khác so với HTML. Sự khác biệt đó là thay vì sử dụng các thẻ HTML hoặc XML, JavaFX sử dụng các tên lớp của nó. Tên Lớp sẽ được đặt trong dấu ngoặc kép, hoặc theo chuẩn các Lớp giao diện người dùng của JavaFX. Bạn có thể sử dụng tên Lớp, ví dụ :javafx.scene.shape.Rectangle hoặc Rectange là như nhau. Đối với phần ID của CSS, thay vì sử dụng thuộc tính id của XML, JavaFX sử dnug5 biến “id” của “node”. Các lựa chọn trong Lớp CSS cũng tương tự như bên HTML. Các lớp CSS pseudo được định nghĩa bằng các biến kiểu Boolean bên trong các điều khiển JavaFX và các Lớp “skin”. Để sử dụng “style sheet” ta sẽ gắn URL của nó vào biến stylesheet của “scene”. Có thể không có hoặc có nhiều URL style sheet, ví dụ sau trình bày về cách tạo ra 1 mẫu CSS ID cho Lớp JavaFX Text, có tên là MainText với các thuộc tính fill được gán là màu navy blue và font là bold italic sans serif[ ]:


"javafx.scene.text.Text"#MainText {

fill: navy;

font:bold italic 35pt "sans-serif";

}


Để sử dụng mẫu này trong JavaFX, gắn đường dẫn URL của style sehht vào đối tượng “scene” và thêm vào 1 IP cho node Text trùng với ID đã khai báo. Ví dụ:




/* Main.fx */

Stage {


title: "Style Sheet Demo"

width: 500

height: 80

scene: Scene {



stylesheets: ["{__DIR__}MyStyle.css"]

content: Text {



id: "MainText"

x: 10, y: 30

content: "This shows my style"

}

}



}




  • Nodes

Như chúng ta đã biết, một giao diện đồ họa là sử hiện thị giao diện ,nó được hiện thị giống như một cây dữ liệu có cấu trúc với các nodes liên kết với nhau. Các node có thể bao gồm node bên trong nó, đôi khi, ta gọi là các node nhánh hoặc các node là mà không có node con. Lớp javafx.scene.Node là lớp cơ sở cho tất cả các node của giao diện đồ họa. Trong javaFX, “scene” là node gốc và bao gồm các node con gắn trực tiếp vào nó; bên trong các node là javafx.scene.Group hoặc javafx .scene. CustomNode các node lá là các node giống như shapes, controls, text, và các nodes Swing Extension. Mỗi node có thể được gắn một ID với kiểu chuỗi, một phương thức tìm kiếm được hổ trợ để tìm các node dựa vào ID. Cũng tương tự như phần trước, khi chúng ta sử dụng ID cho style sheets, các ID này được gán một giá trị duy nhất[ ].

Các node sẽ có một tập các biến và kiểu phương thức, mà ta có thể gán giá trị và gọi chúng khi sự kiện được gọi. Chúng bao gồm các biến onKeyXXXX và onMouseXXXX, đó là các phương thức gắn liền với các sự kiện bàn phím hoặc con trỏ. XXXX trình bày kiểu sự kiện. biến blocksMouse cho biết các sự kiện con trỏ có được áp dụng hay không.

Các Node cũng có thể có một tập transforms. Bao gồm : translate, scale, rotate, shear. Các Transforms có thể được cung cấp giống như một mảng các stransforms. Chúng sẽ được sắp xếp theo thứ tự. Bên cạnh đó, các biên như : translate, translate, scaleX, scaleY và rotate có thể được sử dụng.

Giao diện các node được mô tả qua bốn biến : boundsInLocal, boundsInParent, boundsInScene và layoutBounds. BoundsInLocal là một không gian hình chữ nhật được định nghĩa cho node mà không quan tậm đến bất kỳ sự thay đổi nào. BoundsInparent là một không gian hình chữ nhật được định nghĩa cho các node sau khi tất cả các thay đổi đã được áp dụng và nằm bên trong không gian tọa độ của node cha. BoundsInScene là một không gian hình chữ nhật được định nghĩa cho các node mà sau khi các sự thay đổi diễn ra và nằm trong không gian tọa độ của màn hình hoặc có thể nói là node gốc nếu node không được gắn vào scene. LayoutBounds là một không gian hình học mà nên đươc sử dụng trong việc bố trí các node bà bao gồm tất các các sự thay đổi bên trong transforms sequence



  • Customnode

Custom node là một phần của cấu trúc hiển thị javaFx. Custom nodes cho phép người dùng tạo ra các control tùy biến với các node bênh trong.

Để tạo ra một custom node, chúng ta sẽ kế thừ lớp javafx.scene.CustomNode và thực thi phương thức trừu tượng create(), đây là phương thức mà sẽ trả về một node, với lớp Title và một CustomNode. Để làm việc này, Title trước tiên kế thừa CustomNode, sau đó thực thi phương thức create()[ ].



  1. Synchronize Data Models-Binding Trigger

Một trong những ưu điểm của Java-Fx chính là khả năng hổ trợ cao trong việc ràng buộc dữ liệu(binding). Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu về nguồn gốc của binding trong JavaFX đồng thời sẽ đề cập đến Triggers và chúng làm việc như thế nào trong JavaFX.
1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương