TrưỜng đẠi học an giang


Phiên âm:Dụ chư tỳ tướng hịch văn



tải về 1.4 Mb.
trang7/11
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.4 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Phiên âm:Dụ chư tỳ tướng hịch văn

Dư thường văn chi: 

Kỷ Tín dĩ thân đại tử nhi thoát Cao Đế; 

Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu Vương. 

Dự Nhượng thốn thán nhi phục chủ thù; 

Thân Khoái đoạn tí nhi phó quốc nạn. 

Kính Đức nhất tiểu sinh dã, thân dực Thái Tông nhi đắc miễn Thế Sung chi vi; 

Cảo Khanh nhất viễn thần dã, khẩu mạ Lộc Sơn nhi bất tòng nghịch tặc chi kế. 

Tự cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc hà đại vô chi ? 

Thiết sử sổ tử khu khu vi nhi nữ tử chi thái, 

Đồ tử dũ hạ, ô năng danh thùy trúc bạch, 

Dữ thiên địa tương vi bất hủ tai! 
Nhữ đẳng,

Thế vi tướng chủng, bất hiểu văn nghĩa, 

Kỳ văn kỳ thuyết, nghi tín tương bán. 

Cổ tiên chi sự cô trí vật luận. 

Kim dư dĩ Tống, Thát chi sự ngôn chi: 

Vương Công Kiên hà nhân dã ? 

Kỳ tỳ tướng Nguyễn Văn Lập hựu hà nhân dã ? 

Dĩ Điếu Ngư tỏa tỏa đẩu đại chi thành, 

Đương Mông Kha đường đường bách vạn chi phong

Sử Tống chi sinh linh chí kim thụ tứ! 

Cốt Đãi Ngột Lang hà nhân dã ? 

Kỳ tỳ tướng Xích Tu Tư hựu hà nhân dã ? 

Mạo chướng lệ ư vạn lý chi đồ, 

Quệ Nam Chiếu ư sổ tuần chi khoảnh, 

Sử Thát chi quân trưởng chí kim lưu danh! 

Huống dư dữ nhữ đẳng, Sinh ư nhiễu nhương chi thu; 

Trưởng ư gian nan chi thế. 

Thiết kiến ngụy sứ vãng lai, đạo đồ bàng ngọ. 

Trạo hào ô chi thốn thiệt nhi lăng nhục triều đình; 

Ủy khuyển dương chi xích khu nhi cứ ngạo tể phụ. 

Thác Hốt Tất Liệt chi lệnh nhi sách ngọc bạch, dĩ sự vô dĩ chi tru cầu; 

Giả Vân Nam Vương chi hiệu nhi khu kim ngân, dĩ kiệt hữu hạn chi thảng hố. 

Thí do dĩ nhục đầu nỗi hổ, ninh năng miễn di hậu hoạn dã tai? 
Dư thường,

Lâm xan vong thực, Trung dạ phủ chẩm, 

Thế tứ giao di, Tâm phúc như đảo. 

Thường dĩ vị năng thực nhục tẩm bì, nhứ can ẩm huyết vi hận dã. 

Tuy,

Dư chi bách thân, cao ư thảo dã; 

Dư chi thiên thi, khỏa ư mã cách, 

Diệc nguyện vi chi. 
Nhữ đẳng,

Cửu cư môn hạ, Chưởng ác binh quyền. 

Vô y giả tắc ý chi dĩ y; 

Vô thực giả tắc tự chi dĩ thực. 

Quan ti giả tắc thiên kỳ tước; 

Lộc bạc giả tắc cấp kỳ bổng. 

Thủy hành cấp chu; Lục hành cấp mã. 

Ủy chi dĩ binh, tắc sinh tử đồng kỳ sở vi; 

Tiến chi tại tẩm, tắc tiếu ngữ đồng kỳ sở lạc. 

Kỳ thị,

Công Kiên chi vi thiên tì, Ngột Lang chi vi phó nhị, Diệc vị hạ nhĩ. 
Nhữ đẳng,

Tọa thị chủ nhục, tằng bất vi ưu; 

Thân đương quốc sỉ, tằng bất vi quý. 

Vi bang quốc chi tướng, thị lập di tú nhi vô phẫn tâm; 

Thính thái thường chi nhạc, yến hưởng ngụy sứ nhi vô nộ sắc. 

Hoặc đấu kê dĩ vi lạc; Hoặc đổ bác dĩ vi ngu. 

Hoặc sự điền viên dĩ dưỡng kỳ gia; 

Hoặc luyến thê tử dĩ tư ư kỷ. 

Tu sinh sản chi nghiệp, nhi vong quân quốc chi vụ; 

Tứ điền liệp chi du, nhi đãi công thủ chi tập. 

Hoặc cam mỹ tửu; Hoặc thị dâm thanh. 

Thoát hữu Mông Thát chi khấu lai, 

Hùng kê chi cự, bất túc dĩ xuyên lỗ giáp; 

Đổ bác chi thuật, bất túc dĩ thi quân mưu. 

Ðiền viên chi phú, bất túc dĩ thục thiên kim chi khu

Thê noa chi lụy, bất túc dĩ sung quân quốc chi dụng. 

Sinh sản chi đa, bất túc dĩ cấu lỗ thủ; 

Liệp khuyển chi lực, bất túc dĩ khu tặc chúng. 

Mỹ tửu bất túc dĩ trấm lỗ quân; 

Dâm thanh bất túc dĩ lung lỗ nhĩ. 

Ðương thử chi thời, Ngã gia thần chủ tựu phọc, Thậm khả thống tai! 

Bất duy dư chi thái ấp bị tước, 

Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc vi tha nhân chi sở hữu; 

Bất duy dư chi gia tiểu bị khu, 

Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc vi tha nhân chi sở lỗ; 

Bất duy dư chi tổ tông xã tắc, vi tha nhân chi sở tiễn xâm, 

Nhi nhữ đẳng chi phụ mẫu phần mộ, diệc vi tha nhân chi sở phát quật; 

Bất duy dư chi kim sinh thụ nhục, tuy bách thế chi hạ, xú danh nan tẩy, ác thụy trường tồn, 

Nhi nhữ đẳng chi gia thanh, diệc bất miễn danh vi bại tướng hĩ! 

Ðương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục tứ kỳ ngu lạc, 

Đắc hồ? 
Kim dư minh cáo nhữ đẳng, 

Đương dĩ thố hỏa tích tân vi nguy; 

Đương dĩ trừng canh xuy tê vi giới. 

Huấn luyện sĩ tốt; Tập nhĩ cung thỉ. 

Sử,

Nhân nhân Bàng Mông; Gia gia Hậu Nghệ. 

Cưu Tất Liệt chi đầu ư Khuyết hạ; 

Hủ Vân Nam chi nhục ư Cảo nhai. 

Bất duy dư chi thái ấp vĩnh vi thanh chiên, 

Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc chung thân chi thụ tứ; 

Bất duy dư chi gia tiểu đắc an sàng nhục, 

Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc bách niên chi giai lão; 

Bất duy dư chi tông miếu vạn thế hưởng tự, 

Nhi nhữ đẳng chi tổ phụ diệc xuân thu chi huyết thực; 

Bất duy dư chi kim sinh đắc chí, 

Nhi nhữ đẳng bách thế chi hạ, phương danh bất hủ; 

Bất duy dư chi mỹ thụy vĩnh thùy, 

Nhi nhữ đẳng chi tính danh diệc di phương ư thanh sử hĩ. 

Ðương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục bất vi ngu lạc, 

Đắc hồ! 
Kim dư lịch tuyển chư gia binh pháp vi nhất thư, danh viết Binh thư yếu lược. 
Nhữ đẳng 

Hoặc năng chuyên tập thị thư, thụ dư giáo hối, thị túc thế chi thần chủ dã; 

Hoặc bạo khí thị thư, vi dư giáo hối, thị túc thế chi cừu thù dã. 
Hà tắc? 

Mông Thát nãi bất cộng đái thiên chi thù, 

Nhữ đẳng ký điềm nhiên, bất dĩ tuyết sỉ vi niệm, bất dĩ trừ hung vi tâm, 

Nhi hựu bất giáo sĩ tốt, thị đảo qua nghênh hàng, không quyền thụ địch; 

Sử bình lỗ chi hậu, vạn thế di tu, 

Thượng hữu hà diện mục lập ư thiên địa phú tái chi gian da ? 

Cố dục nhữ đẳng minh tri dư tâm, Nhân bút dĩ hịch vân.
Dịch nghĩa: Hịch tướng sĩ (Người dịch: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ X - thế kỉ XVII)

Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng

chịu giáo che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân

Khoái chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông

thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh, một bây tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không

theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào

không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở

xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đồi bất hủ được! 

Các ngươi vốn con nhà võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi những chuyện xưa, ta không nói đến nữa. Nay ta chỉ kể chuyện Tống, Nguyên mới đây. 

Vương Công Kiên là người thế nào, tỳ tướng của ông là Nguyễn Văn lập lại là người thế nào, mà giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu, đường đường chống với quân Mông Kha đông đến hàng trăm vạn, khoến cho nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu! 

Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào, tỳ tướng của ông là Xích Tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng, đánh bại được quân Nam Chiếu trong vài tuần, khiến quân trường đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt! 

Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó tháy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham khôn cùng; giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau! 

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng. 

Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức; lương ít thì ta cấp bổng; đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. Các đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước cũng chẳng kém gì.

Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con; hoặc ham làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc, vả lại vợ dìu con bíu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều không mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ khôn đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết; tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng tmất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không? 

Nay ta bảo thật các ngươi: nên nhớ câu "đặt mồi lửa vào dưới đống củi" là nguy cơ; nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm răn sợ. Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên; khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ; có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyền của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ phỏng có được không ? 

Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp thành một quyển gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù. 

Vì sao vậy? Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây sau khi giặc giã dẹp yên, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất chở nữa ? Ta viết bài hịch này để các ngươi biết bụng ta.
8. Bạch Đằng giang phú白藤江賦Trương Hán Siêu張漢超

a. Tiểu sử tác giả

Trương Hán Siêu 張漢超 (?-1354) tự là Thăng Phủ, hiệu là Ðộn Tẩu, người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên, không rõ sinh năm nào.

Trương Hán Siêu trước là môn khách của Trần Quốc Tuấn, về sau được Trần Quốc Tuấn tiến cử lên triều đình. Năm Hưng Long thứ mười sáu (1308), Trần Anh Tông cho làm chức Hàn lâm học sĩ. Dưới các triều vua từ Anh Tông (1293-1314) đến Du Tông (1341-1370) ông đã giữ nhiều chức vụ quan trọng. Năm 1353, ông được cử lĩnh các quân. Thần sách đi trấn Hoá Châu. Năm sau ông cáo bệnh xin về, được chuẩn y nhưng chưa về đến kinh đô đã chết, vua tặng chức Thái bảo. 

Trương Hán Siêu tính tình chính trực, học vấn sâu rộng, có tư tưởng tông nho bài Phật. Các vua Trần rất tin cậy và tôn trọng ông, thường gọi là thầy mà không gọi tên. Sau khi ông chết, năm 1363 Trần Du Tông lại truy tặng chức Thái phó và năm 1372 Trần Nghệ Tông cho ông được thờ ở Văn Miếu. Trương Hán Siêu là một nhân vật nổi tiếng, một danh nho đương thời. 



Tác phẩm: hiện còn 3 bài văn và 4 bài thơ. Riêng hai quyển Hoàng triều đại điển và Hình thư soạn chung với Nguyễn Trung Ngạn, bài biểu Tạ trừ Hàn lâm viện trực học sĩ được dẫn trong "Đại Việt sử ký toàn thư" và "Kiến văn tiểu lục", hiện nay chưa tìm thấy. 

b. Tác phẩm:

白藤江賦

客有: 

掛汗漫之風帆, 

拾浩蕩之海月。 

朝嘎舷兮沅湘, 

暮幽探兮禹穴。 

九江五湖, 

三吳百粵。 

人跡所至, 

靡不經閱。 

胸吞雲夢者數百而, 

四方壯志猶闕如也。 

乃舉楫兮中流, 

縱子長之遠遊。 

涉大灘口, 

溯東潮頭。 

抵白藤江, 

是泛是浮。 

接鯨波於無際, 

蘸繇尾之相繆。 

水天一色, 

風景三秋。 

渚获岸蘆, 

瑟瑟颼颼。 

折戟沉江, 

枯骨盈丘。 

慘然不樂, 

佇立凝眸。 

念豪傑之已往, 

嘆蹤跡之空留。 

江邊父老, 

謂我何求。 

或扶黎杖, 

或棹孤舟。 

揖余而言曰: 

此重興二聖擒烏馬兒之戰地, 

與昔時吳氏破劉弘操之故洲也。 

當期: 

舳艫千里, 

旌旗旖旎。 

貔貅六軍, 

兵刃蜂起。 

雌雄未決, 

南北對壘。 

日月昏兮無光, 

天地凜兮將毀。 

彼: 

必烈之勢強, 

劉龔之計詭。 

自謂投鞭, 

可掃南紀。 

既而: 

皇天助順, 

凶徒披靡。 

孟德赤壁之師談笑飛灰, 

符堅合淝之陣須臾送死。 

至今江流, 

終不雪恥。 

再造之功, 

千古稱美。 

雖然: 

自有宇宙, 

故有江山。 

信天塹之設險, 

賴人傑以奠安。 

孟津之會鷹揚箬呂, 

濰水之戰國士如韓。 

惟此江之大捷, 

猶大王之賊閒。 

英風可想, 

口碑不刊。 

懷古人兮隕涕, 

臨江流兮厚顏。 

行且歌曰: 

大江兮滾滾, 

洪濤巨浪兮朝宗無盡。 

仁人兮聞名, 

匪人兮俱泯。 

客從而賡歌曰: 

二聖兮並明, 

就此江兮洗甲兵。 

胡塵不敢動兮,千古昇平。 

信知:不在關河之險兮, 

惟在懿德之莫京。


Phiên âm: Bạch Đằng giang phú

Khách hữu: 

Quải hạn mạn chi phong phàm, 

Thập hạo đãng chi hải nguyệt. 

Triêu dát huyền hề Nguyên, Tương, 

Mộ u thám hề Vũ Huyệt. 

Cửu Giang, Ngũ Hồ, 

Tam Ngô, Bách Việt. 

Nhân tích sở chí, 

Mị bất kinh duyệt. 

Hung thôn Vân Mộng giả sổ bách nhi, 

Tứ phương tráng chí do khuyết như dã. 

Nãi cử tiếp hề trung lưu, 

Túng Tử Trường chi viễn du. 

Thiệp Đại Than khẩu, 

Tố Đông Triều đầu. 

Để Bạch Đằng giang, 

Thị phiếm thị phù. 

Tiếp kình ba ư vô tế, 

Trám diêu vĩ chi tương mâu. 

Thuỷ thiên nhất sắc, 

Phong cảnh tam thu. 

Chử địch ngạn lô, 

Sắt sắt sâu sâu. 

Chiết kích trầm giang, 

Khô cốt doanh khâu. 

Thảm nhiên bất lạc, 

Trữ lập ngưng mâu. 

Niệm hào kiệt chi dĩ vãng, 

Thán tung tích chi không lưu. 

Giang biên phụ lão, 

Vị ngã hà cầu. 

Hoặc phù lê trượng, 

Hoặc trạo cô châu. 

Ấp dư nhi ngôn viết: 

"Thử Trùng Hưng nhị thánh cầm Ô Mã Nhi chi chiến địa, 

Dữ tích thời Ngô thị phá Lưu Hoằng Thao chi cố châu dã". 

Đương kỳ: 

Trục lô thiên lý, 

Tinh kỳ ỷ nỉ. 

Tỳ hưu lục quân, 

Binh nhẫn phong khỉ. 

Thư hùng vị quyết, 

Nam Bắc đối luỹ. 

Nhật nguyệt hôn hề vô quang, 

Thiên địa lẫm hề tương huỷ. 

Bỉ: 

Tất Liệt chi thế cường, 

Lưu Cung chi kế quỷ. 

Tự vị đầu tiên, 

Khả tảo Nam kỷ. 

Ký nhi: 

Hoàng thiên trợ thuận, 

Hung đồ phi mỵ. 

Mạnh Đức Xích Bích chi sư đàm tiếu phi hôi, 

Bồ Kiên Hợp Phì chi trận tu du tống tử. 

Chí kim giang lưu, 

Chung bất tuyết sỉ. 

Tái bạo chi công, 

Thiên cổ xưng mỹ. 

Tuy nhiên: 

Tự hữu vũ trụ, 

Cố hữu giang san. 

Tín thiên tạm chi thiết hiểm, 

Lại nhân kiệt dĩ điện an. 

Mạnh Tân chi hội ưng dương nhược Lã, 

Duy Thuỷ chi chiến quốc sĩ như Hàn. 

Duy thử giang chi đại tiệp, 

Do đại vương chi tặc nhàn. 

Anh phong khả tưởng, 

Khẩu bi bất san. 

Hoài cổ nhân hề vẫn thế, 

Lâm giang lưu hề hậu nhan. 

Hành thả ca viết: 

"Đại giang hề cổn cổn, 

Hồng đào cự lãng hề triều tông vô tận. 

Nhân nhân hề văn danh, 

Phỉ nhân hề câu dẫn". 

Khách tòng nhi canh ca viết: 

"Nhị thánh hề tịnh minh, 

Tựu thử giang hề tẩy giáp binh. 

Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng bình. 

Tín tri: bất tại quan hà chi hiểm hề, 

Duy tại ý đức chi mạc kinh".


Dịch nghĩa: Phú sông Bạch Đằng (Người dịch: Nguyễn Hữu Tiến, Bùi Văn Nguyên)

Khách có kẻ: 

Giương buồm giong gió chơi vơi, 

Lướt bể chơi trăng mải miết. 

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương, 

Chiều lần thăm chừ Vũ huyệt. 

Cửu Giang, Ngũ Hồ, 

Tam Ngô, Bách Việt. 

Nơi có người đi, 

Đâu mà chẳng biết. 

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều, 

Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết. 

Bèn giữa dòng chừ buông chèo, 

Học Tử Trường chừ thú tiêu dao. 

Qua cửa Đại Than, 

Ngược bến Đông Triều, 

Đến sông Bạch Đằng, 

Thuyền bơi một chiều. 

Bát ngát sóng kình muôn dặm, 

Thướt tha đuôi trĩ một màu. 

Nước trời một sắc, 

Phong cảnh ba thu. 

Bờ lau san sát, 

Bến lách đìu hiu 

Sông chìm giáo gãy, 

Gò đầy xương khô. 

Buồn vì cảnh thảm, 

Đứng lặng giờ lâu. 

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá, 

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu. 

Bên sông bô lão hỏi, 

Hỏi ý ta sở cầu. 

Có kẻ gậy lê chống trước, 

Có người thuyền nhẹ bơi sau. 

Vái ta mà thưa rằng: 

"Đây là chiến địa buổi trùng hưng nhị thánh bắt Ô Mã, 

Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao". 

Đương khi ấy: 

Thuyền tàu muôn đội, 

Tinh kì phấp phới. 

Hùng hổ sáu quân, 

Giáo gươm sáng chói. 

Trận đánh được thua chửa phân, 

Chiến luỹ bắc nam chống đối. 

Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, 

Bầu trời đất chừ sắp đổi. 

Kìa: 

Tất Liệt thế cường, 

Lưu Cung chước dối. 

Những tưởng gieo roi một lần, 

Quét sạch Nam bang bốn cõi. 

Thế nhưng: 

Trời cũng chiều người, 

Hung đồ hết lối 

Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay, 

Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi. 

Đến nay sông nước tuy chảy hoài, 

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi. 

Tái tạo công lao, 

Nghìn xưa ca ngợi. 

Tuy nhiên: 

Từ có vũ trụ, 

Đã có giang san. 

Quả là: trời đất cho nơi hiểm trở, 

Cũng nhờ: nhân tài giữ cuộc điện an! 

Hội nào bằng hội Mạnh Tân, có vương sư họ Lã, 

Trận nào bằng trận Duy Thuỷ, có quốc sĩ họ Hàn. 

Khi trận Bạch Đằng mà đại thắng, 

Bởi đại vương coi thế giặc nhàn. 

Tiếng thơm còn mãi, 

Bia miệng không mòn. 

Đến chơi sông chừ ủ mặt, 

Nhớ người xưa chừ lệ chan. 

Rồi vừa đi vừa ca rằng: 

"Sông Đằng một dải dài ghê, 

Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông. 

Những người bất nghĩa tiêu vong, 

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!" 

Khách cũng nối tiếp mà ca rằng: 

"Anh minh hai vị thánh quân, 

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh. 

Giặc tan muôn thuở thanh bình, 

Bởi đâu thoát hiểm cốt mình đức cao."
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương