TrưỜng đẠi học an giang



tải về 1.4 Mb.
trang5/11
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.4 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

2. CẤU TRÚC CƠ BẢN


2.1. Câu đơn

2.1.1. Câu phán đoán

 a/ «... 者, ... 也 ».

Thí dụ: Liêm Pha giả, Triệu chi lương tướng dã. 廉頗者, 趙之良將也 (Liêm Pha là tướng giỏi của nước Triệu.)

Biến thể: Hoặc lược bỏ 者 và 也. Thí dụ: Tuân Khanh, Triệu nhân. 荀卿, 趙人 (Tuân Khanh là người nước Triệu.) = Tuân Khanh giả, Triệu nhân dã. 荀卿者, 趙也.

 b/ «... 也 ».

Thí dụ: Thử Đông Hải dã. 此東海也 (Đây là Đông Hải.)

c/ «... 為 ... ».

Thí dụ: Dân vi quý, quân vi khinh. 民為貴,君為輕 (Dân thì quý, vua thì nhẹ.)

d/ «... 曰 ... ».

Thí dụ: Ấu nhi vô phụ viết cô. 幼而無父曰孤 (Nhỏ dại không cha gọi là mồ côi.)

e/ «... 是 ... ».

Thí dụ: Cự thị phàm nhân. 巨是凡人 (Cự là kẻ tầm thường.)

f/ «... 則 ... ».

Thí dụ: Thử tắc Nhạc Dương Lâu chi đại quan dã. 此則岳陽樓之大觀也 (Chỗ này ắt là nơi có thể quan sát rộng khắp của lầu Nhạc Dương.)

g/ «... 即 ... ».

Thí dụ: Lương phụ tức Sở tướng Hạng Yến. 梁父即楚將項燕 (Cha của Lương tức là tướng Hạng Yến của nước Sở.)

h/ «... 乃 ... ».

 Thí dụ: Đương lập giả nãi công tử Phù Tô. 當立者乃公子扶蘇 (Người đáng lập là công tử Phù Tô.)

i/ «... 非 ... ».

Thí dụ: Nhân phi thảo mộc. 人非草木 (Người đâu phải là cây cỏ.)

j/ «... 匪 ... ».

Thí dụ: Ngã tâm phỉ thạch. 我心匪石 (Lòng ta nào phải là đá.)

2.1.2. Câu trần thuật

 

a/ «Chủ ngữ + động từ».

Thí dụ: Hạng Vương nộ. 項王怒 (Hạng Vương nổi giận.)

 b/ «Chủ ngữ + động từ+ tân ngữ».

Thí dụ: Điền Trung hữu châu. 田中有珠 (Điền Trung có ngọc châu.)

c/ «Chủ ngữ + động từ+ tân ngữ gián tiếp (: người) + tân ngữ trực tiếp (: vật)».

Thí dụ: Từ giả tứ kỳ xá nhân chi tửu. 祠者賜其舍人卮酒 (Người cúng tế tặng cho môn khách của mình một nậm rượu.)



d/ «Chủ ngữ + động từ 1+ kiêm ngữ + động từ 2 + tân ngữ». (Kiêm ngữ = thành phần vừa là tân ngữ của động từ 1 vừa là chủ ngữ động từ 2.)

Thí dụ: Đế mệnh Khoa Nga thị nhị tử phụ nhị sơn. 帝命夸娥氏二子負二山 (Vua ra lệnh hai con của Khoa Nga vác hai quả núi.) – Tần vương bái Lý Tư vi khách khanh. 秦王拜李斯為客卿 (Vua Tần cho Lý Tư làm khách khanh.)



e/ «Chủ ngữ + động từ 1+ tân ngữ 1 + + động từ 2 + tân ngữ 2».

Thí dụ: Tống nhân / thích kỳ lỗi / nhi / thủ chu. 宋人 釋其耒 而 守株 (Người nước Tống đã vất bỏ cày của mình mà ôm gốc cây.)

 f/ «Chủ ngữ + 不如 (=不若) + tân ngữ».

Thí dụ: Từ Công / bất nhược / quân chi mỹ. 徐公 不若 君之美 (Từ Công không đẹp như ngài.)

 g/ «cấu trúc bị động».

Xem lại các thí dụ ở mục IX trên đây.

2.1.3. Câu miêu tả

a/ «Chủ ngữ + tính từ».

 Thí dụ: Tấn cường. 晉強 (Nước Tấn mạnh.)



b/ «Chủ ngữ + tính từ 1 + + tính từ 2».

Thí dụ: Vệ nhược nhi bần. 衛弱而貧 (Nước Vệ yếu và nghèo.)



c/ «Chủ ngữ + tính từ 1 + + tính từ 2».

Thí dụ: Lão nông chi thê tật thả hãn. 老農之妻嫉且悍 (Vợ lão nông phu kia đã ghen ghét mà còn hung dữ.)



d/ «Chủ ngữ + số từ».

Thí dụ: Hậu cung giai lệ tam thiên. 後宮佳麗三千(Người đẹp trong hậu cung có 3000 người.)



2.1.4. Câu hỏi

a/ «Chủ ngữ + danh từ + ».

 Thí dụ: Phu tử thánh giả dư? 夫子聖者歟 (Phu tử là bậc thánh chăng?)



b/ « (= ) + ...».

Thí dụ: Thục năng vô hoặc? 孰能無惑 (Ai mà không có điều nghi hoặc?)



c/ « A B+ + tính từ» = « A 孰與 B + tính từ».

 Thí dụ: Ngô dữ Từ Công thục mỹ ? 吾與徐公孰美 [= Ngô thục dữ Từ Công mỹ? 吾孰與徐公美] (Ta với Từ Công ai đẹp hơn?)



d/ «... 何也 ».

Thí dụ: Kim tử hữu ưu sắc, hà dã? 今子有憂色, 何也 (Nay ngài có vẻ lo âu, sao thế?)



e/ «Chủ ngữ + 不亦 + tính từ + ».

 Thí dụ: Hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc duyệt hồ? 有朋自遠方來不亦說乎 (Có bạn từ phương xa đến chẳng là vui sao?)



f/ « ».

Thí dụ: Khởi hữu thử lý? 豈有此理 (Lẽ nào có cái lý ấy?)



g/ « ».

Thí dụ: Hồ bất quy? 胡不歸 (Sao chẳng quay về đi?)



h/ « ».

Thí dụ: Ngô an vãng nhi bất lạc? 吾安往而不樂 (Ta đi đâu mà chẳng thấy vui?) – Binh bần dân khổ, ngô an khả độc lạc? 兵貧民苦吾安可獨樂 (Binh nghèo dân khổ, làm sao ta có thể vui sướng riêng một mình cho được?)



i/ « ».

 Thí dụ: Hạp các ngôn nhĩ chí? 盍各言爾志 (Mỗi người trong các anh sao chẳng nói lên chí hướng của mình đi?)



2.1.5. Câu phủ định

a/ « / + động từ/tính từ ».

 Thí dụ: Đắc chi tắc sinh, phất đắc tắc tử. 得之則生弗得則死 (Được nó thì sống, không được nó thì chết.)



Chú ý: «Bất» và «phất» dùng thông với nhau. Kể từ đời Hán Chiêu Đế 漢昭帝 (Lưu Phất Lăng 劉弗陵, 86-74 tcn), do kỵ huý, «phất» bị thay thế bằng «bất».

b/ « / / / / » (ngăn cản/cấm đoán).

Thí dụ: Đại vô xâm tiểu. 大毋侵小 (Nước lớn chớ xâm lược nước nhỏ.) – Vô vọng ngôn. 毋妄言 (Chớ nói càn.) – Khuyến quân hưu thán hận. 勸君休嘆恨 (Xin ông đừng than thở oán hận.) – Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ. 莫愁前路無知己 (Chớ buồn nẻo trước không tri kỷ.) – Dĩ vãng sự vậttruy tư, vị lai sự vật nghinh tưởng, hiện tại sự vật lưu niệm. 已往事勿追思, 未來事勿迎想, 現在事勿留念 (Việc đã qua chớ truy cứu nữa, chuyện mai sau chớ đón trước mà nghĩ ngợi; việc hiện tại chớ lưu lại làm kỷ niệm.).



c/ « / 未嘗 ... » (chưa/ chưa từng).

 Thí dụ: Kiến ngưu vị kiến dương dã. 見牛未見羊也 (Anh đã thấy trâu chứ chưa thấy dê.)



d/ « / + danh từ ».

Thí dụ: Tử phi ngư an tri ngư chi lạc? 子非魚安知魚之樂 (Ông chẳng phải là cá, sao biết được niềm vui của cá?)



e/ « ».

Thí dụ: Nhân giai hữu huynh đệ, ngã độc vong. 人皆有兄弟我獨亡 (Ai cũng có anh em, riêng ta thì không.) – Vấn hữu dư, viết vong hĩ. 問有餘曰亡矣 (Hỏi có dư không, thì trả lời là không.)



f/ « ».

Thí dụ: Phàm thử ẩm tửu, hoặc túy hoặc phủ. 凡此飲酒或醉或否 (Lần đó uống rượu, có người say, có người không say.) – Như thử tắc động tâm phủ hồ? 如此則動心否乎 (Nếu thế nó có làm động tâm của ngài không?) – Tri khả phủ, tri dã. 知可否知也 (Biết điều có thể và điều không thể, đó là biết vậy.)



f/ « ».

Thí dụ: Thiên mệnh mỵ thường. 天命靡常 (Mệnh trời không cố định.)



2.1.6. Câu cầu khiến

a/ Câu phát biểu ngụ ý cầu khiến:

Thí dụ: Tử vị ngã vấn Mạnh Tử. 子為我問孟子 (Xin ngài hỏi Mạnh Tử giùm tôi.)



b/ « ... ».

Thí dụ: Vương thỉnh độ chi. 王請度之 (Xin nhà vua hãy đo đạc nó.) «Thỉnh» có thể đi với ngôi thứ nhất: Thần thỉnh vị vương ngôn nhạc. 臣請為王言樂 (Cho phép thần vì bệ hạ mà nói về âm nhạc.)



c/ Dùng « / / / / » để tỏ sự ngăn cản / cấm đoán.

(Xem các thí dụ ở mục 5b ngay trên đây.)

 2.2. Câu phức

2.2.1. Câu ghép:

Ghép hai câu đồng đẳng (ngang hàng), ngụ ý «và», «hoặc/hay», «nhưng/mà». Thí dụ:

–  Nhậm trọng nhi đạo viễn. 任重而道遠 (Trách nhiệm nặng nề  đường thì xa.)

– Sự Tề hồ, sự Sở hồ? 事齊乎事楚乎 (Phục vụ cho nước Tề hay nước Sở?)



2.2.2. Câu chính-phụ.

Ghép hai câu có quan hệ «chính-phụ». Câu chính mang ý chính, câu phụ diễn tả: sự nhượng bộ (tương phản), nguyên nhân, điều kiện, ...



a/ Câu phụ chỉ nhượng bộ.

Dùng các chữ « 雖 / 縱 » trong câu phụ chỉ nhượng bộ. Thí dụ:

– Tuy Nghiêu, Thuấn. Vũ, Thang phục sinh, phất năng cải dĩ. 雖堯舜禹湯復生, 弗能改已 (Dù cho Nghiêu Thuấn, Vũ, Thang có sống lại cũng không thay đổi được gì.)

b/ Câu phụ chỉ nhân quả.

Câu chính (chỉ kết quả) mở đầu là « 故 / 是以 / 是故 ». Thí dụ:

– Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc dữ tranh. 夫唯不爭, 故天下莫與爭 (Vì ta không tranh với ai nên thiên hạ không tranh với ta.)

–  Kỳ ngôn bất nhượng, thị cố thẩn chi. 其言不讓, 是故哂之 (Lời lẽ hắn không khiêm nhường, nên ta mỉm cười hắn.)

 c/ Câu phụ chỉ điều kiện.

 Dùng các chữ « 苟 / 若 / 如 / 使 /非 » trong câu phụ chỉ điều kiện. Thí dụ:

– Cẩu vô dân, hà dĩ hữu quân苟 無民何以有君 (Nếu không có dân, có vua để làm gì?)

Cẩu hữu dụng ngã giả, kỳ nguyệt nhi dĩ khả dã. 苟有用我者, 期月而已可也 (Nếu có ai dùng ta, ắt trong một tháng việc này sẽ xong.)

Sử nhân bất dục sinh, bất ố tử, tắc bất khả đắc nhi chế dã. 使人不欲生不惡死則不可得而制也 (Nếu dân không ham sống và không sợ chết, thì không thể nào khống chế được họ.)

Phi ngã tộc loại, kỳ tâm tất dị. 非我族類其心必異 (Nếu không cùng tộc loại với ta, lòng dạ của họ ắt sẽ khác đi.)



Sách tham khảo:

 1. Điền Thụy Quyên 田瑞娟 & Trương Liên Vinh 張聯榮, Văn Ngôn Văn Yếu Lãm 文言文要覽, Bắc Kinh Đại học xbx 北京大學出版社, 1988.

2. Lưu Cảnh Nông 劉景農Hán Ngữ Văn Ngôn Ngữ Pháp 漢語文言語法. Trung Hoa Thư Cục 中華書局, 1994.

3. Lý‎‎ Lâm 李林, Cổ đại Hán Ngữ Ngữ Pháp Phân Tích 古代漢語語法分析, Trung Quốc Xã hội Khoa học xbx 中國社會科學出版社, 1996.

4. Thân Tiểu Long 申小龍, Trung Quốc Cú Hình Văn Hoá 中國句型文化, Đông Bắc Sư phạm Đại học xbx 東北師範大學出版社, Cát Lâm 吉林, 1988.

5. Trần Cao Xuân 陳高春 (chủ biên), Thực Dụng Hán Ngữ Ngữ Pháp Đại Từ Điển 實用漢語語法大辭典, Chức Công Giáo Dục xbx 職工教育出版社, Bắc Kinh 北京, 1989.

6. Christoph HarbsmeierAspects of Classical Chinese Syntax, Curzon Press, Denmark, 1981.

7. Edwin G. Pulleyblank, Outline of Classical Chinese Grammar, UBC Press, Vancouver, 2000.

8. Gregory Chiang, Language of the Dragon – A Classical Chinese Reader, Vol 1, Cheng&Tsui Company, USA, 1998.

9. Harold Shadick & Ch’iao Chien, A First Course in Literary Chinese, Vol 1, Cornell University Press, 1992.



10. Michael A. Fuller, An Introduction to Literary Chinese, Harvard University Press, 1999.


PHẦN II. PHIÊN ÂM, CHÚ THÍCH, DỊCH NGHĨA CÁC VĂN BẢN HÁN VĂN VIỆT NAM TIÊU BIỂU


MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

Học xong phần này, Sinh viên có khả năng:

- Viết nguyên văn chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa các văn bản Hán văn Việt Nam tiêu biểu được chọn lựa.

- Giải thích các điển cố, điển tích có liên quan.



- Bình giảng ngắn gọn nhưng đầy đủ, sâu sắc về một bộ phận hay toàn bộ tác phẩm.


I. Văn bản Hán văn tiêu biểu thời Lí – Trần:

HÁN VĂN LÝ - TRẦN THỜI KỲ CỔ ĐIỂN CỦA 10 THẾ KỶ HÁN VĂN VIỆT NAM THỜI ĐỘC LẬP

Phạm Văn Khoái (Tạp chí Hán Nôm số 1/1999)

1. Trong bài viết “Một vài nét khác biệt về mặt ngôn ngữ (ngữ pháp) giữa hai nhóm văn bản hán văn trong Thơ văn Lý - Trần (tập I” trênTạp chí Hán Nôm số 3(28)-1996, chúng tôi có đề cập đến sự khác biệt về ngôn ngữ giữa hai nhóm văn bản được tập hợp trong Thơ văn Lý - Trần (tập I). Trên thực tế, đó là Hán văn của thời Lý trở về trước. Ở đó, chúng tôi nêu lên sự khác biệt giữa ngữ lục Thiên tông và các văn bản có tính chất nghi thức, hành chính và nêu lên 2 mô hình ngôn ngữ của hai nhóm văn bản này. Nhóm các văn bản ngữ lục Thiền tông phần nào định hướng theo ngôn ngữ nói của bạch thoại Trung đại (bạch thoại sớm), do nó chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ các bản dịch kinh Phật và do nhiều yếu tố xã hội - ngôn ngữ khác nữa. Nhóm các văn bản có tính chất nghi thức hành chính viết theo ngôn ngữ của các văn bản cổ (chủ yếu là ngôn ngữ của Kinh thư).

Ở bài viết này, trên cơ sở những gì đã đề cập trong bài báo trên, chúng tôi muốn bàn thêm về một số vấn đề còn lại, để nêu lên những đặc trưng chung của chữ Hán thời Lý - Trần trong mối quan quan hệ với các dạng thức ngôn ngữ viết của tiếng Hán nói chung, qua đó, đặt vấn đề nêu lên vai trò cũng như quan hệ của Hán văn Lý - Trần với tiến trình 10 thế kỷ sử dụng chữ Hán ở Việt Nam thời độc lập nói riêng.

2. Để nêu ra những nhận xét về đặc trưng tình hình sử dụng chữ Hán ở một khoảng thời gian dài gồm 5 thế kỷ vốn thường được gọi bằng một cái tên chung: Hán văn Lý-Trần, cần phải phân loại các văn bản còn lại của giai đoạn này trên hai cơ sở: cấu trúc và chức năng của Hán văn. Nếu xuất phát từ 2 tiêu chí này, Hán văn Lý-Trần được qui vào 3 nhóm văn bản sau:

- Nhóm các văn bản nghi thức, công văn hành chính.

- Nhóm các văn bản ngữ lục Thiền tông.

- Nhóm các văn bản thơ văn.

Mỗi nhóm văn bản trên đây có những đặc trưng phân biệt của mình không chỉ về phương diện mục tiêu, mục đích được viết ra, hay các tác giả - chủ nhân tạo tác văn bản. Hơn nữa, chúng lại có những đặc trưng ngôn ngữ, thể loại, phong cách riêng của mình. Chẳng hạn, ở nhóm các văn bản nghi thức, công văn hành chính, người viết chủ yếu là những người tham gia bộ máy quản lý Nhà nước. Do yêu cầu về nội dung diễn đạt (những mệnh lệnh, chính lệnh, chủ trương nào đó), nên ngôn ngữ của nó phải theo mẫu mực, chủ yếu dựa vào Kinh thư. Khuôn mẫu ngôn ngữ tạo các văn bản này đã trở thành nội dung của thi cử. Trong các khoa thi (nhất là vào thời Trần) đểu có kỳ thi chiếu, biểu. Xét về mặt chức năng xã hội, sự xuất hiện của nhóm văn bản này đã chứng tỏ chữ Hán được khẳng định là ngôn ngữ của mọi hoạt động nghi thức, hành chính. Đây chính là cơ sở để xem chữ Hán là quốc gia văn tự, tạo điều kiện cho việc mở mang, phổ biến chữ Hán, nếu khi xét từ góc độ Nhà nước. Nhóm văn bản ngữ lục Thiền tông, do đặc trưng ngôn ngữ của mình, lại là dấu hiệu cho sự tiếp nối của một thời kỳ chữ Hán được dùng như một sinh ngữ ở cuối thời Bắc thuộc sang chữ Hán được dùng như một ngôn ngữ viết thuần tuý ở thời độc lập.

Nhóm các văn bản thơ, phú, văn, ký chủ yếu có niên đại vào thời Trần. Chúng xuất hiện ngày càng nhiều. Đội ngũ những người viết cũng rất đông đảo: vua, quan, Nho sĩ… Sự xuất hiện nhóm văn bản này đã mang đến một bộ mặt mới cho thực tế sử dụng chữ Hán về mọi phương diện: lý tưởng thẩm mỹ, phong cách, thể loại viết, đặc điểm ngôn ngữ… Cũng như các thể loại ở nhóm văn bản nghi thức, hành chính, thơ phú đã trở thành môn thi bắt buộc trong các kỳ thi. Bởi vậy, thơ, phú (và nhất là thơ) xuất hiện ngày càng nhiều, chiếm số lượng chủ yếu trong thực tế sử dụng chữ Hán. Việc thơ có mặt trong thi cử đã khiến cho mức độ người sử dụng chữ Hán để làm thơ tăng lên như Trần Nguyên Đán đã phát biểu:

Đấu tướng tòng thần giai thức tự,

Lại viên, tượng thị diệc năng thi.

(Tướng võ quan hầu đều biết chữ,

Thợ thuyền, thơ lại cũng hay thơ).

(Thơ văn Lý-Trần, tập 3, tr.196)

Thi cử với nội dung thơ phú đã dấn đến sự mở rộng thi phẩm về số lượng và cũng ngầm tạo nên tính nhà trường trong thơ chữ Hán.

3. Phân chia thành ba nhóm văn bản trên đây không có nghĩa là lúc nào ranh giới giữa chúng cũng tuyệt đối rõ ràng, có khi có những hiện tượng chuyển jtiếp. Về mối liên hệ và đặc trưng ngôn ngữ có tính chuyển tiếp ở đây, có lẽ cần phải nhắc đến hai hiện tượng có tính chất chuyển tiếp rõ nét.

Nhiều vua nhà Trần vừa là những người quản lý Nhà nước, vừa là những người rất am hiểu Thiền tông, đồng thời cũng là những người trước tác nhiều bằng chữ Hán. Trong số đó phải kể đến vua Trần Thái Tông. Ông là tác giả của nhiều tập sách có liên quan đến Thiền tông như: Thiền tông chỉ nam (đã thất truyền, nay chỉ còn bài tựa), Khoá hư lục … Ông có sáng tác thơ và bài thơ Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn được chọn làm mở đầu cho bộ hợp tuyển thơ chữ Hán Việt Nam đầu tiên - Việt âm thi tập do Phan Phu Tiên khởi thảo, Chu Xa hoàn thành, Lý Tử Tấn phê điểm… Các vua như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông… đều có thơ. Thơ họ, nói chung, đều nói về Thiền, song chắc hẳn, có nhiều điều khác với ngữ lục Thièn tông thuần tuý… Thơ họ chủ yếu nói đến cuộc sống hiệun thực theo ý vị Thiền, tựa hồ không thấy sáo ngữ của Nho. Thơ họ nặng về tự sự, diễn tả sự vật, hiện tượng, trong sự sâu lắng của đạo Thiền.

Hãy đọc vài câu trong bài Đăng Bảo Đài sơn của Trần Nhân Tông làm ví dụ.

Địa tịch đài dũ cổ

Thời lai xuân vị thâm

Vân sơn tương viễn cận

Hoa kính bán tình âm

Vạn sự thủy lưu thủy

Bách niên tâm ngữ tâm

Ỳ lan hoành ngọc địch

Minh nguyệt mãn hung khâm.

Một số vua Trần lại có thi tập. Danh từ thi tập ở đây đã có âm vang Hán học, đâu chỉ còn là những câu kệ của các tổ do học trò ghi lại nữa… Thơ họ có hình thức chải chuốt hơn, tuy vẫn giữ nguyên ý vị Thiền, nhưng mang đầy hơi thở của cuộc sống, đâu đã xuất hiện cách nói quá nhiều điển tích, điển cố… Đây cũng là dấu hiệu cho bước chuyển từ ngữ lục Thiền tông sang ngôn ngữ thơ, mà các Nho sĩ là đại diện ở nửa cuối thế kỷ XIV.

Hiện tượng thơ trở thành di sản Hán văn chủ yếu được sưu tập trongThơ văn Lý-Trần tập III biểu thị một bước chuyển biến mới trong thực tế dùng chữ Hán. Nghiên cứu ngôn ngữ thơ của các tác giả được sưu tập ở đây, chúng tôi thấy rằng các văn bản thơ được viết bằng ngôn ngữ hỗn nhập. Thơ thời Trần tạo nên nhóm văn bản riêng, nó có thể được coi là sự chuyển biến có liên quan về văn thể.

4. Cùng với thời gian, do yêu cầu Nhà nước tập quyền, Nho học càng được đẩy mạnh và tương ứng với nó, phạm vi những người biết chữ Hán cũng được mở rộng thêm. Chính tình hình này đã tạo nên một sự chuyển biến mới trong việc sử dụng chữ Hán. Vấn đề chọn khuôn mẫu viết đã được đặt ra và được một nhà Nho tiêu biểu của thời kỳ này là Phạm Sư Mạnh phát biểu trong bài Ngày xuân hoạ thơ vua dưới thuật ngữ “văn thể” của ngữ văn truyền thống.

Duật vân ngũ sắc ủng cung vi,

Tuyệt triệu Nho thần xuất điện trì.

Nhũ yến minh cưu đương ngọ hậu,

Tế chiên quảng hạ thiết hương di.

Thần tâm Nhị đế, Tam vương cổ,

Văn thề Tiên Tần, Lưỡng Hán kỳ.

Trắc thính nội thần truyền nội chỉ,

Kỳ hoa Đại xã định tân nghi.

(Mây lành năm sắc phủ quanh cung cấm,

Chiếu vua gọi Nho thần đến trước thềm điện.

Sau buổi trưa, chim yến, chim cưu kêu,

Dưới cờ tua nhỏ trong ngôi nhà rộng đặt đỉnh hương.

Tấm lòng của Vua như Nhị đế, Tam vương khi xưa,

Văn thể của người kỳ diệu như văn thể thời Tiên Tần, Lưỡng Hán.

Lắng nghe thị thần truyền chiếu chỉ của nội điện,

Định nghi thức mới cho lễ Đại xã cầu được mùa).

(Thơ văn Lý - Trần, tập III, tr.91).

Trong cái tinh thần hướng về “Nhị đế, Tam vương” về phương diện tổ chức Nhà nước, thì văn thể cũng được nhằm vào để viết theo kiểu Tiên Tần, Lưỡng Hán. Đâu còn tình hình như đầu thời Trần có sự phân chia chức năng của Nho, Phật trong Thiên tông chỉ nam tự, mà Trần Thái Tông đã phát biểu nữa. Sự định hướng luôn cả tình hình học chữ Hán, viết chữ Hán cả một thời kỳ, giai đoạn, và có thể nói, cũng là định hướng cho suốt các thế kỷ sau này.

Nói đến “viết bằng chữ Hán” cũng tức là mới chỉ đề cập đến một thuật ngữ chung chung, chưa định hướng rõ xem đó là định hướng vào thời kỳ cụ thể nào. Bời vì, từ khi có hệ thống văn bản viết đến những thế kỷ XIII-XIV, tiếng Hán đã có một bề dày lịch sử, với chí ít là 2 hình thái ngôn ngữ viết. Việc xác định các mẫu mực cần vươn tới là văn thể thời Tiên Tần (văn chư tử) và thời Lưỡng Hán (sử) để người Việt Nam lúc đó hướng vào khi viết, là đã xác định cái tính cách căn bản của cách viết Hán văn từ đây… Điều này còn được quán triệt trong suốt các thế kỷ sau, mà minh chứng hiển nhiên cho tư tưởng này là các bộ tuyển tập đầu tiên về thơ văn Lý-Trần ra đời vào thời Lê sơ chủ yếu sưu tầm thơ Nho, thơ các nhà quản lý mới của giai đoạn Lý-Trần. Nội dung thi học Lý-Trần của Hoàng Đức Lương chủ yếu dành cho thơ Nho cũng là ví dụ cho tính định hướng trên đây…

5. Tính định hướng trên đây, trong bối cảnh bận rộn của công cuộc xây dựng Nhà nước phong kiến tập quyền theo kiểu Nho giáo, đầy ắp công việc, đã mang lại một tinh thần, một dấu ấn riêng của Hán văn Lý-Trần… Hán văn Lý-Trần là Hán văn phác thực, đầy sức sống… Thi cử tuy có hướng vào từ chương, song chưa bị mặt tiêu cực từ chương tác động, nên kẻ sĩ thời Trần có phẩm cách như Lê Quý Đôn đã nhận xét: “Các vị ấy phẩm hạnh và thanh giới cao khiết, có tư cách người trí thức quân tử như đời Tây Hán, không phải kẻ tầm thường sánh được”.

Sự định hướng vào văn thể Tiên Tần, Lưỡng Hán là sự định hướng vào các giá trị mẫu mực của ngôn ngữ viết tiếng Hán, vào thời mà các ngôn ngữ viết đã đóng vai trò rất lớn trong nhận thức cuộc sống… Những giai đoạn Tiên Tần, Lưỡng Hán trên đây trong lịch sử ngôn ngữ viết của tiếng Hán là những giai đoạn của ngôn ngữ phác thực. Những giá trị cổ điển về ngôn ngữ viết ở thời Tiên Tần đã đạt được trong nhã ngôn (và sau đó gọi là văn ngôn), và lối viết này lại một lần được biến đổi vào thời Lưỡng Hán, mà những gì được ghi chép trongSử ký của Tư Mã Thiên và Hán thư của Ban Cố đã được người Việt Nam học tập để diễn đạt theo tình hình mới của mình.

Có lẽ ví dụ điển hình nhất cho sự định hướng mô phỏng viết chữ Hán là bài Lâm chung di chiếu của Lý Nhân Tông.

Viết di chiếu lúc lâm chung là việc thường làm. Lâm chung di chiếucủa Lý Nhân Tông được Phạm Đình Hổ đánh giá là “già dặn, súc tích, phảng phất như văn đời hán” (Vũ trung tuỳ bút. 1989, tr.136). Hán Văn Đế cũng có một bài Lâm chung di chiếu còn được lưu giữ trongHán thư. Thế nhưng, nếu so hai bài Lâm chung di chiếu với nhau, thì ta thấy không có gì khác mấy. Khác chăng là công việc cần làm khác, người kế vị khác, tình hình khác… Những cái đó buộc lòng phải tự viết ra, không thể chỉ còn là việc đổi từ, đổi ngữ nữa. Ở những đoạn mới này, ngôn ngữ cổ hơn, đầy rẫy trích dẫn từ Kinh thư. Nếu đem so sánh hai bản di chiếu, xét về ngôn ngữ, ba thấy bản của Lý Nhân Tông ra đời sau bản của Hán Văn Đế hơn chục thế kỷ, lại có cách viết cổ hơn rất nhiều…

Khi định hướng vào văn thể Tiên Tần, Lưỡng Hán và các giá trị cổ điển khác, dường như ở thời Lý - Trần, người ta chỉ chọn từ đây ra những cái gì đặc trưng nhất. Điều này thể hiện qua nội dung thi cử. Chương trình khoa thi năm Bính Tý niên hiệu Quang Thái thứ 9 (1396), ở kỳ thứ ba, thi bài chiếu theo thể Hán… sự định hướng trên đây dễ dẫn đến mô phỏng.

6. Những điều nêu trên là những nét chấm phá, phần nào đã đề cập đến những đặc trưng sử dụng chữ Hán thời Lý-Trần. Hán văn thời Lý-Trần đã tạo nên giá trị cổ điển của mười thế kỷ sử dụng chữ Hán ở Việt Nam thời độc lập. Điều này đã được các nhà trí thức dân tộc các thế kỷ sau đó như Hoàng Đức Lương, Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ… phát biểu.

Đến thời Lê Trung hưng, khi thi cử làm cho văn viết chữ Hán đã trở thành tệ lậu, thì chính là lúc đó người ta đề cao giá trị của Hán văn thời Lý-Trần, coi đó là mẫu mực, lấy đó làm tự hào. Công cuộc sưu tập di sản hán văn Lý-Trần trong nhiều thế kỷ, từ nhiều nguồn… (chủ yếu xuất phát từ góc độ thơ văn), đã phần nào khôi phục lại diện mạo của thực tế sử dụng chữ Hán thời Lý-Trần và đó cũng là một phần rất trọng yếu của mười thế kỷ dùng chữ Hán ở Việt Nam thời độc lập. Có thể nói, chữ Hán ở thời Lý-Trần là chữ Hán phác thực, có ý nghĩa và giá trị cổ điển cho các thế kỷ sau này.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương