TrưỜng đẠi học cần thơ  luận văn tốt nghiệP


Tổng quan tình hình nghiên cứu



tải về 0.51 Mb.
Chế độ xem pdf
trang9/42
Chuyển đổi dữ liệu22.09.2022
Kích0.51 Mb.
#184216
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   42
FILE 20220526 152223 LVTN-1
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 
1.2.1. Trong nước 
Đối với bê tông nhẹ sử dụng hạt polystyrene xốp (EPS) đã được nghiên cứu ứng 
dụng tại nhiều nước trên thế giới từ giữa thập niên 70 của thế kỷ XX, bao gồm bê tông 
polystyrene cách nhiệt - kết cấu và bê tông polystyrene kết cấu (BPK). Tại Việt Nam, 
bê tông polystyrene mới được nghiên cứu sử dụng từ những năm đầu thế kỷ XXI. Các 
sản phẩm chủ yếu là viên bê tông nhẹ, tấm tường nhẹ không chịu lực, lớp cách nhiệt gia 
công tại chỗ với trọng lượng từ 600 kg/m³ đến 800 kg/m³ [3]. Gần đây, bê tông nhẹ EPS 
còn được sử dụng làm lớp lõi trong sản xuất tấm tường nhẹ nhiều lớp với lớp ngoài là 
tấm xi măng cốt sợi. Kết quả ứng dụng thực tế đã cho thấy bê tông nhẹ EPS được đánh 
giá là vật liệu có nhiều triển vọng phát triển tại nước ta do có ưu thế so với bê tông tổ 
ong ở khả năng chống thấm, có ưu thế so với bê tông keramzit ở khả năng chủ động 
nguồn nguyên liệu. Để đánh giá sự phát triển của vật liệu bê tông nhẹ từ hạt xốp EPS 
thì hiện nay trong nước đã có một số công trình tiêu biểu về tổng hợp bê tông nhẹ EPS 
kết cấu bằng cách bổ sung lượng hạt xốp EPS vào bê tông nền. 
Năm 2010, Hoàng và cộng sự đã nghiên cứu về việc sử dụng hạt xốp EPS trong 
sản xuất panel tường và panel sàn dùng cho công trình nhà ở lắp ghép [4]. Vấn đề chủ 
yếu trong nghiên cứu xoay quanh việc khảo sát tối ưu thành phần của bê tông nhẹ tạo 
rỗng bằng hạt xốp EPS ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm tổng hợp (panel tường và 
panel sàn). Bởi vì đối với bê tông nhẹ, mâu thuẫn cơ bản là trọng lượng nhỏ thì cường 
độ không thể cao, do đó việc lựa chọn khối lượng thể tích có xét đến khả năng chịu lực 
sao cho phù hợp với mục đích sử dụng là vấn đề quan trọng. Qua quá trình khảo sát ảnh 
hưởng của tổng trọng lượng hạt EPS và thành phần hạt EPS tham gia tạo rỗng đến khối 
lượng kích thước hạt và cường độ nén của bê tông nhẹ EPS, nghiên cứu đã xác định 
được cấp phối bê tông nhẹ EPS đạt các yêu cầu kỹ thuật về trọng lượng hạt và cường độ 
để sản xuất panel thay thế tường xây bằng gạch rỗng đất sét nung và sản xuất panel sàn 
dùng cho nhà dân dụng lắp ghép.
Năm 2018, TS. Đức và cộng sự đã chế tạo thành công bê tông nhẹ EPS bằng cách 
thêm cốt liệu nhẹ hạt EPS xốp vào hỗn hợp bê tông nặng (bê tông nền) [5]. Cụ thể trong 
nghiên cứu tập trung vào việc khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến độ phân tầng của hỗn 
hợp bê tông nhẹ EPS, bởi vì trên thực tế hỗn hợp bê tông không đồng nhất và kích thước 
của cốt liệu trong bê tông nền không cố định nên cần tính đến ảnh hưởng của độ phân 


 
Chương 1: Mở đầu
 
GVHD: TS. Cao Lưu Ngọc Hạnh 
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thái Nguyên
 
Trang 3 
tầng tới tính chất của bê tông. Khác với bê tông nặng thông thường, khi bị phân tầng hạt 
EPS có xu hướng dịch chuyển lên trên, còn bê tông nền dịch chuyển xuống dưới. Trong 
đó, ba yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến vận tốc dịch chuyển của hạt EPS trong hỗn hợp bê 
tông nền đó là kích thước hạt EPS, trọng lượng hạt EPS và độ nhớt hỗn hợp bê tông nền. 
Thông qua quá trình nghiên cứu tác giả cũng đã tìm ra yếu tố ảnh hưởng lớn đến công 
tác và độ phân tầng của bê tông nhẹ từ EPS chính là trọng lượng hạt EPS cho vào.
Cũng trong năm 2018, N.C. Thắng và cộng sự đã tổng hợp vật liệu bê tông nhẹ từ 
hạt xốp EPS và khắc phục thành công hiện tượng phân tầng xảy ra trong quá trình chế 
tạo [6]. Qua quá trình khảo sát về ảnh hưởng hàm lượng EPS đến độ phân tầng của vật 
liệu bê tông nhẹ thì nhóm nghiên cứu đã rút ra một số kết luận như sau:
- Khi sử dụng hạt EPS với hàm lượng từ 52 - 65% theo thể tích bê tông, khối lượng 
của hỗn hợp bê tông đạt từ 650 - 900 kg/m
3
, cường độ nén của bê tông đạt từ 3 – 7,5 
MPa. Khi kích thước hạt EPS giảm thì cường độ và khối lượng của bê tông tăng, mức 
độ ảnh hưởng của kích thước hạt thể hiện càng lớn khi trọng lượng của bê tông càng 
nhỏ (650 kg/m
3
).
- Với hỗn hợp EPS không sử dụng sợi PP, khi thời gian rung tạo hình tăng lên thì 
cường độ nén của bê tông có xu hướng giảm, đặc biệt khi sử dụng 65% hạt EPS thời 
gian rung tạo hình tăng đến 60 giây thì cường độ nén của bê tông giảm tới 32,3% so với 
mẫu rung tạo hình ở 20 giây. 
- Việc sử dụng sợi PP đã cải thiện rất lớn tính chất của bê tông, hạn chế sự phân 
tầng, giữ vai trò rất lớn trong việc ổn định chất lượng của bê tông kể cả khi tăng thời 
gian rung đến 60 giây. 

tải về 0.51 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   42




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương