TrưỜng đẠi học an giang



tải về 1.4 Mb.
trang11/11
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.4 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Mặc dù ra đời từ thời Ân Thương nhưng cách gọi tản văn chỉ thật sự xuất hiện vào thời Tống và phổ biến rộng rãi thời Thanh. Tập tản văn Trung Quốc sớm nhất còn giữ lại hiện nay là sách “Thượng thư”, trong đó thiên đầu tiên là “Bàn Canh”. Bàn Canh tương truyền là vua nhà Thương, muốn dời đô đến đất nhà Ân trước đây nhưng bị thần dân phản đối, nên đã tổ chức ba lần diễn thuyết để nói rõ nguyên nhân dời đô. Vì tản văn dễ đọc, dễ viết nên được giới văn sĩ vận dụng rộng rãi từ trước đến nay.


Phú giai đoạn đầu chưa có sự phân biệt rạch ròi với Sở từ nên gọi chung là từ phú. Các giai đoạn về sau đã có những thay đổi nhất định nên hình thành nhiều cách gọi khác nhau như tao phú, Hán phú, biền phú, cầm phú, luật phú, văn phú. Trong đó, Hán phú giữ vị trí quan trọng và có nhiều ảnh hưởng đến văn học đời sau nhất. Hán phú là loại văn học cung đình, nội dung chủ yếu là ca công tụng đức vua chúa, ca ngợi đất nước mạnh giàu, sản vật phong phú, miêu tả cung điện hoành tráng, hoa viên xinh đẹp, cuộc sống sinh hoạt chè chén xa hoa nơi triều nội.

Biền văn còn được gọi là văn tứ lục, văn biền ngẫu, văn biền lệ, văn biền thể. Phạm vi ứng dụng của biền văn khá rộng rãi; những sáng tác tả cảnh, luận bàn triết học, luận bàn văn nghệ hoặc thư từ đều có thể dùng biền văn để thể hiện. Dưới đây là bảng so sánh đặc trưng thể loại của tản văn, phú và biền văn:




Tản văn

Phú

Biền văn

Giống nhau:

1. Dùng câu văn xuôi, ngôn ngữ tự do, linh hoạt, để sáng tác.

2. Phương thức biểu đạt chủ yếu: tự sự, trữ tình, luận lí.

3. “Hình tản nhi thần bất tản” (Hình thức rời rạc nhưng tinh thần, nội dung không rời rạc).



Không có những qui định, bó buộc, hạn chế theo bất kì khuôn mẫu nào.

Có những yêu cầu nhất định về: tu từ, gieo vần, đối ngẫu, thủ pháp thể hiện, thanh luật...

Thủ pháp biểu hiện: tự do, linh hoạt, đa dạng; lấy biểu đạt ý làm mục đích.

Phần nhiều sử dụng thủ pháp phô trương, miêu tả tỉ mỉ, lời lẽ bay bổng, trang nhã, hoa lệ; bày tỏ tình cảm khoáng đạt, hào sảng. Kết cấu thường xây dựng theo hình thức vấn đáp.

Chú trọng dùng từ ngữ bóng bẩy, đối ngẫu; lời lẽ uyển chuyển, hàm súc, tinh luyện, điển nhã; thường hay dùng điển cố điển tích.

Không có qui định về thanh điệu, vận luật.

Không qui định về thanh điệu, gieo vần; nhưng phần nhiều là kết hợp giữa văn vần và văn xuôi. Gieo vần trong phú có khi mỗi câu đều gieo vần, có khi gieo cách quảng. Vì bài phú thường dài nên khi gieo vần thường có hiện tượng đổi vần; vần thay đổi nhiều nhưng nội dung toàn bài vẫn phải nhất quán. Do thường gieo vần nên nhiều đoạn trong bài phú rất giống thơ.

Yêu cầu chặt chẽ về thanh bằng trắc đối ngẫu, âm luật hài hòa.


Câu văn không cần đối xứng, phần lớn là câu văn xuôi.

Không qui định đối ngẫu, thường kết hợp xen kẽ câu văn biền ngẫu và câu văn xuôi.

Câu văn yêu cầu phải đối ngẫu, thường là từng cặp trên dưới có số chữ, từ loại, kết cấu tương đồng nhau và được sắp xếp đối xứng nhau.

Số chữ mỗi câu tùy ý, không hạn chế.

Số chữ trong câu tùy ý, nhưng thường dùng 4 chữ hoặc 6 chữ làm chủ, ngoài ra còn đan xen số chữ đa dạng trong câu văn xuôi.

Câu văn đối ngẫu phần lớn do 4 chữ và 6 chữ hợp thành, đôi khi xuất hiện câu 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, 9 chữ, 10 chữ.

Thưởng thức: đọc lớn, rõ, âm điệu không chặt chẽ.

Âm thanh khi đọc lên nghe nhịp nhàng, chặt chẽ, vui tai.

Âm thanh câu văn khi đọc lên thấy chỉnh tề, chặt chẽ, nhịp nhàng cao độ.



3. Mối quan hệ giữa tản văn, phú và biền văn
3.1. Về thời điểm hình thành và hưng thịnh:

Tản văn ra đời vào thời Ân Thương, đến thời Xuân Thu Chiến Quốc thịnh hành, tạo thành mốc son hưng thịnh với hàng loạt sáng tác tản văn thời Tiên Tần, góp phần to lớn vào phong khí “Bách gia tranh minh” đương thời. Tản văn phát triển cực thịnh thì một thể loại văn học tiếp thu ảnh hưởng của tản văn ra đời, đó là phú. Phú lưu hành đến thời Tần Hán trở thành thể loại sáng tác chủ yếu của giới Nho sĩ, tạo nên phong khí hoa lệ, trang trọng một thời, nhất là dưới triều đại nhà Hán. Thời kì phú lưu hành rộng khắp thì cũng chính là lúc một thể loại văn học khác tiếp thu đặc trưng tản văn ra đời, đó là biền văn. Biền văn phát triển và đạt đến sự thịnh hành vào thời kì Ngụy Tấn và Lục Triều.

Quá trình phát triển của các thể loại trên rõ ràng mang tính tuần hoàn, khi một thể loại phát triển đến đỉnh cao, được nhiều người sử dụng và có dấu hiệu trở thành khuôn sáo, mất dần tính hấp dẫn thì xuất hiện một thể loại khác thay thế vị trí độc tôn của nó. Mặc dù ba thể loại này có lúc thịnh suy và chiếm giữ những địa vị khác nhau, thế nhưng chúng vẫn tồn tại song song trong dòng mạch phát triển của văn học Trung Quốc.
3.2. Về nguồn gốc kế thừa và phát triển

Tản văn ra đời gắn liền với sự hình thành của văn tự để ghi chép, cùng với Kinh thi tạo nên thế đối lập về hình thức sáng tác giữa văn vần và văn xuôi. Những tác phẩm viết theo thể phú đầu tiên xuất hiện dưới thời Chiến Quốc của các văn sĩ nổi tiếng đương thời là Cảo Khanh với tác phẩm “Phú thiên” và Tống Ngọc với “Phong phú”, bản thân các tác giả này cũng từng sáng tác từ. Phú được hình thành trên cơ sở hình thức tản văn có tiếp thu đặc trưng của Sở từ và Kinh thi. Do từ được xây dựng trên cơ sở lời thơ kết hợp với những điệu hát, nên phú gián tiếp chịu ảnh hưởng lối gieo vần, tu từ của thơ ca và âm điệu hài hòa, tiết tấu nhịp nhàng của từ. Ngoài ra, phú còn tiếp thu truyền thống phúng thích của Kinh thi và thủ pháp phô trương (trong tả vật, ngôn chí) của Tung Hoành gia thời Chiến Quốc.

Biền văn tiếp thu đặc trưng của từ phú thời Hán Ngụy, do đó đã gián tiếp chịu ảnh hưởng đặc trưng thể loại của tản văn và Kinh thi. Biền văn sử dụng hình thức câu biền ngẫu vốn xuất hiện nhiều trong phú, lặp đi lặp lại với tần suất cao, tạo nên thể loại mà đối ngẫu trở thành đặc trưng tiêu biểu nhất.
3.3. Về vận luật và đặc tính của tản văn

Hình trên cho thấy, phú và biền văn là hai thể loại trung gian giữa thơ ca và tản văn. Chúng ra đời trên cơ sở kết hợp tinh hoa thể loại giữa văn vần và văn xuôi nên mang đậm tính chất hòa trộn giữa câu văn gieo vần và không gieo vần. Nhìn từ đặc trưng thể loại, cả hai có thể được xếp vào tản văn; nhưng nhìn vào đặc tính tản văn, thì hai thể loại này lại nghiêng về phía văn vần hơn. Do đó, ở những tiêu chí phân loại khác nhau, phú và biền văn được xếp vào hay tồn tại độc lập với tản văn.


4. Kết luận:

Tản văn, phú và biền văn là ba thể loại quan trọng của văn học cổ điển Trung Quốc, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lên quá trình hình thành và chịu ảnh hưởng lẫn nhau về mặt đặc trưng thể loại. Nếu tản văn đạt đến đỉnh cao thời Tiên Tần thì phú phát triển mạnh cuối Tần đến cả thời Hán, còn biền văn lưu hành từ thời Ngụy Tấn kéo dài đến thời Sơ Đường. Thế nhưng, phú và biền văn do quá truy cầu hình thức nên nội dung dần trở nên hư huyễn, xa rời quần chúng, chỉ thích hợp tả cảnh chứ không thích hợp tự sự.

Mối quan hệ giữa ba thể loại này cho ta thấy rõ hơn tiến trình phát triển thể loại của văn học cổ điển Trung Quốc, một nền văn học mà như nhiều học giả nhận định: “Lịch sử văn học Trung Quốc là lịch sử của các thể loại văn học”.

Nguyễn Thanh Phong

Tài liệu tham khảo:

1. Tăng Vĩnh Nghĩa (chủ biên), Cổ điển văn học từ điển, Chính Trung thư cục ấn hành, Đài Bắc, 1990.

2. Trữ Bân Kiệt, Trung Quốc cổ đại văn thể học, Đài Loan Học sinh thư cục, Đài Bắc, 1991.

3. Giản Tông Ngô, Phú dữ Biền văn, Đài Loan Thư điếm ấn hành, Đài Bắc, 1998.

4. Tưởng Bá Tiềm, Tưởng Tổ Di (đồng chủ biên), Biền văn dữ Tản văn, Thượng Hải Thư điếm xuất bản xã, Thượng Hải, 1997.
VI. Chữ “Văn” và những nét nghĩa

Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường hay nghe nói: “Anh ấy cư xử rất có văn hóa”, “Câu chuyện đậm tính nhân văn”, “Nó nói chuyện rất văn vẻ”, thậm chí có kiểu trách móc: “Học văn mà cư xử chẳng ‘văn’ tí nào cả!”; rồi trong triều đình phong kiến xưa bên cạnh quan võ có quan “Văn”; cha mẹ đặt tên cho con (chủ yếu con trai) cũng gắng đệm vào một chữ “Văn”… Có thể thấy, chữ “Văn” đã gắn liền với đời sống người Việt từ nhiều thế hệ nay, đã đi sâu vào nhiều lĩnh vực xã hội, trở thành một chuẩn mực quan trọng ở mức độ nào đó để phán đoán, đánh giá phẩm chất con người hay tính chất của sự việc, hiện tượng.

Nhắc đến “Văn”, chúng ta thấy trong kho từ vựng tiếng Việt có một loạt các từ như: văn nhân, văn hóa, văn tự, đồng văn, văn kiện, văn ngôn, văn bản, văn minh, văn vật, văn khoa, văn thư, văn chương, văn miếu, văn bằng, văn đàn, văn học, văn nghệ, văn hiến, văn thể, nhân văn… Chữ “Văn” trong các trường hợp trên được thể hiện với nhiều nét nghĩa, vừa phong phú vừa lý thú, có khi cụ thể và đôi khi cũng khá trừu tượng.

Các nét nghĩa của “Văn”

Nhìn chung, các từ điển đều giải thích chữ “Văn” theo nhiều nét nghĩa, có quyển giải thích khá khái quát, chung chung; trong khi có quyển giải thích chi tiết, tỉ mỉ hơn. Ở đây, người viết xin rút ra những nét nghĩa chung nhất, cơ bản nhất và có tính điển hình nhất của chữ “Văn” trong tiếng Việt.



1. Văn là những đường nét tinh vi

Có thể hiểu đây là nét nghĩa đầu tiên trong quá trình hình thành của chữ viết “Văn”. Chữ “Văn” trong trường hợp này đồng nghĩa với “Văn” 紋 (có bộ mịch, 糸), có nghĩa là những đường nét tinh vi. Nhìn vào cấu trúc chữ “Văn”, chúng ta thấy có 4 nét cấu tạo qua lại đan xen nhau tạo nên chữ có hình dáng cân đối, hài hòa. Từ đó, “Văn” được dùng để chỉ đường nét dài ngắn khác nhau tạo nên những đồ hình hài hòa, cân đối. Người ta có cách nói “văn thạch” để chỉ loại đá hoa (đá có vân).



2. Văn là chữ viết, là hệ thống kí hiệu cấu thành ngôn ngữ

Từ điển Từ Hải giải thích: “Văn là những phù hiệu để ghi chép tạo thành ngôn ngữ”. Chúng ta có thể thấy chữ “Văn” mang nét nghĩa này trong những từ sau: văn tự, Anh văn, Trung văn, Hán văn, quốc văn... Như vậy, có thể thấy “Văn” từ chỗ là những đường nét cấu tạo thành chữ viết (văn tự, văn bằng), đặc biệt là đối với dạng chữ viết biểu ý như chữ Hán, đã chuyển sang nét nghĩa chỉ một hệ thống ngôn ngữ nào đó (Anh văn, Trung văn...). Sự chuyển biến về nghĩa này là một kiểu hoán dụ tu từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt.

Liên quan đến nét nghĩa này, từ điển Từ Hải giải thích “quan văn” trong sự đối lập với “quan võ” như sau: “Phần tử trí thức sử dụng chữ viết, văn tự làm phương tiện hoạt động chủ yếu, đối lập với đối tượng sử dụng võ nghệ và vũ khí làm phương tiện hoạt động”. Từ điển Hán- Việt Thiều Chửu cũng giải thích “các quan làm việc về văn tự gọi là quan văn”. Như vậy, chúng ta có thể thấy chữ “Văn” trong những trường hợp này muốn nhắm đến đối tượng giỏi chữ nghĩa, vận dụng thành thạo ngôn ngữ của dân tộc. Như vậy người nghiên cứu lịch sử, địa lý, triết học trong triều đình xưa cũng là các quan văn.

3. Văn là một bài viết, một tác phẩm hoàn chỉnh

Từ điển Từ Hải giải thích “Văn” ở một nét nghĩa khác: “Văn là một bài, một tác phẩm được tạo thành nhờ việc sử dụng câu chữ và diễn đạt tư tưởng”. Như vậy, cách định nghĩa này nhấn mạnh hai khía cạnh quan trọng của “Văn” là sự hoàn chỉnh về mặt hình thức (tác phẩm, bài viết) và sự chuyển tải một nội dung tư tưởng nhất định, tức là mang một nội dung tương xứng với hình thức đó. Cách định nghĩa này khá gần gũi với lý thuyết Lý luận văn học ngày nay, tác phẩm là thể chỉnh hợp cấu thành bởi nội dung và hình thức. Do đó, đến lúc này, “Văn” đã mang nét nghĩa mà chúng ta thường thấy trong nghiên cứu văn học là nhắc đến những tác phẩm, những trứ tác của các văn nhân, thi sĩ. Chúng ta thường nghe những cách nói: văn chương, văn liệu, văn phẩm , văn bản...



4. Văn là vẻ đẹp hòa nhã, lễ độ, đạo đức, tốt đẹp

Chữ “Văn” còn được sử dụng để chỉ những chuẩn mực về đạo đức, văn hóa, phẩm cách của con người. Đó là những phẩm chất tốt đẹp, chuẩn mực, làm khuôn thước cho đạo đức con người và ứng xử trong xã hội. Người ta thấy những người nói chuyện trau chuốt, mượt mà là người nói chuyện có “văn vẻ”, “văn nhã”; những người sống cẩn thận, phù hợp với tiến bộ thời đại là những người “văn minh”; những người cư xử phải phép, có suy nghĩ cặn kẽ, tận tình thấu đáo, biết tôn trọng người khác là những người có “văn hóa”; nét đẹp trong cách nhìn hay trong quan hệ đối đãi giữa con người trong xã hội là nét đẹp “nhân văn”... Ở đây, cần phải phân tích thêm chữ “văn hóa” để thấy cách suy nghĩ về giáo dục của người xưa. Người xưa quan niệm con người sinh ra còn mông muội, chưa hiểu biết, giống như một “sản phẩm thô” cần phải tinh luyện và vì vậy nhu cầu được giáo dục hình thành. Khi được học tập người ta sẽ biến thành “sản phẩm tinh”, tức là đã qua tinh luyện nên những người ấy được xem là đã “văn” hóa. Chữ “văn” ở đây với tư cách là một tính từ, còn “hóa” là một động từ hàm nghĩa biến đổi như kiểu chúng ta thường nghe nói “chuẩn hóa”, “hiện đại hóa”, “tha hóa”... Như vậy “văn hóa” trước khi mang nét nghĩa là một tính từ hay danh từ phiếm chỉ như hiện nay thì đã là một cụm động từ, hàm nghĩa làm cho con người trở nên “Văn” hơn. Do đó, các bậc cha mẹ trước đây khi sinh con trai, vô tình hay hữu ý đặt vào chữ đệm “Văn” thể hiện sự mong mỏi con cái lớn lên chữ nghĩa giỏi giang, học hành đỗ đạt lại có nhân cách tốt đẹp, thấu hiểu lẽ đời.

Dĩ nhiên, văn không chỉ dừng lại ở chỗ chỉ về con người mà mở rộng phạm vi chỉ những đối tượng khác như: văn vật, văn hiến...

5. Văn là một hình thức sáng tác, một thể tài của văn chương

Ngoài các nghĩa trên, “Văn” còn là một thuật ngữ thuộc lĩnh vực văn học- nghệ thuật, chỉ một thể tài sáng tác có hình thức diễn đạt riêng bên cạnh thơ, kí, kịch bản sân khấu... Chẳng hạn thời phong kiến có văn biền ngẫu, tản văn hay thời cận hiện đại có văn chính luận, văn nghị luận...



Sự phát sinh và hình thành các nét nghĩa của “Văn”

Từ các nét nghĩa đã chỉ ra, chúng ta có thể thấy quá trình hình thành và phát triển nghĩa của chữ “Văn” như sau: Lúc đầu, “Văn” là những đường nét tinh vi, hài hòa cấu tạo nên những đồ hình và dạng chữ viết biểu ý. Người ta thấy những đồ hình này đẹp, cân đối nên dần dần “Văn” đã mang nét nghĩa đẹp đẽ, chuẩn mực, trau chuốt, từ đó chuyển sang nét nghĩa chỉ sự lễ độ, đạo đức của con người. Ở một phương diện khác, “Văn” tạo nên hệ thống chữ viết biểu ý, ngày một phát triển hoàn thiện hơn nên mang nét nghĩa chỉ hệ thống chữ viết, mà chữ viết là một bộ phận cấu thành ngôn ngữ và gắn liền với ngôn ngữ nên “Văn” mở rộng nét nghĩa chỉ một hệ thống ngôn ngữ. Từ chỗ đó, hệ thống ngôn ngữ được huy động để diễn đạt một nội dung nào đó tương ứng với hình thức hoàn chỉnh của nó nên “Văn” mang ý nghĩa là một tác phẩm hoàn chỉnh. Và từ chỗ hình thức, người ta lại quy định những dạng khác nhau, sử dụng trong những mục đích giao tiếp khác nhau, “Văn” với tư cách là một thể tài của văn chương hình thành.

Chúng ta lại có thể nhận thấy mối quan hệ giữa “Văn” với nét nghĩa là một tác phẩm hoàn chỉnh được cấu thành bởi hệ thống chữ viết với “Văn” mang nét nghĩa là sự trau chuốt, đạo đức, có văn hóa, có phẩm chất; và với “Văn” là thể tài của sáng tác nghệ thuật. Như vậy, một bước chuyển biến về ý nghĩa khác là tác phẩm văn chương phải đồng nhất với cái đẹp, cái văn hóa, cái lễ độ; và tác phẩm văn chương phải hướng đến mục đích xây dựng phẩm chất con người ngày một hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu xã hội ngày càng hiện đại. Như vậy, không phải tác phẩm nào cũng có thể gọi là văn chương, “Văn” lúc này trở thành một chuẩn mực, một yêu cầu không thể thiếu của tác phẩm.

Quan hệ các nét nghĩa với vai trò của bộ môn “Văn”

Văn là một trong những bộ môn quan trọng được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Một cách lí thú, chúng ta dễ nhận ra rằng những nét nghĩa của “Văn” như đã trình bày phía trên cũng là những nội dung, mục đích mà bộ môn văn trong nhà trường phổ thông muốn hướng đến. Nói cách khác, môn văn phải góp phần bồi dưỡng năng lực vận dụng ngôn ngữ cho học sinh. Cụ thể là năng lực viết chữ, đọc chữ, dùng từ (bậc tiểu học); năng lực dùng từ, viết câu, viết bài hoàn chỉnh, viết theo từng thể loại trong các mục đích giao tiếp khác nhau; năng lực đọc hiểu văn bản (bậc trung học). Ngoài ra, môn văn còn xây dựng ở học sinh năng lực cảm thụ tác phẩm, biết phân tích cái hay, cái độc đáo cũng như mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn chương. Một vai trò rất quan trọng nữa của môn văn là bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, xây dựng đời sống tâm hồn, hình thành ý thức công dân của một con người xã hội cho học sinh...

Dân tộc ta từng là dân tộc có truyền thống văn hóa 4000 năm lịch sử, có nền văn hiến và văn vật lâu đời, có tinh thầnnhân văn sâu sắc, yêu văn chương và có những sáng tácthành văn hơn ngàn năm nay. Hiểu “Văn”, bảo tồn và xây dựng cuộc sống đầy chất “Văn” đó là nhiệm vụ của mọi người, nhất là của “con nhà văn”.

 Nguyễn Thanh Phong

Tài liệu tham khảo:

1. Từ điển Từ Hải, Lôi Phi Hồng chủ biên, NXB Thế Nhất (Đài Loan), 2007.

2. Từ điển Hán Việt, Thiều Chửu, NXB Thanh niên, 2006.

3. Từ điển Hán Việt hiện đại, Trương Văn Giới, Lê Khắc Kiều Lục, NXB Khoa học Xã hội, 2001.

 
PHẦN V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngữ văn Hán Nôm. Tập 1. Đặng Đức Siêu. 1987. Nhà xuất bản Giáo dục.Số phân loại: 495.1/S309-T1

2. Ngữ văn Hán Nôm. Tập 2. Đặng Đức Siêu.1995. Nhà xuất bản Giáo dục.

Số phân loại: 495.1/S309-T2

3. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nguyễn Tài Cẩn. 2004. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia.

Số phân loại: 495.1/C121

4. Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá. Nguyễn Tài Cẩn. 2001. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia.

Số phân loại:  495.922/C121

5. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm: Nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam ( có phân tích và phê phán một số sách cần thiết). Thư tịch chí Việt Nam, T1. Trần Văn Giúp. 1984. Nhà xuất bản Văn hoá.

Số phân loại:  495.1/Gi109

6. Giáo trình Hán văn Lý - Trần. Phạm Văn Khoái. 2001. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia.

Số phân loại: 495.1/Kh404

7. Việt Nam Văn học Sử yếu. Dương Quảng Hàm.1993. Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Tháp.

Số phân loại: 895.92209/H104

8. Từ điển từ và ngữ Hán Việt: có chú giải từ tố. Nguyễn Lân.1989. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.

Số phân loại: 403.95195922/L121

9. Một vài đặc điểm ngôn ngữ của thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt ( Luận án thạc sĩ.). Hoàng Quốc. 2003. Nhà xuất bản Đại học khoa học xã hội nhân văn.

Số phân loại: 495.922/Qu451

10. Cơ sở Ngữ văn Hán Nôm. Tập 3. Lê Trí Viễn. 1986. Nhà xuất bản Giáo dục.

Số phân loại: 495.1/V305 - T3

11. Cơ sở Ngữ văn Hán Nôm. Tập 4. Lê Trí Viễn. 1987. Nhà xuất bản Giáo dục.

Số phân loại: 495.1/V305 - T4

12. Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm. 1983. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

Số phân loại: 495.1/M458

13. Tự điển Hán - Việt Thiều Chửu

14. Tự điển Hán - Việt Đào Duy Anh.

15. Tự điển Hán – Việt Viện Khoa học Xã hội/ Viện Ngôn ngữ học

16. Tự điển Hán – Việt Trần Văn Chánh.

17. Tự điển Hán – Việt Hầu Hàn Giang.

18. Các tự điển Hán Việt (cổ) khác.

Th.s Nguyễn Thanh Phong tổng hợp - biên soạn





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương