TrưỜng đẠi học an giang


Dịch nghĩa: Bài ca về người gãy đàn đất Long Thành



tải về 1.4 Mb.
trang10/11
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.4 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Dịch nghĩa: Bài ca về người gãy đàn đất Long Thành

Người đẹp Long Thành 

Họ tên không được biết 

Riêng thạo đàn Nguyễn cầm 

Dân trong thành gọi nàng là cô Cầm 

Gãy khúc "Cung phụng" từ triều vua xưa 

Một khúc đàn hay tuyệt từ trời đưa xuống thế gian. 

Nhớ hồi trẻ tôi đã gặp nàng một lần 

Bên hồ Giám trong một đêm yến tiệc 

Tuổi cô cỡ hai mươi mốt 

Áo hồng ánh lên khuôn mặt đẹp như hoa 

Rượu đậm thêm nét mặt ngây thơ khả ái 

Ngón tay lướt năm cung réo rắt 

Tiếng khoan như gió thổi qua rừng thông 

Thanh trong như đôi hạc kêu nơi xa xôi 

Mạnh như sét đánh tan bia Tiến phúc 

Sầu bi như Trang Tích lúc đau ốm ngâm rên tiếng Việt 

Người nghe nàng say sưa không biết mệt 

Trong khúc nhạc đại nội Trung Hoà. 

Quan tướng nhà Tây say rượu nghiêng ngả 

Lo vui chơi suốt đêm không nghỉ 

Bên phải bên trái tranh nhau cho thưởng 

Tiền bạc coi thường có nghĩa chi. 

Vẻ hào hoa hơn bậc vương hầu 

Giới trẻ nơi Ngũ Lăng không đáng kể 

Dường như ba mươi sáu cung xuân 

Nay Tràng An đã hun đúc được một báu vật vô giá. 

Trong đầu nhớ lại đã hai mươi năm 

Tây sơn thua bại, tôi vào Nam 

Long Thành gần mà cũng chẳng được thấy 

Còn nói chi đến chuyện múa hát trong thành. 

Nay Tuyên phủ sứ bày cuộc vui đãi tôi 

Ca kỹ trẻ xinh cả một đám 

Chỉ có một kẽ tóc hoa râm ngồi cuối phòng 

Mặt xấu, sắc khô, người hơi nhỏ 

Mày phờ phạc không điểm phấn tô son 

Sao mà đoán được người này là đệ nhất danh ca một thời. 

Điệu nhạc xưa làm ta thầm nhỏ lệ 

Lắng tai nghe lòng càng đau xót 

Tự nhiên nhớ lại hai mươi năm trước 

Bên hồ Giám trong dạ tiệc ta đã thấy nàng 

Thành quách đã chuyển, người cũng đổi thay 

Nương dâu trở thành biển cả đã nhiều 

Cơ nghiệp Tây sơn cũng đà tiêu tán 

Sót lại đây còn người múa ca. 

Thấm thoắt trăm năm có là bao 

Cảm thương chuyện cũ dùng áo thấm nước mắt 

Ta từ Nam trở lại, đầu bạc trắng 

Trách làm sao được sắc đẹp cũng suy tàn. 

Hai mắt trừng lên tưởng nhớ chuyện xưa 

Thương cho đối mặt mà chẳng nhìn nhận ra nhau.


3. Sa hành đoản ca沙行短歌 Cao Bá Quát高伯适

a. Tiểu sử tác giả

Cao Bá Quát 高伯适 (1809?-1855) tự Chu Thần 周臣 sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, ất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức... Tự

Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy văn chương ông. Nhưng ông được lòng ân bảo vệ: một rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh hần thương dân yêu nước của ông. Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối. 

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

(Mười năm giao thiệp tìm gươm báu

Một đời chỉ cúi trước hoa mai)

Đôi câu đối ấy đã thâu tóm khá đầy đủ hoài bão và phẩm chất Cao Bá Quát. Lúc trẻ Cao Bá Quát cũng như trăm nghìn sỹ tử khác mong học giỏi đỗ cao để giúp đời. Trong thơ thấy rõ cái hăng hái thường tình ấy Trên đường công danh đã mấy ai nhàn/ Mũ lọng nhộn nhịp ta cũng đi đây. Nhưng cũng nhận ra ngay trong cơn hăng hái trên đường đi thi ấy cái khí phách khác thường của ông: 



Sóng biển trào lên như đầu bạc lô nhô

Gió giận dữ đánh chìm cả những chiếc thuyền to

Chớp giật sấm ran ai nấy đều xanh mắt,

Giữa cảnh, con chim hải âu vẫn nhởn nhơ

Sau này trong truyền thuyết về Cao nhiều giai thoại cũng vẽ nên sự bình thản của ông giữa gian lao như hải âu giữa bão: Một chiếc cùm lim chân có đế/ Ba vòng xích sắt bước thì vương. 

Khí phách ấy bắt nguồn từ chất tâm hồn của Cao Bá Quát. Tâm hồn ấy cao rộng. Qua núi Dục Thúy: Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kia/ Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước. Tâm hồn ấy giàu năng lực bên trong, chấp nhận cái khó của đường đời: 

Bãi cát dài, bãi cát dài!

Bước một bước lại như lùi một bước.

Trong tình cảnh oan khốc bị giam cầm, tra tấn chỉ vì tội sửa vào bài thi cho một thí sinh có tài vô ý phạm trường quy, ông tỉnh táo và can đảm coi việc mình làm là việc thiện, mà việc thiện thì ở hoàn cảnh nào cũng nên làm. Ông coi công lý thời ấy như cái máy làm nhục người (Bài thơ tả cái cùm). Ông nhìn thẳng vào chiếc roi da đang quật nhoang nhoáng vào người mình, ông tả nó và tả chính tâm trạng mình, như một cuộc đọ sức. Cái việc tả chính xác với các chi tiết nghiêm lạnh cho thấy ai vững hơn ai: 



Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp.

Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở

Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi (...)

Ở nơi góc đài những giọt sương trong cũng vì ta mà bay lên

Roi song rủ xuống thôi không hăng như trước nữa

Chắp tay đứng, ruột mềm quặn lại như cuốn vào ngón tay được.

Ông nhìn sông dài như lưỡi kiếm dựng giữa trời xanh. Ông hỏi hoa sen ngươi có hồng bằng mặt rượu của ta không? Ông thấy núi như chiếc chén xà cừ của khách say. Khí phách, tài tử như Cao Bá Quát lại là người thắm thiết tình cảm, đặc biệt tình cảm gia đình. Ông có những câu thơ thương vợ thương con tình cảm chân thực, ngôn ngữ mộc mạc, hình như ông không muốn vẻ đẹp của tài thơ làm mờ đi nét thực của cảm xúc. Một số truyền thuyết muốn nhấn mạnh khí phách Cao Bá Quát đã mô tả ông có tính cách ngang tàng khinh bạc, coi nhẹ tình cảm, e không đúng. Cao Bá Quát khí phách nhưng đa cảm, đó là sự phong phú của tâm hồn ông. Thương xót người thân và thương xót mọi người nghèo khổ, bị ức hiếp. Hãy nghe ông mời một người đói cùng ăn Than ôi hãy ngừng lệ/ Một bữa ta tạm mời/ Đời người như quán trọ/ Ung dung nào mấy ai/ Thong thả đừng nuốt vội/ No ứ dễ hại người. Cao Bá Quát đã thấy nguồn gốc nỗi khổ ấy, không dễ nói thẳng ra, nhưng ông đã tìm cách nói: 



Nghe nói xe Rồng vừa ngự tới

Cung vua sẵn đó lại cung vua

Tâm sự nhà nho Cao Bá Quát rối bời: Tâm sự và tóc có chi phải so sánh vắn dài/ Đến lúc đã rối bời thì cùng rối bời như nhau. Rối bời vì ái quốc thì không thể trung quân. 

Cuối đời, những bài thơ Cao Bá Quát càng nặng trĩu nội tâm. Không chỉ buồn thương, mà có buồn thương cũng không chỉ vì thân danh mình lận đận. Hoài bão của con người một đời chỉ cúi trước hoa mai rộng xa hơn nhiều. Trước cảnh đời ngang trái ấy ông không thể làm tấm bia không chữ, (Thế sự hà kham một tự bi). Ông phải có thái độ, nhưng thái độ ấy không thể nói trong thơ. Ông như cái hạt sen ôm tấm lòng đắng ngắt chỉ mình mình biết (Liên tử hữu tâm tri độc khổ). Đêm xuân đọc sách mà như đối thoại với người xưa (Bùi ngùi xuân này ngồi đối diện với người xưa) mà như giao lưu với vũ trụ (Dưới có người không ngủ/ Trên có vì sao muốn rơi). Trong bài Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, ý chí hành động của Cao Bá Quát đã rõ, sau khi nhắc đến Chu An, Nguyễn Trãi, ông viết: 

Khách nam nhi chẳng vì thế thái

Đem thân ra đỡ lấy cương thường

Năm 1853 Cao Bá Quát đã trở thành một trong những người lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Bối cảnh lịch sử chưa đủ chín để cuộc khởi nghĩa thành công. Nhưng Cao Bá Quát đã trở thành hình tượng sáng chói của lớp nhà thơ hoạt động, từ thơ mà thành chiến sỹ, lấy máu để diễn tả cao nhất cảm xúc của chính mình. 



Hà Nội 1-11-2000 

Vũ Quần Phương

b. Tác phẩm:

沙行短歌

長沙復長沙, 

一步一回卻。 

日入行未已, 

客子淚交落。 

君不學仙家美睡翁, 

登山涉水怨何窮。 

古來名利人, 

奔走路途中。 

風前酒店有美酒, 

醒者常少醉者同。 

長沙長沙奈渠何, 

坦路茫茫畏路多。 

聽我一倡窮途歌。 

北山之北山萬疊, 

南山之南波萬級, 

君胡為乎沙上立。

Phiên âm: Sa hành đoản ca

Trường sa phục trường sa, 

Nhất bộ nhất hồi khước. 

Nhật nhập hành vị dĩ, 

Khách tử lệ giao lạc. 

Quân bất học tiên gia mỹ thuỵ ông, 

Đăng sơn thiệp thuỷ oán hà cùng. 

Cổ lai danh lợi nhân, 

Bôn tẩu lộ đồ trung. 

Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu, 

Tỉnh giả thường thiểu, tuý giả đồng. 

Trường sa, trường sa, nại cừ hà? 

Thản lộ mang mang uý lộ đa. 

Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca. 

Bắc sơn chi bắc, sơn vạn điệp, 

Nam sơn chi nam, ba vạn cấp,

Quân hồ vi hồ sa thượng lập?

Dịch nghĩa: Bài ca đi trên cát (Người dịch: Huệ Chi)

Bãi cát, bãi cát dài! 

Mỗi bước lại như lùi. 

Mặt trời đã lặn đi chưa nghỉ, 

Khách bộ hành nước mắt tuôn rơi! 

Không học được tiên ông phép ngủ, 

Trèo non, lội suối, giận không nguôi. 

Xưa nay phường danh lợi, 

Bôn tẩu trên đường đời. 

Gió thoảng hơi men trong quán rượu, 

Say cả, hỏi tỉnh được mấy người? 

Bãi cát, bãi cát, ngao ngán lòng, 

Đường phẳng mờ mịt, đường hiểm vô cùng! 

Nghe ta ca "cùng đồ" một khúc! 

Phía bắc núi Bắc, núi muôn lớp! 

Phía nam núi Nam, sóng muôn đợt! 

Sao mình anh còn trơ lại trên bãi cát?

4. Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm吳時任

Ngô Thì Nhậm 吳時任 (1745-1803) là một "Sĩ phu Bắc Hà" kiệt xuất (người làng Tả Thanh Oai, Hà Đông), đỗ tiến sĩ năm 1776. Ông từng làm quan dưới thời Lê mạt, nhưng ngôi sao Ngô Thì Nhậm chỉ thực sự bừng sáng rực rỡ khi ông được gặp gỡ người anh hùng Nguyễn Huệ, tựa như Lã Vọng gặp Chu Văn Vương thuở trước. 

Với khối óc mẫn tuệ phi thường, Ngô Thì Nhậm mau lẹ nhận chân được chân lí của thời đại mình: Nguyễn Huệ chính là người anh hùng, là bậc minh quân của dân tộc. Đó là mẫu người "anh hùng áo vải", từ nhân dân mà ra, nhưng đã kết tinh được toàn bộ tinh hoa của dân tộc và trở thành biểu tượng cao nhất của dân tộc thời đại bấy giờ. 

Triều đại Tây Sơn tiến bộ hơn, tất yếu sẽ thay thế cho triều đại Lê - Trịnh đã đến kì mạt vận. Tiêu chuẩn cao nhất đối với một sĩ phu chân chính là phải xác định rõ con đường mình phải đi (từ bỏ cái gì, theo cái gì?) và làm gì để cống hiến nhiều nhất cho dân tộc mình? 

Tư duy của Ngô Thì Nhậm rất chuẩn xác, do đó hành động của ông trong cả cuộc đời cũng hoàn toàn chuẩn xác. Ông là mẫu mực cao nhất của một trí thức chân chính thời đại Tây Sơn. 

Những đóng góp của ông cho người anh hùng Nguyễn Huệ (cũng là cho đất nước) rất đáng kể, cả về chính trị, ngoại giao lẫn quân sự. Ông đã bổ khuyết những chỗ thiếu hụt của Quang Trung (do nhà vua xuất thân từ tầng lớp bình dân, không thể có được vốn học vấn uyên bác như ông). Có thể nói, sức mạnh anh hùng vô song của Nguyễn Huệ cộng với trí tuệ viên mãn của Ngô Thì Nhậm là những nhân tố cực kì quan trọng khiến triều đại Tây Sơn đạt tới đỉnh cao hiển hách, đã làm cho triều đình nhà Thanh vô cùng vị nể. 

Tài năng của Ngô Thì Nhậm còn được thể hiện rõ nét ở một bình diện khác: Ông là một thi nhân đích thực, chủ nhân của một gia tài văn chương đồ sộ: 600 bài thơ và 15 tác phẩm lớn. 

Phan Huy Ích đã nhận định về ông: "Tài uyên bác thông đạt, trở thành ngọn cờ chót vót giữa rừng nho chúng ta". 

Thơ Ngô Thì Nhậm bao hàm nhiều mảng đề tài: Những bài thơ tức cảnh cho thấy ông có khả năng chộp bắt cái THẦN của mỗi đối tượng ông mô tả. Ví dụ chỉ với hai câu thơ: 

Khinh tuyết, ngạo sương, riêng bẩm tính 

Khuôn thiêng khéo đã đúc nên dày.

đã khắc họa một ấn tượng mạnh về cốt cách của "cây tùng đơn lẻ" - ngụ ý ca tụng cốt cách của một đấng trượng phu chân chính. 

Trong những bài thơ "ngôn chí", thơ "tư tưởng", ông trình bày những tư tưởng của một trí thức ở tầm cao của lịch sử, nêu bật những gì ông chấp nhận và những gì ông phủ nhận không khoan nhượng. Chẳng hạn, xét thời vua Lê - chúa Trịnh - chúa Nguyễn, ông viết: 

Vua - tôi đứng sững ba chân vạc, 

Ông, tế (ông nhạc, chàng rể) hằn nhau, nửa cuộc cờ! 

...Cương thường muôn thuở còn bia miệng, 

Hổ chọi, rồng tranh khéo vẽ trò!

Trong những bài thơ vịnh nhân vật lịch sử, ông bộc lộ những tình cảm khâm phục, thương xót... của mình với người xưa: Gia Cát Lượng, Giả Nghị, Nhạc Phi, Chiêu Quân, Văn Thiên Tường, Tô Đông Pha... Có thể dễ dàng nhận thấy ông tâm đắc. 

Mảng thơ vô cùng quí giá của Ngô Thì Nhậm là mảng thơ trữ tình, ở đó tình cảm đầy ắp của ông như tuôn trào dưới ngòi bút. Chẳng hạn, trên đường đi sứ Trung Hoa, gặp ngày sinh nhật của cha (Ngô Thì Sĩ), nhớ đến cha đã mất, ông viết: 

Xa xa xe hạc cách mây, 

Lấy ai rượu thọ chén đầy dâng cha? 

Rau thơm dâu cả ở nhà 

Vắng tin mai nở, sứ xa cõi ngoài...

Ngoài thơ, Ngô Thì Nhậm còn viết phú, và những bài "chiếu" làm thay vua Quang Trung, (như Nguyễn Trãi xưa viết thay Lê Lợi) mà người ta thấy ông đã lồng không ít những lý tưởng của ông trong đó: Chiếu lên ngôi vua (1788), Chiếu cầu hiền v.v... 



Có lẽ điều đáng tiếc nhất trong văn nghiệp của Ngô Thì Nhậm là ông đã không chú tâm sáng tác "thơ Nôm", nền thơ dân tộc mà những bậc tiền bối như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... đã dày công vun đắp. Tuyển chọn một số thi phẩm tiêu biểu viết bằng Hán văn của Ngô Thì Nhậm, được các dịch giả am tường Hán học dịch thành thơ Việt Nam, chúng tôi mong chuyển tải đến quí độc giả cái hơi thở nồng nàn của tâm hồn và trí tuệ một đấng sĩ phu kiệt xuất nửa cuối thế kỷ XVIII mà tấm lòng son của ông còn rạng rỡ mãi với sử xanh... 

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 06-1999 

KIỀU VĂN

IV. Văn bản Hán Văn của Hồ Chí Minh:

1. Mộ - Hồ Chí Minh



倦鳥歸林尋宿樹 

孤雲慢慢度天空 

山村少女磨包粟 

包粟磨完爐已烘
Mộ

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ 

Cô vân mạn mạn độ thiên không 

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc 

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.


Chiều tối (Người dịch: Nam Trân)

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, 

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không; 

Cô em xóm núi xay ngô tối, 

Xay hết, lò than đã rực hồng.


2. Vọng nguyệt望月 Hồ Chí Minh

望月

獄中無酒亦無花 

對此良宵奈若何 

人向窗前看明月 

月從窗隙看詩家

Phiên âm: Vọng nguyệt

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa, 

Đối thử lương tiêu nại nhược hà ? 

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt, 

Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

Dịch nghĩa: Ngắm trăng 

(Người dịch: Nam Trân)

Trong tù không rượu cũng không hoa, 

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ. 

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, 

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.


3. Tảo giải早解Hồ Chí Minh

早解

一次雞啼夜未闌 

群星擁月上秋山 

征人已在征途上 

迎面秋風陣陣寒 
東方白色已成紅 

幽暗殘餘早一空 

暖氣包羅全宇宙 

行人詩興忽加濃
Phiên âm: Tảo giải

Nhất thứ kê đề dạ vị lan 

Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san 

Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng 

Nghênh diện thu phong trận trận hàn. 
Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng 

U ám tàn dư tảo nhất không 

Noãn khí bao la toàn vũ trụ 

Hành nhân thi hứng hốt gia nồng.

Dịch nghĩa: Giải đi sớm (Người dịch: Nam Trân)

Gà gáy một lần đêm chửa tan, 

Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn; 

Người đi cất bước trên đường thẳm, 

Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn. 
Phương đông màu trắng chuyển sang hồng, 

Bóng tối đến tàn, quét sạch không; 

Hơi ấm bao la trùm vũ trụ, 

Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.



PHẦN III. BÀI TẬP
I. Bài tập phân biệt nghĩa:

1. Dựa vào ý nghĩa của chữ Minh, sắp xếp các từ ghép đã xáo trộn sau đây vào ô mang nghĩa tương ứng:

Minh 明

(Sáng, sáng suốt)



Minh 盟

(Thề thốt)



Minh 冥

(Tối tăm)



Minh 鸣

(Kêu, hót)



Minh 銘

(Khắc)

















U minh, minh mẫn, bi minh, thệ hải minh sơn, minh bạch, minh xác, minh hiển, minh tinh, minh điểu, minh khắc, minh khí, văn minh, minh nguyệt, cao minh, minh giám, quang minh lỗi lạc, đồng minh, liên minh, thanh minh, minh cảm, minh cổ, minh hội, minh oan, minh ước.

2. Dựa vào ý nghĩa của chữ Thanh, sắp xếp các từ ghép đã xáo trộn sau đây vào ô mang nghĩa tương ứng:

Thanh青

(Màu xanh)



Thanh清

(Trong, sạch)



Thanh聲

(Âm thanh)












Thanh xuân, thanh bạch, thanh niên, thanh tra, thanh tịnh, thanh trừ, thanh thiếu niên, thanh quy, thanh lý, thanh trừng, thanh cao, thanh khiết, thanh danh, thanh minh, thanh lương, thanh nhạc, thanh tân, thanh tú, thanh toán, thanh thế, thanh hưởng, thanh nhàn, thanh đạm, thanh liêm, thanh điệu, âm thanh, thanh sơn, thanh liên.

3. Dựa vào ý nghĩa của chữ , sắp xếp các từ ghép đã xáo trộn sau đây vào ô mang nghĩa tương ứng:

Vũ雨

(?)


Vũ武

(? )


Vũ舞

(?)


Vũ羽

(?)


Vũ宇

(?)

















Vũ lực, vũ bão, vũ nữ, vũ lượng, vũ thuật, vũ phu, lông vũ, vũ công, hoàn vũ, vũ kịch, vũ đài, vũ trang, vũ khí, vân vũ, võ sĩ, vũ trụ, vũ khúc, vũ mao, vũ lộ, vũ đạo, vũ trường, võ nghệ, vũ hội, quỳnh lâu ngọc vũ.

4. Xác định nghĩa của chữ Viên trong các trường hợp sau và phân nhóm, viết đúng hình thức chữ Hán của chữ Viên đó.

Lâm viên, viên nghệ, nhân viên, viên mãn, viên chức, cố viên, giáo viên, đoàn viên (Đoàn Thanh niên), (bữa cơm) đoàn viên, công viên, vận động viên, nhân viên, viên thành, hoa viên, phát thanh viên, đào viên.



5. Xác định nghĩa của chữ Nguyên trong các trường hợp sau và phân nhóm, viết đúng hình thức chữ Hán của chữ Nguyên đó.

Nguyên đán, đồng nguyên, nguyên tử, nguyên tiêu, nguyên lý, nguyên soái, nguyên liệu, nguyên thủ, nguyên tố, nguyên thủy, nguyên bản, thảo nguyên, nguyên âm, nguyên văn, nguyên hình, nguyên nhân, nguyên tắc, nguyên tác, Tam giáo đồng nguyên, Nguyên Thủy Thiên Tôn, cao nguyên, bình nguyên, trạng nguyên, Trung Nguyên, Tây Nguyên.



6. Dựa vào tự điển, hãy phân biệt các từ ngữ chỉ kiến trúc, nhà cửa sau: Gia家, thất室, trạch宅, đường堂, phủ府, cung宮, điện殿, viện院, đình庭, dinh營 (doanh), đài臺, điếm店, thự墅, phố鋪, xá舍, ốc屋, lầu樓, các閣, sảnh廳, phòng房, khố庫。

7. Dựa vào tự điển, hãy phân biệt các từ ngữ chỉ cơ sở thờ tự sau: Đình亭, chùa寺, miếu廟, quán觀, am庵, cốc谷, thất室, điện殿, đàn壇, viện院, các閣, dinh營, cung宮.

8. Dựa vào tự điển, hãy phân biệt các từ ngữ chỉ cái chết sau: tự ải自縊, tự giảo自絞, tự quyên khu 自捐軀(tự quyên sinh自捐生, tự quyên mạng自捐命), tự sát自殺, tự tận自盡, tự tử自死, tự thiêu自燒, tự trầm自沉, tự vẫn自刎, băng崩, hoăng薨, tốt卒, thất lộc失祿, tử死, vong亡。
II. Bài tập viết chữ Hán và giải thích nghĩa của chữ, từ, ngữ, thành ngữ:

1. Tra cứu và giải thích ý nghĩa các con cờ trong bàn cờ tướng.

2. Viết ra chữ Hán rồi giải thích nghĩa đen (nghĩa tường minh) và nghĩa bóng (nghĩa hàm ẩn) của các từ sau đây: tâm can, đầu não, can đảm, thủ túc, tâm phúc, đoạn trường, tâm huyết, nhiệt huyết, huyết quản, huyết thống, can trường.

3. Viết ra chữ Hán và giải thích nghĩa của các từ sau đây trên cơ sở giải thích nghĩa từng chữ: hợp lý, thất sắc, thành công, khai mạc, bãi chức, thất học, hoàn bị, tối đa, nhượng bộ, hiếu danh, công trái, chính phủ, nội các, thủ tướng, lưu manh, lỗ mãng, giao lưu, khẩu khí, Giao Chỉ, quy phạm, quy củ, phương phi, thủ đoạn, đinh ninh, nhiệt tình, thất tình, lục dục, bành trướng, độc đáo, tân lang, tân nương, hồng nương, quần thoa, hồng quần, bình thản, lãnh đạm, phấn chấn, phong tỏa, toại nguyện, tửu lượng…

4. Viết ra chữ Hán và giải thích nghĩa của các thuật ngữ văn học, báo chí, biên tập sau đây trên cơ sở giải thích nghĩa từng chữ: lãng mạn, hiện thực, tùy bút, tản văn, nhuận bút, nguyệt san, tuần san, biền văn, phú, hịch, chiếu, biểu, cáo, kệ, trào phúng, phúng thích, trào lộng, tài tử, thi nhân, trước tác, biên tập,

5. Viết ra chữ Hán và giải thích nghĩa của các từ có yếu tố Thương sau đây: Thương mại, thương cục, thương điếm, thương giới, thương hiệu, thương khách, thương nghiệp, thương phẩm, thương thuyền, thương trường, thương ước, thương vụ.

6. Viết ra chữ Hán và giải thích nghĩa của các từ có yếu tố Thảo sau đây: Thu thảo, thảo mộc, thảo khấu, thảo lư, thảo đường, thảo dã, thảo dân.

7. Viết ra chữ Hán và giải thích nghĩa của các từ có yếu tố Hòa sau đây: Hòa thuận, hòa bình, hòa hiếu, bất hòa, hòa mục, hòa hảo, hòa hoãn, hòa kết, hiền hòa, dung hòa, hòa hợp, hòa nhã.

8. Viết ra chữ Hán và giải thích nghĩa của các thành ngữ sau đây:

Tu mi nam tử

Cao phi viễn tẩu

Tái ông thất mã

Hành tẩu giang hồ

Vô danh tiểu tốt

Bách niên giai lão



Tang bồng hồ thỉ

Kim chi ngọc diệp

Nam tu nữ nhũ

Lang bạt kì hồ

Tha phương lữ thứ

Phong hòa vũ thuận



Hồng nhan bạc mệnh

Bĩ sắc tư phong

Bĩ cực thái lai

Cầm kì thi họa

Sắc cầm hảo hiệp

Loan phụng hòa minh




III. Bài tập sưu tầm:

1. Sưu tầm các câu đối và thành ngữ chữ Hán thường dùng để chúc Tết.

2. Sưu tầm các câu đối và thành ngữ chữ Hán thường dùng để chúc cô dâu, chú rể trong lễ cưới.

3. Sưu tầm và dịch nghĩa các tư liệu Hán Nôm hiện còn ở địa phương anh/ chị.



PHẦN IV. PHỤ LỤC
I. Tam thiên tự - Soạn giả Đoàn Trung Còn

thiên: trời. điạ: đất. 
cử : cất. tồn: còn. 
tử : con. tôn: cháu. 
lục: sáu. tam: ba 
gia: nhà quốc: nước 
tiền: trước hậu: sau 
ngưu: trâu mã: ngựa 
cự : cựa nha: răng 
vô : chăng hữu: có 
khuyển: chó dương: dê 
qui: về tẩu: chạy 
bái: lạy quỵ: quỳ 
khứ: đi lai: lại 
nữ: gái nam: trai 
đái: đai (thắt lưng) quan: mũ 
túc: đủ đa : nhiều 
ái: yêu tăng: ghét 
thức: biết tri: hay 
mộc: cây căn: rễ 
dị: dễ nan: khôn 
chỉ: ngon cam: ngọt 
trụ: cột lương: rường 
sàng:giường tịch: chiếu 
khiếm: thiếu dư: thừa 
sừ: bừa cúc: cuốc 
chúc: đuốc đăng: đèn 
thăng: lên giáng: xuống 
điền: ruộng trạch: nhà 
lão: già đồng: trẻ 
tước: sẻ 鷄雞kê: gà 
ngã: ta tha: khác 
bá: bác di: dì 
diên: chì tích: thiết 
dịch: việc công:công 
hàn: lông dực: cánh 
thánh: thánh hiền: hiền 
僊仙tiên: tiên phật: bụt 
lạo: lụt triều: triều 
diên: diều 鳳凤phượng: phượng 
trượng: trượngtầm: tầm 
bàn: mâm trản: chén 
kiển: kén ty: tơ 
mai: mơ lý: mận (cũng là họ Lý) 
tử: cặn thanh: trong 
hung:lòng ức: ngực 
mặc: mực chu: son 
kiều: non thục: chín 
thận: ghín (cẩn thận) liêm: ngay 
tư: tây mộ: mến 
chí: đến hồi: về 
()hương: quê 巿thị: chợ 
phụ: vợ phu: chồng 
nội: trong trung: giữa 
môn: cửa ốc: nhà 
anh: hoa đế: rễ 
phỉ:hẹ thông:hành 
thương: xanhbạch: trắng 
khổ: đắng toan: chua 
sô: sô giá: giá 
thạch: đá kim: vàng 
cù: đàng hạng: ngõ 
Đạc mõ chung: chuông 
Phương: vuông trực: thẳng 
Trác: đẳng hàm: hòm 
窥窺khuy:dòm sát: xét 
miện: lét chiêm: xem 
muội em tỷ: chị 
thị: thị đào điều 
cân:rìu phủ: búa 
cốc: lúa ma: vừng 
khương: gừnggiới: cải 
thị: phải phi: chăng 
duẫn: măng nha: mống (mầm) 
cổ: trống chinh: chiêng 
khuynh:nghiêng ngưỡng: ngửa 
bán: nửa song: đôi 
nhĩ: mồi luân: chỉ 
hầu: khỉ hổ: hùm 
đàm: chum (hũ,vò) cữu: cái cối 
mộ: tối triều: mai 
長长trường: dài đoản: ngắn 
xà: rắn tượng : voi 
vị: ngôi giai: thứ 
cứ: (chứng)cứ y:y 
quì: hoa quì hoắc: hoa hoắc 
các:gáclâu: lầu 
thị: chầu ca: hát 
phiến: quạt du: dù 
thu: mùa thu hạ: mùa hạ 
băng : giá vũ: mưa 
tiễn: đưa nghinh: rước 
thủy: nước nê: bùn 
khôi: hòn đôi: đống 
khiếm: súng liên: sen 
danh: tên tánh: họ 
cẩu: đó thuyên:nơm 
phạn: cơm 漿tương: nước 
xích: thước phân: phân 
cân: cân đẩu: đấu 
hùng: gấu báo: beo 
miêu: mèo thử: chuột 
tràng: ruột bối: lưng 
lâm: rừng hải: biển 
trí: để bài: bày 
chính:ngay tà: vạy 
thị: cậy kiều: nhờ 
碁棋kỳ: cờ bác: bạc 
lãn: nhác trắc: nghiêng 
trình: chiềng thuyết: nói 
hô: gọi triệu: vời 
sái: phơi chưng: nấu 
duệ: gấu (áo) khâm: tay (áo) 



II. Tam tự kinh (trích đọc) – Vương Ứng Lân:


人之初,性本善。性相近,習相遠。

苟不教,性乃遷。教之道,貴以專。

昔孟母,擇鄰處。子不學,斷機杼。

竇燕山,有義方。教五子,名俱揚。

養不教,父之過。教不嚴,師之惰。

子不學,非所宜。幼不學,老何為。

玉不琢,不成器。人不學,不知義。

為人子,方少時。親師友,習禮儀。

香九齡,能溫席。孝於親,所當執。

融四歲,能讓梨。弟於長,宜先知。

首孝弟,次見聞。知某數,識某文。

一而十,十而百。百而千,千而萬。

三才者,天地人。三光者,日月星。

三綱者,君臣義。父子親,夫婦順。

曰春夏,曰秋冬。此四時,運不窮。

曰南北,曰西東。此四方,應乎中。

曰水火,木金土。此五行,本乎數。

曰仁義,禮智信。此五常,不容紊。

稻粱菽,麥黍稷。此六穀,人所食。

馬牛羊,雞犬豕。此六畜,人所飼。

曰喜怒,曰哀懼。愛惡欲,七情具。

匏土革,木石金。與絲竹,乃八音。

高曾祖,父而身。身而子,子而孫。

自子孫,至玄曾。乃九族,人之倫。

父子恩,夫婦從。兄則友,弟則恭。

長幼序,友與朋。君則敬,臣則忠。

此十義,人所同。

凡訓蒙,須講究。詳訓詁,明句讀。

為學者,必有初。小學終,至四書。

論語者,二十篇。群弟子,記善言。

孟子者,七篇止。講道德,說仁義。

作中庸,子思筆。中不偏,庸不易。

作大學,乃曾子。自修齊,至平治。

孝經通,四書熟。如六經,始可讀。

詩書易,禮春秋。號六經,當講求。

有連山,有歸藏。有周易,三易詳。

有典謨,有訓誥。有誓命,書之奧。

我周公,作周禮。著六官,存治體。

大小戴,著禮記。述聖言,禮樂備。

曰國風,曰雅頌。號四詩,當諷詠。

Bản dịch Hán Việt - và giải nghĩa:

NHÂN CHI SƠ con người lúc nhỏ 

TÍNH BỔN THIỆN bản tính vốn thiện 

TÍNH TƯƠNG CẬN tính gần giống nhau 

TẬP TƯƠNG VIỄN do học tập nên khác nhau 

CẨU BẤT GIÁO nếu không được dạy 

TÍNH NÃI THIÊN tính sẽ thay đổi 

GIÁO CHI ÐẠO đường lối giáo dục 

QUÍ DĨ CHUYÊN quí ở chỗ chuyên tâm 

TÍCH MẠNH MẪU tích xưa mẹ của Mạnh Tử 

TRẠCH LÂN XƯ chọn láng giềng 

TỬ BẤT HỌC con không học 

ÐOẠN CƠ TRŨ cắt ngay khung dệt 

ÐẬU YẾN SƠN người họ Ðậu ở Yến sơn 

HỮU NGHI PHƯƠNG có phương pháp thích nghi 

GIÁO NGŨ TỬ dạy năm con trai 

DANH CỤ TRƯƠNG đều thành người có tên tuổi 

DƯỠNG BẤT GIÁO nuôi mà không dạy 

PHỤ CHI QÚA là lỗi của cha 

GIÁO BẤT NGHIÊM dạy mà không nghiêm 

SƯ CHI ÐỌA là lỗi của thầy 

TỬ BẤT HỌC người mà không học 

PHI SỞ NGHI không biết lễ nghi cư xử 

ẤU BẤT HỌC nhỏ mà không học 

LÃO HÀ VI già biết làm gì 

NGỌC BẤT TRÁC ngọc mà không mài dũa 

BẤT THÀNH KHÍ không thành đồ hữu dụng 

NHÂN BẤT HỌC người không học 

BẤT TRI LÝ không biết nghĩa lý 

VI NHÂN TỬ là con người 

PHƯƠNG THIẾU THỜI ngay lúc thiếu thời 

THÂN SƯ HỮU thân với thầy và bạn 

TẬP LỄ NGHI học tập lễ nghi 

HƯƠNG CỬU LINH Hương mới chín tuổi 

NĂNG ÔN TỊCH đã biết sưởi ấm chiếu 

HIẾU Ư THÂN hiếu với người thân 

SỞ ÐƯƠNG CHẤP phải giữ thành thói quen 

DUNG TỨ TUẾ Khổng Dung mới 4 tuổi 

NĂNG NHƯỢNG LÊ đã biết nhường trái lê 

ÐỄ Ư TRƯỞNG bổn phận trẻ đối với người lớn 

NGHI TIÊN TRI phải biết từ sớm 
ÐẦU HIẾU ÐỄ trước là hiếu 

THỨ KIẾN VĂN sau mới đọc sách vở 

TRI MỖ SỐ biết số học 

THỨC MỖ VĂN hiểu chữ nghiã 

NHẤT NHI THẬP một rồi mười 

THẬP NHI BÁCH mười rồi trăm 

BÁCH NHI THIÊN trăm rồi ngàn 

THIÊN NHI VẠN ngàn rồi vạn 

TAM TÀI GIẢ ba nguyên lực là 

THIÊN ÐỊA NHÂN trời, đất, người 
TAM QUANG GIẢ ba nguồn sáng 

NHẬT NGUYỆT TINH mặt trời, trăng và sao 

TAM CƯƠNG GIẢ ba giềng mối 

QUÂN THẦN NGHIÃ nghĩa vua và bầy tôi 

PHỤ TỬ THÂN tình cha con 

PHU PHỤ THUẬN vợ chồng hòa thuận 

VIẾT XUÂN HẠ gọi là xuân, hạ, 

VIẾT THU ÐÔNG gọi là thu, đông, 

THỬ TỨ THỜI đó là 4 mùa 

VẬN BẤT CÙNG chuyển vận không cùng 

VIẾT NAM BẮC gọi là nam bắc 

VIẾT TÂY ÐÔNG gọi là tây đông 

THỬ TỨ PHƯƠNG đó là bốn phương 

ỨNG HỒ TRUNG ứng với trung tâm 

VIẾT THỦY HỎA gọi là nước, lửa, 

MỘC KIM THỔ gỗ, kim khí, đất 

THỬ NGŨ HÀNH đó là ngũ hành 

BẢN HỒ SỐ làm căn bản cho số 

VIẾT NHÂN NGHĨA gọi là nhân nghĩa 

LỄ TRÍ TÍN lễ, trí, và tín 

THỬ NGŨ THƯỜNG đó là ngũ thường 

BẤT DUNG VĂN không được sai lệch 

ÐẠO LƯƠNG TÚC thóc, kê, gạo 

MẠNH THỬ TẮC lúa mạch, thử và tắc

THỬ LỤC CỐC đó là sáu loại hạt 

NHÂN SỞ THỰC người có thể ăn 

MÃ NGƯU DƯƠNG ngựa, bò, dê 

KÊ CẨU THỈ gà, chó, heo 

THỬ LỤC SÚC đó là 6 súc vật 
NHÂN SỞ TỰ người có thể nuôi 

VIẾT HỈ NỘ gọi là vui, giận 

VIẾT AI CỤ gọi là buồn, sợ 

ÁI Ố DỤC yêu, ghét, thích 

THẤT TÌNH CỤ đủ bảy (mức độ) tình cảm 

BẦU THỔ CÁCH vỏ bầu đất 

MỘC THẠCH KIM gỗ, đá, kim khí 

TI DỮ TRÚC dây tơ và tre trúc 

NÃI BÁT ÂM đó là tám loại âm 

CAO TẰNG TỔ kỵ, cụ, ông, 

PHỤ NHI THÂN cha tới bản thân 

THÂN NHI TỬ bản thân tơí con 

TỬ NHI TÔN con rồi tới cháu 

TỰ TỬ TÔN từ con cháu 

CHÍ HUYỀN TẰNG cho đến cháu chăt chít 

NÃI CỮU TỘ gồm có chín đời 

NHÂN CHI LUÂN là liên hệ căn bản 

PHỤ TỬ ÂN tình cha con 

PHU PHỤ TÒNG vợ tùng phục chồng 

HUYNH TẮC HỮU làm anh phải thân thiết 

ÐỆ TẮC CUNG làm em phải cung kính 

TRƯỞNG ẤU TỰ lớn nhỏ theo thứ tự 

HỮU DƯ BẰNG thân thiết với bằng hữu 

QUÂN TẮC KÍNH vua coi trọng bề tôi 

THẦN TẮC TRUNG bề tôi trung với vua 
THỬ THẬP NGHI đó là 10 nguyên tắc 

NHÂN SỞ ÐỒNG mội người đều như nhau 

PHÀM HUẤN MÔNG phàm dạy trẻ 

TU GIÃNG CỨU phải giảng giải tìm kiếm 

TƯỜNG HUẤN HỔ tường tận các lời dạy 

MINH CÚ ÐỘC rõ ràng câu chữ 

VI HỌC GIẢ là người có học 

TẤT HỮU SƠ tất phải có lúc khởi đầu 

TIỂU HỌC CHUNG hết sách Tiểu Học 

CHÍ TỨ THƯ tới sách Tứ Thư 

LUẬN NGỮ GIẢ sách Luận Ngữ 

NHỊ THẬP THIÊN có 20 chương 

QUẦN ÐỆ TỬ các đệ tử 

KÝ THIỆN NGÔN ghi lại lời tốt lành 

MẠNH TỬ GIẢ sách Mạnh Tử 

THẤT THIÊN CHỈ chỉ có 7 chương 

GIẢNG ÐẠO ÐỨC giảng đạo đức 

THUYẾT NHÂN NGHĨA nói chuyện nhân nghĩa 

TÁC TRUNG DUNG làm sách Trung Dung 

NÃI KHỔNG CẤP là do Khổng Cấp 

TRUNG BẤT THIÊN trung là không thiên lệch 

DUNG BẤT DỊ dung là không thay đổi 

TÁC ÐẠI HỌC làm sách Ðại Học 

NÃI TĂNG TỬ là do Tăng Tử 

TỰ TU TỀ từ tu thân tề gia 

CHÍ BÌNH TRỊ đến trị quốc, bình thiên hạ 

HIẾU KINH THÔNG thông hiểu Hiếu Kinh 

TỨ THƯ THỤC thành thạo Tứ Thư 

NHƯ LỤC KINH thì biết lục kinh 

TỬ KHẢ ÐỘC bắt đầu có thể đọc được 

THI THƯ DỊCH Kinh Thi, Thư, Dịch 

LỄ XUÂN THU Lễ Ký và Xuân Thu 

HIỆU LỤC KINH gọi là Lục Kinh 

ÐƯƠNG GIẢNG CẦU phải được giảng giải và nghiên cứu 

HỮU LIÊN SƠN có (kinh Dịch) của Liên Sơn 

HỮU QUI TÀNG của Qui Tàng 

HỮU CHU DỊCH của Kinh Chu 

TAM DỊCH XƯƠNG tường tận cả 3 Kinh Dịch đó 

HỮU ÐIỂN MÔ có điển cố, kế sách 

HỮU HUẤN CÁO có Huấn lệnh, Cáo lệnh 

HỮU THỆ MỆNH có Thệ mệnh lệnh 

THƯ CHI ÁO sách rất thâm sâu 

NGÃ CHÂU CÔNG ngài Châu Công của ta 

TÁC CHU LỄ làm sách Chu Lễ

TRƯỚC LỤC QUAN cùng sách Lục Quan 

TỒN TRỊ THỂ bảo tồn thể chế trị nước 

ÐẠI TIỂU TẠI anh em họ Tại 

CHÚ LỄ KÝ chú thích sách Lễ Ký 

THUẬT THÁNH NGÔN thuật lại lời thánh hiền 

LỄ NHẠC BỊ hoàn tất Lễ Nhạc 

VIẾT QUỐC PHONG nói về Quốc Phong 

VIẾT NHÃ TỤNG nói về Nhã và Tụng 

HIỆU TỨ THI là 4 phần của Kinh Thi 

ÐƯƠNG PHÓNG VỊNH nên ngâm đọc. 


III. Cảm hoài感懷 Đặng Dung鄧容

 感懷

世事悠悠奈老何  

無窮天地入酣歌  

時來屠釣成功易  

運去英雄飮恨多  

致主有懷扶地軸  

洗兵無路挽天河  

國讎未報頭先白 

幾度龍泉帶月磨

Phiên âm: Cảm hoài  - Đặng Dung  

 Thế sự du du nại lão hà,  

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca  

Thời lai, đồ điếu thành công dị,  

Sự khứ, anh hùng ẩm hận đa  

Tri chúa hữu hoài phù địa trục  

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà  

Quốc thù vị phục, đầu tiên bạch,  

Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma  


IV. Loạn thời亂時 (Trích Chinh phụ ngâm)– Đặng Trần Côn

天地風塵  

紅顏多屯  

悠悠彼蒼兮誰造因  

鼓鼙聲動長城月  

烽火影照甘泉雲  

九重按劍起當席  

半夜飛檄傳將軍  

清平三百年天下  

從此戎衣屬武臣  

使星天門催曉發  

行人重法輕離別  

弓箭兮在腰  

妻孥兮別袂  

獵獵旌旗兮出塞愁  

喧喧簫鼓兮辭家怨  

有怨兮分攜  

有愁兮契闊  

良人二十吳門豪  

投筆硯兮事弓刀  

直把連城獻明聖  

願將尺劍斬天驕  

丈夫千里志馬革  

泰山一擲輕鴻毛  

便辭閨閫從征戰  

西風鳴鞭出渭橋  

Loạn thời 

Thiên địa phong trần  

Hồng nhan đa truân  

Du du bỉ thương hề thuỳ tạo nhân  

Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt  

Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân  

Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch  

Bán dạ phi hịch truyền tướng quân  

Thanh bình tam bách niên thiên hạ  

Tùng thử nhung y thuộc vũ thần  

Sứ tinh thiên môn thôi hiểu phát  

Hành nhân trọng pháp khinh ly biệt  

Cung tiễn hề tại yêu  

Thê noa hề biệt khuyết  

Liệp liệp tinh kỳ hề xuất tái sầu  

Huyên huyên tiêu cổ hề từ gia oán  

Hữu oán hề phân huề  

Hữu sầu hề khế khoát  

Lương nhân nhị thập Ngô môn hào  

Đầu bút nghiên hề sự cung đao  

Trực bả liên thành hiến minh thánh  

Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêu  

Trượng phu thiên lý chí mã cách  

Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao  

Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến  

Tây phong minh tiên xuất Vị kiều  

V. Mối quan hệ giữa tản văn, phú và biền văn trong hệ thống thể loại văn học Trung Quốc
1. Đặt vấn đề

Tản văn là một trong những thể loại quan trọng của văn học Trung Quốc. Nhiều ý kiến cho rằng, từ khi có văn tự để ghi chép thì đã bắt đầu có thể loại tản văn. Các tài liệu giáp cốt thời cổ đại Trung Quốc ghi chép lại nội dung chiêm bói, cũng như các bài minh được khắc trên chuông đỉnh thời đó tuy nội dung còn thô sơ, nhưng ghi chép sự việc (tự sự) đã khá hoàn chỉnh, ngôn ngữ sinh động, có thể xem là hình thức cổ xưa nhất của tản văn Trung Quốc. Trải qua hơn 3000 năm phát triển cho đến nay, tản văn trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra sự hình thành và hưng thịnh của các thể loại văn học khác, trong đó, tiêu biểu nhất là phú và biền văn.

Khái niệm tản văn cũng được xác định theo nhiều góc độ khác nhau. Nếu nhìn từ nghĩa hẹp, tản văn, phú và biền văn là ba thể loại văn học độc lập nhau. Còn xét từ nghĩa rộng, phú và biền văn đều là những thể loại nhỏ thuộc tản văn, được hình thành trên nền tảng đặc trưng thể loại của tản văn. Hơn nữa, khái niệm tản văn truyền thống cũng khác xa với khái niệm tản văn phổ biến hiện nay. Khái niệm tản văn truyền thống được dùng để phân biệt với văn vần (vận văn), bao gồm những trước tác thuộc các lĩnh vực văn - sử - triết, có hoặc không có đặc tính văn học và sử dụng các thủ pháp sáng tác của văn học cổ điển. Trong khi khái niệm tản văn từ phong trào Ngũ Tứ trở về sau chịu ảnh hưởng của lí luận văn học phương Tây, được dùng để phân biệt với thơ ca, tiểu thuyết và hí kịch; chỉ bao hàm những sáng tác mang đặc tính văn học và sử dụng các thủ pháp sáng tác của văn học hiện đại. Bài viết này sử dụng khái niệm tản văn dưới góc nhìn truyền thống.
2. So sánh đặc trưng thể loại của tản văn, phú và biền văn




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương