TrưỜng đẠi học an giang


TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN



tải về 1.4 Mb.
trang6/11
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.4 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

1. Thơ văn Lý - Trần, Viện Văn học. I.II (thượng), III, Nxb. KHXH.

2. Lê Quý Đôn. Kiến văn tiểu lục. Nxb. Khoa học xã hội, HN, 1977.

3. Phạm Đình Hổ. Vũ trung tùy bút. Nxb. Trẻ, 1989.

4. Phạm Văn Khoái: "Một vài nét khác biệt về ngôn ngữ (ngữ pháp) giữa hai nhóm văn bản Hán văn trong Thơ văn Lý - Trần (tập I)" Tạp chí Hán Nôm số 3 (28)-1996.
1. Nam Quốc sơn hà南國山河 Lí Thường Kiệt李常傑

a. Tiểu sử tác giả

Lý Thường Kiệt 李常傑 (1019-1105) tên thật là Ngô Tuấn, Thường Kiệt là tên tự, sau được ban quốc tính họ Lý, bèn lấy tên tự làm tên, thành tên Lý Thường Kiệt, khi chết có tên thuỵ là Quảng Châu. Theo các sử sách cũ thì ông quê ở phường Thái Hoà, thành Thăng Long, nhưng theo bài văn khắc trên quả chuông chùa BắcBiên, mới phát hiện ở gần Hà Nội và cuốn Tây Hồ chí thì ông người làng An Xá cũ, thuộc huyện Quảng Đức, ở khu vực phía Nam hồ Tây trong thành Thăng Long, còn Thái Hoà chỉ là nơi ở sau khi đã giữ chức vụ trọng yếu trong triều. Sau vì việc mở rộng kinh thành nên làng An Xá dời ra bãi Cơ Xá, tên cũ của xã Phúc Xá (và trong đó có thôn Bắc Biên ngày nay). Ông sinh năm 1019 và mất tháng Sáu năm Ất dậu (từ 13 tháng Bảy đến 11 tháng Tám năm 1105). 

Gia đình ông nối đời làm quan, nhiều mưu lược, có tài làm tướng. Khi còn ít tuổi, vì vẻ mặt tươi đẹp được sung làm Hoàng môn chi hậu, là thái giám theo hầu Lý Thái Tông, thăng dần đến chức Nội thị sảnh đô tri. Lý Thánh Tông phong chức Thái bảo, trao cho tiết việt để đi thăm hỏi lại dân ở Thanh Hoá, Nghệ An. Tháng 2 năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông thân đi đánh Chiêm Thành, ông làm tướng tiên phong, bắt được vua Chiêm là Chế Củ (Rudravarman 4). 

Năm 1075, Vương An Thạch cầm quyền chính nhà Tống, tâu với vua Tống là Đại Việt bị Chiêm Thành đánh phá, quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được. Vua Tống sai Thẩm Khởi, và Lưu Di làm tri Quế Châu ngầm dấy binh người Man động, đóng thuyền bè, tập thuỷ chiến, cấm các châu huyện không được mua bán với Đại Việt. Vua biết tin, sai ông và Tông Đản đem hơn 10 vạn binh đi đánh. Quân thuỷ, quân bộ đều tiến. Ông đánh các châu Khâm, Liêm; Tông Đản vây châu Ung. Đô giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Lý Thường Kiệt đón đánh ở cửa ải Côn Lôn (nay là thành phố Nam Ninh, khu tự trị Quảng Tây) phá tan được, chém Trương Thủ Tiết tại trận. Tri Ung châu là Tô Giám cố thủ không hàng. Quân Đại Việt đánh đến hơn 40 ngày, chồng bao đất trèo lên thành. Thành bị hạ. Tô Giám tự đốt chết. Người trong thành không chịu hàng, giết hết hơn 58.000 người, cộng với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến hơn 100.000. Lý Thường Kiệt bắt sống người ba châu ấy đem về. Năm 1076, mùa xuân, tháng 3, nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9 tướng, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn Đại Việt. Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt đánh tan được. Quân Tống chết hơn 1.000 người.

Ông còn 2 lần trực tiếp đi đánh Chiêm Thành vào các năm 1075 và 1104. Năm 1104, vua Chiêm Thành là Chế Ma Na (Jaya Indravarman 2, 1086-1113) đem quân vào cướp, lấy lại 3 châu Địa Lý v.v... mà vua Chế Củ đã dâng. Đến đây, Lý Thường Kiệt đi đánh, phá được, Chế Ma Na lại dâng nộp đất ấy. 

Vì có công, ông được ban quốc tính (mang họ vua) và phong làm Phụ quốc thái phó, dao thụ chư trấn tiết độ, đồng trung thư môn hạ, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, phụ quốc thượng tướng quân, tước Khai quốc công, sau lại có công nữa, được phong làm Thái uý. 

Năm 1105 mùa hạ, tháng 6, Thái uý Lý Thường Kiệt chết, tặng chức Nhập nội điện đô tri kiểm hiệu thái uý bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công, thực ấp 1 vạn hộ, cho người em là Lý Thường Hiến được kế phong tước hầu. 

Tác phẩm hiện còn một bài thơ thất tuyệt, một bài Lộ bố văn, và một lời cầu xin vua cho cầm quân đi đánh Lý Giác.



b. Tác phẩm:


南國山河

南國山河南帝居,

截然定分在天書。

如何逆虜來侵犯,

汝等行看取敗虛。

Phiên âm: Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch nghĩa: Sông núi nước Nam

Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,

Cương giới đã ghi rành rành ở trên sách trời.

Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?

Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong.


Chú thích:

Vào năm 1077, hơn 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược Đại Việt (Việt Nam). Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến tại sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chặn địch. Quân của Quách Quỳ đánh đến sông Như Nguyệt thì bị chặn. Nhiều trận quyết chiến ác liệt đã xảy ra tại đây nhưng quân Tống không sao vượt được phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở phía nam bờ sông Như Nguyệt, giả làm thần đọc vang bài thơ trên. Nhờ thế tinh thần binh sĩ lên rất cao. Lý Thường Kiệt liền cho quân vượt sông, tổ chức một trận quyết chiến, đánh thẳng vào trại giặc. Phần vì bất ngờ, phần vì sĩ khí quân Việt đang lên, quân Tống chống đỡ yếu ớt, số bị chết, bị thương đã hơn quá nửa. Lý Thường Kiệt liền cho người sang nghị hòa, mở đường cho quân Tống rút quân về nước, giành lại giang sơn, giữ vững bờ cõi Đại Việt. 

Thiên thư mà bài thơ này nhắc đến chính là sách "Thượng thư" hay "Kinh thư" (là bản "Thượng thư" mà Khổng Tử đã san định). Trong "Thượng thư đại truyện" có kể về Việt Thường Thị giao hảo với nhà Chu, cống chim Trĩ. 

Tiền nhân Việt Nam từ đó khẳng định Việt và Hoa là hai xứ khác nhau, hai đất nước khác nhau. Tuy nhiên bài thơ này chưa nêu bật được tinh thần quốc gia, mà chỉ mới xem Nam quốc sơn hà là của Nam đế. Nhưng bất luận thế nào thì bài thơ cũng được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam.
2. Thuật hoài述懷 Phạm Ngũ Lão范五老

a. Tiểu sử tác giả

Phạm Ngũ Lão 范五老 sinh năm Ất Mão (1255), tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là Ân Thi, Hưng Yên, mất năm Canh Thân (1320), thọ 65 tuổi. Khi Phạm Ngũ lão mất, Vua Trần Minh Tông vô cùng thương tiếc thương tiếc nên nghỉ chầu đến năm ngày. Đó là một ân điển đặc biệt mà đương thời, ngay cả quý tộc họ Trần cũng không mấy ai có được. Về việc Phạm Ngũ Lão được hưởng ân huệ đặc biệt này, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" (bản kỷ, quyển 6, tờ 38 a - b) chép rằng: "Ngũ Lão xuất thân trong hàng quân ngũ nhưng rất thích đọc sách, sống phóng khoáng, có chí lớn thích ngâm thơ, xem qua có vẻ như không để ý đến việc võ bị nhưng quân do ông chỉ huy thực là đội quân trên dưới như cha con, hễ đánh là thắng". 

Ông là danh tướng giỏi của triều Trần, là chỗ dựa tin cậy của 3 triều vua nhà Trần. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên lần thứ hai (1285-1287) và lần thứ ba (1288) ông lập được nhiều chiến công lớn tại các trận: Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, Nội Bàng, Lạng Sơn... Từ năm 1294 đến 1318, Phạm Ngũ Lão đã bốn lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao, hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành, buộc vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng. Năm 1302, nghịch thần Biếm nổi lên chống lại triều đình, cũng bị Phạm Ngũ Lão đập tan. 

Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho ông cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu. 

Không chỉ có tài về quân sự, mà còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước. Hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài là Thuật Hoài (Tỏ Lòng) và Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương).

b. Tác phẩm:


述懷

橫槊江山恰幾秋,

三軍貔虎氣吞牛。

男兒未了功名債,

羞聽人間說武侯。

Phiên âm: Thuật hoài

Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

Dịch nghĩa: Tỏ lòng

Cắp ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu,

Ba quân như gấu hổ, át cả sao Ngưu Đẩu.

Thân nam nhi nếu chưa trả xong nợ công danh,

Ắt thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu.


3. Thiên đô chiếu遷都詔 Lí Thái Tổ李太祖

a. Tiểu sử tác giả

Lý Thái Tổ 李太祖 (974-1028), tên huý là Lý Công Uẩn 李公蘊, là vị vua đầu tiên (1010-1028) của triều đại nhà Lý trong Lịch sử Việt Nam. Ông người làng Cổ Pháp, nay thuộc về huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay ở làng Đình Bảng có lăng và đền thờ nhà Lý). 

Tục truyền rằng Công Uẩn không có cha, mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiêu Sơn (làng Tiêu Sơn, phủ Từ Sơn), nằm mộng thấy đi lại với thần nhân rồi về có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi đem cho người sư ở chùa Cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi, mới đặt tên là Lý Công Uẩn. 

Phần chú của Việt Sử Lược ghi: Theo sách Mộng Kê Bút Đàm của Thẩm Hoạt đời Tống thì Lý Công Uẩn gốc là người Mân (Phúc Kiến). Tiến sĩ Từ Bá Tường, người Quảng Tây, nhà Tống trong thư gửi cho Công Uẩn cũng nói: "Tiên thế đại vương vốn là người đất Mân. Tôi nghe nói công khanh ở Giao Chỉ cũng nhiều người đất Mân". 

Công Uẩn lớn lên vào Hoa Lư làm quan nhà Tiền Lê, đến chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ. Năm 1010, vua Lê Long Đĩnh mất, thì Lý Công Uẩn đã ngoài 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm, ở trong triều có bọn Đào Cam Mộc cùng với sư Vạn Hạnh mưu tôn Công Uẩn lên làm vua. Khi Lê Ngọa Triều (1006-1009) chết, ông lên làm vua (năm 1009), tức Lý Thái Tổ, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, và quyết định dời đô ra thành Đại La. Nhân sự kiện có ý nghĩa đó, ông để lại được cho đời sau một áng văn, đó là bài "Thiên đô chiếu". 

Ngoài ra, một số sách có nhắc đến bài thơ thất tuyệt "Tức sự" và quyển "Hoàng triều ngọc diệp". Nhưng căn cứ vào tài liệu lịch sử, "Hoàng triều ngọc diệp" là tác phẩm do quần thần biên soạn theo lệnh của Lý Thái Tổ, hiện đã mất, còn bài "Tức sự" chỉ là một bài thơ mượn của Trung Quốc.



b. Tác phẩm:

遷都詔

昔商家至盤庚五遷,周室迨成王三徙。豈三代之數君徇于己私,妄自遷徙。以其圖大宅中,為億萬世子孫之計,上謹天命,下因民志,苟有便輒改。故國祚延長,風俗富阜。而丁黎二家,乃徇己私,忽天命,罔蹈商周之跡,常安厥邑于茲,致世代弗長,算數短促,百姓耗損,萬物失宜。朕甚痛之,不得不徙。 

況高王故都大羅城,宅天地區域之中,得龍蟠虎踞之勢。正南北東西之位,便江山向背之宜。其地廣而坦平,厥土高而爽塏。民居蔑昏墊之困,萬物極繁阜之丰。遍覽越邦,斯為勝地。誠四方輻輳之要會,為萬世帝王之上都。 

朕欲因此地利以定厥居,卿等如何?

Phiên âm: Thiên đô chiếu

Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ. 

Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bội chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô. 

Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?

Dịch nghĩa: Chiếu dời đô

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô. Há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự tiện di dời. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. 

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. 

Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?
4. Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn答國王國祚之問 - Đỗ Pháp Thuận杜法順

a. Tiểu sử tác giả:

Pháp Thuận thiền sư 法順禪師 (915-990) họ Ðỗ 杜, không rõ tên thật và quê quán, thuộc thế hệ thứ mười dòng thiền Nam Phương. Xuất gia từ nhỏ, thờ thiền sư Phù Trì chùa Long Thọ làm thầy. Ðắc pháp, nói ra lời nào cũng hợp với sấm ngữ. Sư học rộng, có tài, hiểu rõ việc nước, đang lúc nhà Tiền Lê mới dựng nghiệp, giúp vua trù kế hoạch, định sách lược. Ðến khi thiên hạ thái bình, sư không nhận phong thưởng. Vua Lê Ðại Hành kính trọng, chỉ gọi là Ðỗ Pháp Sư, không gọi tên, đem mọi việc văn thư giao phó. Cùng với sư Khuông Việt, Pháp Thuận là cố vấn của triều Tiền Lê, có lần cùng với sư Khuông Việt, được cử tiếp đón sứ thần nhà Tống là Lý Giác. Tài ứng đối làm Lý Giác ngạc nhiên và kính phục. Vua Lê Ðại Hành thường đem vận mệnh nước nhà hỏi sư và trên đây là một bài thơ đáp.



b. Tác phẩm:

答國王國祚之問

國祚如藤絡,

南天裏太平。

無為居殿閣,

處處息刀兵。
Phiên âm: Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn

Quốc tộ như đằng lạc,

Nam thiên lý thái bình.

Vô vi cư điện các,

Xứ xứ tức đao binh.

Dịch nghĩa: Trả lời quốc vương hỏi về vận nước

Vận nước như dây leo quấn quít,

Trời Nam mở nền thái bình.

Hãy dùng phép Vô vi ở nơi cung đình,

Thì mọi chốn đều dứt hết đao binh.


5. Cáo tật thị chúng告疾示眾– Thiền sư Mãn Giác滿覺禪師

a. Tiểu sử tác giả:

Mãn Giác thiền sư 滿覺禪師 (1052-1096) tên thật là Lý Trường 李長, người đất Lũng Triền, hương An Cách, con viên Trung thư ngoại lang Lý Hoài Tố, là người ham học, thông hiểu cả Nho và Phật. Nhờ sớm nổi tiếng nên trước khi đi tu, ông đã được Lý Nhân Tông (1072-1128) tuyển vào cung và đặt tên cho là Hoài Tín. Sau khi đi tu, ông đi khắp mọi nơi tìm bạn. Đến đâu cũng có đông học trò, trở thành một nhân vật nổi tiếng trong thế hệ thứ tám dòng thiền Quan Bích. 

Vua Lý Nhân Tông và hoàng hậu rất trọng đãi ông, cho làm một ngôi chùa ở bên cạnh cung Cảnh Hưng, mời ông đến ở, để tiện hỏi han về đạo Phật và bàn bạc việc nước. Vua còn phong ông làm Nhập nội đạo tràng. 

Ông mất ngày 30 tháng Mười một năm Bính Tý, niên hiệu Hội Phong thứ năm (tức ngày 17 tháng Mười hai năm 1096); thọ 45 tuổi. Sau khi mất vua đặt hiệu cho là Mãn Giác. Tác phẩm còn lại một bài kệ. 



b. Tác phẩm:

告疾示眾

春去百花落,

春到百花開。

事逐眼前過,

老從頭上來。

莫謂春殘花落盡,

庭前昨夜一枝梅。
Phiên âm: Cáo tật thị chúng

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dịch nghĩa: Cáo bệnh, bảo mọi người

Xuân đi, trăm hoa rụng,

Xuân đến, trăm hoa nở.

Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt,

Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu.

Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết,

Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân.


6. Quy hứng歸興 - Nguyễn Trung Ngạn阮忠彥

a. Tiểu sử tác giả

Nguyễn Trung Ngạn 阮忠彥 (1289–1370) tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, sinh tại làng Thọ Hoàng, huyện Thiên Thi, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Trung Ngạn từ nhỏ đã thông minh xuất chúng, nổi tiếng thần đồng. Năm 15 tuổi (1304) ông đã đỗ hoàng giáp đời vua Trần Anh Tông, có trong tay bằng tiến sĩ (cùng khoa với Mạc Ðĩnh Chi), năm 24 tuổi được làm Giám quân, năm 28 tuổi đi sứ nhà Nguyên. Tính ông cương trực, tài kim văn võ, có nhiều đóng góp cho công việc xây dựng và bảo vệ đất nước lúc bấy giờ. Ông phò tá Vua Trần Minh Tông trong các chiến dịch bình định vùng Đà Giang và dẹp loạn ở Lào. Trong cuộc đời làm quan qua năm đời vua triều Trần, ông từng được phong Đại học sĩ Trụ quốc Hướng huyện bá, Thiếu bảo Khai quốc nội hầu,... cuối cùng làm đến chức Ðại hành khiển tước Thân quốc công, thọ 82 tuổi. 

Ông là một nhà thơ lỗi lạc với nhiều bài thơ được tuyển chọn trong các tuyển tập thơ sau này, đồng thời cũng là một nhà thông thái về pháp luật. Ông và Trương Hán Siêu biên soạn bộ "Hoàng triều đại điển", bộ luật "Hình thư". Chữ Hán của Nguyễn Trung Ngạn đánh dấu một thời điểm mà trong đó Nho học đã giành những vị trí mới trong công việc quản lý đất nước và chấp chính ở triều đình. 

Về văn, theo lời giới thiệu về ông trong "Toàn Việt thi lục" của Lê Quý Đôn, ông từng cùng Trương Hán Siêu soạn bộ "Hoàng triều đại điển", khảo soạn "Hình thư"; về thơ, ông viết rất nhiều, "Toàn Việt thi lục" chép được 84 bài.



b. Tác phẩm:

歸興

老桑葉落蠶方盡, 

早稻花香蟹正肥。 

見說在家貧亦好, 

江南雖樂不如歸。

Phiên âm: Quy hứng

Lão tang diệp lạc tàm phương tận, 

Tảo đạo hoa hương giải chính phì. 

Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo, 

Giang Nam tuy lạc bất như quy.

Dịch nghĩa: Cảm hứng trở về

Dâu già lá rụng tằm vừa chín, 

Lúa sớm nở hoa thơm, cua đang lúc béo. 

Nghe nói ở nhà, dẫu nghèo vẫn tốt, 

Đất Giang Nam tuy vui cũng chẳng bằng về nhà.




7. Dụ chư tì tướng hịch văn諭諸裨將檄文 – Trần Hưng Đạo陳國峻

a. Tiểu sử tác giả

Trần Quốc Tuấn 陳國峻 (1232-1300) hiệu Hưng Đạo 興道, là con An sinh vương Trần Liễu, cháu gọi Trần Thái Tông bằng chú, người hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, được phong ấp ở hương Vạn Kiếp, thuộc huyện Chí Linh, châu Nam sách, lộ Lạng Giang. Sinh khoảng 1232. 

Theo truyền thuyết, từ nhỏ Trần Quốc Tuấn đã ham thích trò chơi đánh trận, sáu tuổi biết làm thơ. Lớn lên, học vấn rất uyên bác, vừa giỏi văn chương vừa hiểu thấu lục thao tam lược, cưỡi ngựa, bắn cung đều thành thạo. Năm 1257, quân Nguyên sang xâm lược nước ta lần đầu, ông được cử cầm quân giữ biên thuỳ phía Bắc. Ba chục năm sau, trong hai cuộc kháng chiến chông Nguyên Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287-88), ông lại được đè bạt làm tiết chế thông lĩnh toàn quân và đã giành thắng lợi lẫy lừng. 

Là một vị tướng tài kiêm văn võ, biết đánh giá đúng vai trò quan trọng của dân - nền tảng của xã tắc - và của quân - lông cánh của chim hồng chim hộc - Trần Hưng Đạo đã biết đề ra một đường lối quân sự ưu việt, có tính chất nhân dân, mà tiêu biểu là hai cuộc rut lui chiến lược khỏi Kinh thành Thăng Long, tránh cho nhà Trần những tổn thất lớn, và tạo thời cơ bẻ gãy lực lượng của địch. Những kế hoạch làm vườn không nhà trông trên hắp các nẻo đường mà giặc đi qua, những hoạt động phối hợp nhịp nhàng giữa hương binh và quân đội chính quy của nhà nước, những trận phục kích lừng danh như trận Bạch Đằng đã làm cho tên tuổi của ông sống mãi. Ngay đến kẻ thù cũng phải nhắc đến mấy chữ Hưng đạo vương với niềm kính trọng. 

Bên cạnh tư tưởng quân sự đột xuất, Trần Quốc Tuấn còn nêu một tấm gương về lòng trung nghĩa sáng suốt, biết gạt bỏ mọi hiềm khích riêng để đoàn kết các tôn thất và tướng tá trong triều nhằm phò vua giúp nước, đánh bại kẻ thù. Sử sách từng ghi lại câu nói nổi tiếng của ông với vua Trần Thánh Tông, khi đát nước đang lâm vào tình thế nghìn cân treo sợi tóc: "Xin bệ hạ hãy chém đầu tôi trước rồi sau sẽ hàng". Cho đến trước khi chết ông vẫn ân cần dặn vua Trần Anh Tông trong mọi chính sách của nhà nước phong kiến phải biết "nới sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc". Ông không những là một công thần của nhà Trần mà còn là một anh hùng lớn của dân tộc. 

Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng Tám năm Canh tý (3-9-1300) tại nhà riêng ở Vạn Kiếp. Sau khi mất, ông được triều đình phong tặng Thái sư thượng phụ thượng quốc công, nhân võ Hưng Đạo đại vương. 

Tác phẩm: theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Trần Quốc Tuấn có soạn Binh gia diệu lý yếu lược (còn gọi là binh thư yếu lược) và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, nhưng văn bản nay đều đã gần như thất lạc. Tác phẩm thứ ba duy nhất còn giữ được của ông là bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn, vẫn quen gọi là Hịch tướng sĩ. Đây là bài hịch viết vào khoảng trước cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, nhằm kêu gọi tướng sĩ chăm lo luyện tập và nghiên cứu binh thư để kịp thời đối phó với âm mưu xâm lược của giặc. Bài hịch chứng tỏ tài năng văn chương trác luyện và nhiệt tình yêu nước cháy bỏng của Trần Quốc Tuấn. 

Ngoài các tác phẩm trên, Trần Quốc Tuấn cũng để lại nhiều lời nói có ý nghĩa khuyên răn hay triết lý, được nhắc nhở và ghi chép như những huấn dụ quý báu đối với người năm vận mệnh xã tắc qua nhiều thời đại. 



b. Tác phẩm:

諭諸裨將檄文

余常聞之 

紀信以身代死而脫高帝 

由于以背受戈而蔽招王 

蓣讓吞炭而復主讎 

申蒯断臂而赴國難 

敬德一小生也身翼太宗而得免世充之圍 

杲卿一遠臣也口罵禄山而不從逆賊之計 

自古忠臣義士以身死國何代無之 

設使數子區區為兒女子之態 

徒死牖下烏能名垂竹白 

與天地相為不朽哉 
汝等 

世為將種不曉文義 

其聞其說疑信相半 

古先之事姑置勿論 

今余以宋韃之事言之 

王公堅何人也 

其裨將阮文立又何人也 

以釣魚鎖鎖斗大之城 

當蒙哥堂堂百萬之鋒 

使宋之生靈至今受賜 

骨待兀郎何人也 

其裨將赤脩思又何人也 

冒瘴厲於萬里之途 

獗南詔於數旬之頃 

使韃之君長至今留名 

況余與汝等生於擾攘之秋 

長於艱難之勢 

竊見偽使往來道途旁午 

掉鴞烏之寸舌而陵辱朝廷 

委犬羊之尺軀而倨傲宰祔 

托忽必列之令而索玉帛以事無已之誅求 

假雲南王之號而揫金銀以竭有限之傥庫 

譬猶以肉投餒虎寧能免遺後患也哉 
余常 

臨餐忘食中夜撫枕 

涕泗交痍心腹如搗 

常以未能食肉寢皮絮肝飲血為恨也 

雖 

余之百身高於草野 

余之千屍裹於馬革 

亦願為之 
汝等 

久居門下掌握兵權 

無衣者則衣之以衣 

無食者則食之以食 

官卑者則遷其爵 

祿薄者則給其俸 

水行給舟陸行給馬 

委之以兵則生死同其所為 

進之在寢則笑語同其所樂 

其是 

公堅之為偏裨兀郎之為副貳亦未下爾 


汝等 

坐視主辱曾不為憂 

身當國恥曾不為愧 

為邦國之將侍立夷宿而無忿心 

聽太常之樂宴饗偽使而無怒色 

或鬥雞以為樂或賭博以為娛 

或事田園以養其家 

或戀妻子以私於己 

修生產之業而忘軍國之務 

恣田獵之遊而怠攻守之習 

或甘美酒或嗜淫聲 

脱有蒙韃之寇來 

雄雞之距不足以穿虜甲 

賭博之術不足以施軍謀 

田園之富不足以贖千金之軀 

妻拏之累不足以充軍國之用 

生產之多不足以購虜首 

獵犬之力不足以驅賊眾 

美酒不足以沈虜軍 

淫聲不足以聾虜耳 

當此之時我家臣主就縛甚可痛哉 

不唯余之采邑被削 

而汝等之俸祿亦為他人之所有 

不唯余之家小被驅 

而汝等之妻拏亦為他人之所虜 

不唯余之祖宗社稷為他人之所踐侵 

而汝等之父母墳墓亦為他人之所發掘 

不唯余之今生受辱雖百世之下臭名難洗惡謚長存 

而汝等之家清亦不免名為敗將矣 

當此之時汝等雖欲肆其娛樂 

得乎 

今余明告汝等 

當以措火積薪為危 

當以懲羹吹虀為戒 

訓練士卒習爾弓矢 

使 

人人逄蒙家家后羿 

購必烈之頭於闕下 

朽雲南之肉於杲街 

不唯余之采邑永為青氈 

而汝等之俸祿亦終身之受賜 

不唯余之家小安床褥 

而汝等之妻拏亦百年之佳老 

不唯余之宗廟萬世享祀 

而汝等之祖父亦春秋之血食 

不唯余之今生得志 

而汝等百世之下芳名不朽 

不唯余之美謚永垂 

而汝等之姓名亦遺芳於青史矣 

當此之時汝等雖欲不為娛樂 

得乎 

今余歷選諸家兵法為一書名曰兵書要略 

汝等 

或能專習是書受余教誨是夙世之臣主也 

或暴棄是書違余教誨是夙世之仇讎也 
何則 

蒙韃乃不共戴天之讎 

汝等記恬然不以雪恥為念不以除凶為心 

而又不教士卒是倒戈迎降空拳受敵 

使平虜之後萬世遺羞 

上有何面目立於天地覆載之間耶 
故欲汝等明知余心因筆以檄云
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương