Tính liên văn hóa trong văn xuôi việt nam đƯƠng đẠI



tải về 328.84 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích328.84 Kb.
#3306

TÍNH LIÊN VĂN HÓA TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI (NHÌN TỪ TRƯỜNG HỢP HỒ ANH THÁI)

Thái Phan Vàng Anh

1. Khởi thủy, tư duy của loài người là tư duy nguyên hợp. Khởi nguồn của các ngành khoa học chuyên biệt cũng là sự giao thoa kiểu “văn sử triết bất phân”. Nói vậy để thấy sự liên hệ, tương tác qua lại giữa các quan niệm về văn hóa vốn ẩn sâu trong tiềm thức, trong những ứng xử văn hóa của nhân loại, dù quan niệm về một ngành triết học liên văn hóa chỉ mới được hình thành vào cuối thập kỉ 80 của thế kỉ XX. Liên văn hóa dựa trên yếu tố cốt tử là đối thoại văn hóa, với đích đến là sự quy tụ văn hóa. Đối thoại văn hóa lại vận động, phát triển theo quy luật vận động và phát triển của lịch sử xã hội loài người. Đối thoại văn hóa xuất hiện ngay khi có hơn hai nền văn hóa cùng hiện diện (văn hóa giữa các tộc người, văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc trong các mối quan hệ bang giao, trong nỗ lực xâm chiếm, đồng hóa của nước lớn đối với nước bé...). Tuy vậy, đối thoại văn hóa chỉ thực sự trỗi dậy đặc biệt mạnh mẽ vào cuối thể kỉ XX và đầu thế kỉ XXI khi thế giới trở nên đa cực, khi đối thoại là hình thức duy nhất để nhân loại cùng tồn tại, phát triển trong một “thế giới phẳng” và quy tụ về văn hóa, hướng đến những giá trị phổ quát. Đây chính là lí do khiến sự xuất hiện của triết học liên văn hóa nhanh chóng được đón nhận và vận dụng trong nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, trong đó có văn học nghệ thuật.

Lịch sử đã chứng minh Việt Nam là quốc gia rất chủ động trong việc giao lưu và tiếp biến văn hóa, dù trong nhiều hoàn cảnh, khởi điểm của những tiếp nhận văn hóa ấy vốn là những cuộc “cưỡng bức” văn hóa. Đối thoại văn hóa, tương tác văn hóa là câu chuyện không mấy xa lạ trong văn học Việt Nam, tự cổ chí kim. Song, phải đến cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI, tính chất tương tác văn hóa đa chiều mới thật sự được thể hiện đậm đặc trong văn học, khi Việt Nam chủ động mở cửa, hội nhập với thế giới và giới văn nghệ sĩ đã được “cởi trói” ở nhiều phương diện. Tính liên văn hóa trong văn học Việt Nam đương đại là hệ quả tất yếu của sự bùng nổ của truyền thông, internet; sự phì đại của hiện thực, thông tin; sự đổ vỡ của các hệ chuẩn duy nhất; sự lên ngôi của các yếu tố ngoại biên hay sự xóa nhòa của những đường biên ranh giới thông thường... Truyền thống “viện dẫn” tinh hoa văn hóa nhân loại trong văn học quá khứ cũng là một yếu tố khiến liên văn hóa hầu như không tạo nên những cú sốc văn hóa lớn trong quá trình tiếp nhận của người đọc Việt Nam.

Khác với khái niệm đa văn hóa vốn chỉ đề cập sự tham gia đồng thời của nhiều yếu tố thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau; liên văn hóa chú ý đến sự tương tác văn hóa giữa tối thiểu là hai nền văn hóa. Quan hệ liên văn hóa nhấn mạnh đến sự bình đẳng trong các đối thoại văn hóa, từ chối các quan niệm trung tâm hóa kiểu “dĩ Âu vi Trung”. Trong văn học, liên văn hóa cũng là một xu hướng tất yếu khi các nhà văn chuyển từ việc nhận thức đời sống chỉ từ góc nhìn dân tộc tính sang một cái nhìn đa chiều hơn, ưu tiên hướng đến đến những giá trị mang tầm nhân loại. Mĩ học hiện đại, hậu hiện đại với việc đề cao tính phản truyền thống, phản quy phạm, phi trung tâm, đại chúng hóa; chú trọng đến tính liên văn bản, đan kết nhiều lớp diễn ngôn trong một văn bản văn học... cũng là những tiền đề quan trọng khiến văn học ngày càng hiển lộ rõ tính liên văn hóa. Văn hóa đọc trong thời đại toàn cầu hóa cũng đã khiến quan niệm hoặc tương đối văn hóa chủ nghĩa (cho rằng những người thuộc về những nền văn hóa khác nhau sẽ không thể hiểu nhau); hoặc phổ quát văn hóa chủ nghĩa (tin rằng con người ở bất kì một nền văn hóa nào cũng có thể hiểu nhau dựa trên những đặc điểm phổ quát về nhân học), bị lung lay ở tận gốc rễ. Cách đọc hoặc “lấy mình làm trung tâm” để nhận thức một nền văn hóa khác với kiểu tư duy của “chủ nghĩa duy ngã văn hóa”, hoặc đọc từ những “điểm mù văn hóa”, trở nên không còn phù hợp để tiếp cận các hiện tượng văn học đa dạng/khác biệt trên toàn thế giới. Đọc như là hình thức “giao tiếp liên văn hóa” trở thành cách đọc cần thiết trong thời đại mỗi độc giả đều có thể được khoác danh xưng độc giả toàn cầu. Giao tiếp liên văn hóa thông qua hoạt động đọc, mặt khác cũng lại là yếu tố khiến văn học hướng dần đến những giá trị mang tầm nhân loại, thông qua các đối thoại văn hóa trong các tác phẩm văn chương.

2. Đề cao tiếp biến văn hóa hơn là chối bỏ văn hóa hay thụ động chịu sự đồng hóa về văn hóa, Việt Nam có truyền thống dung hòa, hòa hợp văn hóa. Điều này cũng có phần do Việt Nam là quốc gia có nhiều tộc người, nhiều vùng văn hóa khác nhau. Vậy nên, không có gì ngạc nhiên khi tư tưởng của L. Wittgenstein với chủ trương tìm kiếm cách thức đạt đến sự thống nhất trong những đa dạng của các quan niệm, các biểu hiện văn hóa giữa nhiều quốc gia, dân tộc dễ dàng được chấp nhận. Và vừa trùng hợp về quan niệm, vừa có phần tiếp thu tinh thần của triết học liên văn hóa, nhiều nhà văn Việt Nam, nhất là các nhà văn đương đại đã rất có ý thức trong việc đưa văn hóa Việt Nam ra với thế giới, đối thoại với các nền văn hóa khác, thông qua ngôn ngữ văn chương. Nhiều tác giả, tác phẩm trở thành những nhịp cầu văn hóa kết nối Việt Nam với Asean, với vùng Đông Á, với phương Tây hay với toàn thế giới (tiêu biểu có thể kể đến tác phẩm của một số nhà văn trong nước và hải ngoại như Hồ Anh Thái, Irasara, Mai Văn Phấn, Trần Thùy Mai, Nguyễn Xuân Khánh, Phan Việt, Dương Thụy, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê, Nguyễn Hữu Nam, Nam Lê, Minh Thùy, Lê Ngọc Mai, Thế Dũng, Phạm Hải Anh, Mai Ninh....) Văn học, nhất là văn xuôi, mang tính liên văn hóa tuân theo quy luật vận động của văn học hiện đại/hậu hiện đại trong nỗ lực hòa vào dòng chảy chung của văn học thế giới. Tuy vậy, tính liên văn hóa không tồn tại như một bình diện cụ thể trong tác phẩm văn học mà chỉ là một lập trường, một quan niệm, một thái độ hay một sự thức nhận về sự đối thoại, tương tác văn hóa, được hiển lộ với các mức độ khác nhau trên nhiều phương diện của văn bản.

Liên văn hóa thể hiện cái nhìn chủ động trong đối thoại văn hóa trước hết của chính nhà văn. Trong số những nhà văn cùng một thời đại, cùng một quốc gia, cùng một phông văn hóa chung, vẫn có một số tác giả “nổi lên” như những nhà văn toàn cầu, nhờ một số điều kiện, đặc điểm riêng trong đời sống, trong sự nghiệp hay trong việc lựa chọn đối tượng phản ánh. Các nhà văn Việt Nam sống ở hải ngoại là một trường hợp tiêu biểu. Hoặc viết bằng ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ (các nhà văn gốc Việt như Nam Lê, Nguyễn Thanh Việt, Linda Lê, Dương Như Nguyện,  Barbara Tran, Andrew Lâm, Monique Truong...); hoặc viết cho độc giả Việt từ phương trời Tây (như Nguyễn Văn Thọ, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Minh Thùy, Lê Minh Hà, Lê Ngọc Mai, Thế Dũng, Phạm Hải Anh, Mai Ninh...); các cây bút hải ngoại luôn đem vào trang văn những sự “dùng dằng” văn hóa. Có cái trì níu từ nguồn cội của văn hóa Việt trước văn hóa phương Tây. Cũng có cái hụt hẫng, đổ vỡ khi từ những quan niệm văn hóa “khác”, từ cái nhìn văn hóa “bên ngoài” để nhận diện về văn hóa Việt. Cho dù không phải lúc nào cũng đạt đến sự bình đẳng văn hóa như quan niệm lí tưởng của thuyết liên văn hóa, song, trong thực tế, bằng cách “trưng” ra các phương diện văn hóa khác biệt, soi chiếu từ cái nhìn dung hòa của chủ nghĩa khái quát văn hóa và chủ nghĩa tương đối văn hóa; các nhà văn hải ngoại đã ít nhiều tạo nên những cuộc tranh luận, đối thoại văn hóa bằng văn chương; đưa văn chương Việt đến gần hơn với thế giới và hòa vào quỹ đạo chung của văn học thế giới.

Không “tất yếu” như các nhà văn sống ở hải ngoại, song các nhà văn trong nước vẫn có thể mang một trường nhìn liên văn hóa nếu biết vượt qua những “điểm mù văn hóa” và chủ động trong giới thiệu, đối thoại và hội nhập văn hóa. Hồ Anh Thái là một kiểu tác giả liên văn hóa tiêu biểu. Hồ Anh Thái hội đủ các điều kiện để trở thành một nhà văn toàn cầu (anh được sống, trải nghiệm, học tập, nghiên cứu từ nhiều môi trường văn hóa khác nhau; công việc, khả năng ngoại ngữ cũng góp phần giúp anh trở thành một nhà văn thông hiểu nhiều nền văn hóa...). Văn xuôi Hồ Anh Thái, do vậy, mang đậm tính liên văn hóa, ngồn ngộn những tranh luận, đối thoại/đa thoại về văn hóa. Từ các tập truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng kim tưc, Người bên này trời bên ấy đến các tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi, Dấu về gió xóa, Những đứa con rải rác trên đường hay tản văn Hà Nội hướng nào cũng sông, tạp bút Namaskar! Xin chào Ấn Độ, Salam! Chào xứ Ba Tư..., có thể thấy văn chương của Hồ Anh Thái luôn tràn ngập các thông tin văn hóa. Ngay cả khi không giấu được triệt để cái nhìn chủ quan, giễu nhại của người kể chuyện tác giả trong các tác phẩm văn xuôi hư cấu, Hồ Anh Thái cũng không bao giờ “trao” chân lí cho bất kì một chủ thể văn hóa nào trong những cuộc tranh luận văn hóa mà anh bày biện ra. Tác giả tôn trọng nguyên tắc đa dạng và khác biệt văn hóa; cũng như ý thức rõ về sự bình đẳng văn hóa; cho dù những đụng độ, va chạm văn hóa chưa bao giờ thôi diễn ra trong đời sống xã hội của loài người.



Một trong những phạm trù cơ bản, đầu tiên của lí thuyết liên văn hóa là sự khác biệt. Sự khác biệt văn hóa lại là tiền đề của phạm trù thứ hai, tính đối thoại về văn hóa. Trên tinh thần đối thoại, văn xuôi hư cấu của Hồ Anh Thái nói nhiều về những khác biệt này. Có những khác biệt về sắc tộc, chính trị, tôn giáo giữa các quốc gia, dân tộc (Người Ấn, Cuộc đổi chác, Dấu về gió xóa). Có những khác biệt trong nhận thức, văn hóa ứng xử với tự nhiên và xã hội giữa các cộng đồng, tộc người (Đàn kiến, Tiếng thở dài qua rừng kim tưc, Đức Phật, nàng Savitri và tôi).Văn xuôi Hồ Anh Thái cũng thường đề cập những xung đột, đối thoại giữa các giá trị văn hóa bản địa và văn hóa ngoại lai (ời lẻ một đêm, Nhng đứa con rải rác trên đưng, Người bên này trời bên ấy). Sự đấu tranh nhằm xóa nhòa những bất bình đẳng trong địa vị văn hóa Đông Tây cũng là một “đích đến” ở nhiều tác phẩm của Hồ Anh Thái. Có thể xem truyện Người Ấn là tác phẩm tiêu biểu. Truyện đề cập chủ yếu mối quan hệ giữa Navin, một anh chàng hướng dẫn viên du lịch người Ấn và Katherine Robson, một phụ nữ phương Tây, theo chồng đến Ấn Độ, và say mê những bí ẩn của xứ sở, con người nơi đây. Navin hấp dẫn Katherine bởi vẻ đẹp đáng yêu nhưng khó hiểu theo kiểu những ngôi đền Ấn. Và bằng lối sống tự do, bình đẳng kiểu phương Tây, bằng những ham muốn thể xác không nề hà thứ bậc, bà chủ Katherine đã xóa bỏ “ý thức về đẳng cấp mấy nghìn năm của Ấn Độ” ở Navin; đưa anh sang trời Tây, biến anh thành một kiểu công dân quốc tế. Tuy vậy, ngay cả khi đạt đến những tận cùng của hòa hợp thể xác; sự khác biệt văn hóa vẫn in đậm trong suy nghĩ của cả Navin và Katherine. Katherine bị hấp dẫn bởi cái những cái bí ẩn, khác biệt. Song trong sâu thẳm của khát vọng sở hữu, chiếm lĩnh, nàng vẫn muốn Âu hóa Navin, vẫn ghê tởm những chướng ngại văn hóa phương Đông mà anh không thể từ bỏ (cái ba lô mang hài cốt của người mẹ và lời thề không bao giờ xa mẹ của Navin). Nhờ Katherine, Navin đã có thể tự hào là người Ấn trước cả thế giới, đã đi khắp các phương trời Âu Á. Thế nhưng, vẫn không gì có thể khiến Navin từ bỏ chiếc ba lô mang hài cốt mẹ, biểu tượng của tính cách Ấn ở anh. Mối quan hệ của Navin và Katherine tan vỡ bởi không thể hòa hợp đến tận cùng những khác biệt văn hóa. Hồ Anh Thái cũng không thể ngăn cản những xung đột, va chạm văn hóa ngay cả khi con người đã biết và hiểu về “cái khác”. Tuy vậy, bằng cách để cho nhân vật không phán xét về những khác biệt văn hóa của nhau, để nhân vật được ngạc nhiên, thú vị về những nền văn hóa bên ngoài; truyện Người Ấn đã thể hiện một cái nhìn bình đẳng về văn hóa. Không đúng, không sai; không hơn cũng không kém, tất cả chỉ là khác biệt. Và dù luôn có ý thức đưa các văn hóa, văn học trên thế giới đến gần nhau, rút ngắn những khoảng cách định kiến trong những khác biệt giữa các nền văn hóa, văn học dân tộc; những đối thoại văn hóa trong văn xuôi Hồ Anh Thái không nhằm hướng đến chân lí, đến những tương đồng phổ quát bởi sự hòa hợp, hội tụ văn hóa hiếm khi đạt đến tận cùng. Hẳn Hồ Anh Thái và nhân vật của anh biết rõ điều ấy. Cái Hồ Anh Thái muốn khẳng định và khai mở ở người đọc chính là sự bình đẳng về văn hóa. Độc giả không chỉ cần được biết thêm về những đa dạng, khác biệt hay tương đồng về văn hóa, mà còn cần có cái nhìn bình đẳng về văn hóa, nếu muốn trở thành một kiểu độc giả liên văn hóa, độc giả toàn cầu.

Bình đẳng, đối thoại về tôn giáo là một chủ đề trở đi trở lại trong nhiều trang văn của Hồ Anh Thái. Tiểu thuyết Dấu về gió xóa với rất nhiều luận bàn về tôn giáo và biểu tượng đền Đa giáo trên Đảo xanh, bối cảnh của tiểu thuyết, là một ví dụ tiêu biểu. Trong thế kỉ XXI, “thế kỉ của tôn giáo”, Đảo xanh, có thể được xem là nơi chốn thiên đường của tôn giáo, khi mà mọi tôn giáo cùng được tôn trọng như nhau: “Chuông nhà thờ đánh sut ngày, ban đu là đánh chuông cho ngưi Tin lành, người Thiên Chúa giáo, sau rung chuông cho ngưi Hinđu, người Hồi giáo người Hỏa giáo, sau thỉnh chuông cho Phật giáo”. Ngôi đền Đa giáo trên Đảo xanh cũng thật đặc biệt khi có chính điện hình bát giác bày tỏ quan điểm Bát chính đạo của Phật giáo và “mỗi cạnh đặt một bệ thờ của một tôn giáo chính” (Thiên chúa giáo, Phật giáo, Đạo Hinđu, đạo Sikh, đạo Jain, Hồi giáo, Hỏa giáo...). Trong đền thơ Đa giáo, người theo tôn giáo thứ chín trở đi thì được cầu nguyện ở vị trí tâm điểm của tòa bát giác, ở bệ thờ được đặt chính giữa đền. Như vậy, không ai không được thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh khi vào ngôi đền Đa giáo ở Đảo xanh. Trước tôn giáo, con người bình đẳng như nhau. Trong đền thờ Đa giáo, mọi tôn giáo cũng đều bình đẳng. Mọi sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo trở nên không còn có ý nghĩa. Bởi cho dẫu mang một đức tin nào, con người cũng đều được thỏa mãn việc được thực hành tụng niệm trong một nơi linh thiêng, được hướng về một đấng tối cao qua kinh sách, qua những lời truyền của nhà sáng lập. Vấn đề vốn khó hòa hợp nhất của con người – hòa hợp tôn giáo trở nên nhẹ bẫng. Có thể nói, bằng tư duy biểu tượng hóa, bằng những triết luận về tôn giáo đậm đặc, tiểu thuyết Dấu về gió xóa cũng như nhiều tác phẩm khác của Hồ Anh Thái luôn hướng đến sự quy tụ về văn hóa, nhất là khi tính cộng hợp từ những đa dạng văn hóa chính là đích đến của xã hội toàn cầu hóa hiện nay.

Đối thoại thường xuất phát từ sự khác biệt. Song, mục đích của đối thoại suy cho đến cùng là để tìm kiếm những điểm tương đồng. Không duy lí đến mức tin tưởng vào cái phổ quát văn hóa dành cho mọi cộng đồng, dân tộc, triết học liên văn hóa hướng đến những điểm tương đồng trên nền tảng của những khác biệt văn hóa. Với tinh thần ấy, văn xuôi Hồ Anh Thái vẫn đề cập đến những nét tương đồng, xuất phát từ những phương diện mang tính bản thể của mọi tồn tại. Lúc này, tương đồng văn hóa trở thành cơ sở để giao thoa, hội nhập văn hóa, đáp ứng nhu cầu toàn cầu hóa trên nhiều phương diện, trong đó có văn chương. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Anh Thái là một trong những tác giả Việt Nam đương đại có nhiều tác phẩm được xuất bản, phát hành ở nhiều nước trên thế giới. Hồ Anh Thái biết cách “xuất khẩu” văn học, biết cách đón trước tầm đón nhận của bạn đọc quốc tế. Quan trọng hơn, tác phẩm của Hồ Anh Thái đáp ứng được tính chất “lạ mà quen” vốn làm nên tính hấp dẫn của văn chương. Lạ bởi văn xuôi Hồ Anh Thái gây tò mò nhờ những nét văn hóa Việt, văn hóa phương Đông mà phần lớn người phương Tây chưa hiểu hết. Lạ còn bởi những đánh giá, đối thoại lại với những giá trị tưởng chừng như độc tôn, bất biến... từ một cái nhìn khác về Tây phương. Tuy thế, lạ mà không gây ra dị ứng, lạ mà vẫn giữ chân những độc giả quốc tế đến cuối tác phẩm, đi từ tác phẩm này sang tác phẩm khác, là bởi cách tư duy nghệ thuật và bút pháp Hồ Anh Thái vẫn tuân theo những quy tắc chung của trò chơi ngôn ngữ, của lối viết hiện đại/hậu hiện đại.

Thật ra, văn xuôi Hồ Anh Thái hấp dẫn độc giả trong và ngoài nước theo một cách thức như nhau, tuy chiều hướng có ngược nhau. Bởi bản chất của sức hút ở tác phẩm Hồ Anh Thái chính là những đối thoại từ những điểm tương đồng và khác biệt văn hóa. Người đọc thuộc bất kỳ một nền văn hóa nào cũng có nhu cầu được biết về một nền văn hóa khác, được tự nhìn lại những giá trị văn hóa của dân tộc mình từ địa vị của phía bên kia. Nhờ tính liên văn hóa, văn xuôi Hồ Anh Thái đáp ứng đòi hỏi này của cả hai phía độc giả. Trong vai trò của một kiểu tác giả liên văn bản, Hồ Anh Thái cũng phần nào nâng những người đọc của anh lên tầm độc giả toàn cầu. Chẳng hạn với tập truyện Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Hồ Anh Thái đã giúp người đọc Việt Nam tự nhìn lại văn hóa Việt qua những khác biệt văn hóa Đông Tây vốn được hiển lộ rõ trong phong tục, tập quán, hay cách tư duy, quan niệm của người Ấn. Cái tự ti về đẳng cấp của anh chàng Navin trước ông bà chủ người phương Tây trong câu chuyện Người Ấn; cái mặc cảm về màu da và ước muốn giao du với người ngoại quốc của một cô gái từng là vũ nữ devadasi trong Cuộc đổi chác... không xa lạ mấy với những người Việt tự ti, sính ngoại trong buổi đầu hội nhập quốc tế, xem phương Tây là chuẩn mực. Ý chí, sự kiên định, sức chịu đựng không giới hạn, sức mạnh của lớp người yếu thế... ở nhân vật Ananda trong Ngưi đứng một chân cũng là những đặc điểm Ấn Độ tính ít nhiều tương đồng với tính cách của người Việt trước những đụng độ với văn hóa phương Tây. Nói như Krishna Pandey, “những dòng chữ của Hồ Anh Thái là những mũi kim châm cứu Á Đông đã điểm trúng huyệt tính cách Ấn Độ” và còn hơn thế. Qua những thân phận phụ nữ Ấn Độ, Hồ Anh Thái cảnh báo về những tội ác do hủ tục, do quan niệm lạc hậu mà nhiều phụ nữ phương Đông hay phụ nữ của hầu hết các nước nghèo trên thế giới đều dễ dàng trở thành nạn nhân. Hay qua việc một anh chàng người Đức tự biến mình thành người Ấn Độ và thất bại thảm hại, Hồ Anh Thái cũng phơi bày ra những cái kì quặc, không thể hiểu nổi của văn hóa phương Tây, của người phương Tây, từ cái nhìn của những công dân phương Đông, công dân Ấn Độ (Cuộc đi chác, Đàn kiến). Phải chăng, nhờ vào những nét tương đồng văn hóa mà độc giả Việt Nam đã đón nhận dễ dàng tập truyện Hồ Anh Thái viết trước hết cho những độc giả người Ấn. Và phải chăng cũng từ những khác biệt văn hóa mà tập truyện thấm đẫm tinh thần Ấn Độ của Hồ Anh Thái thu hút mạnh mẽ đối với bạn đọc thế giới và Việt Nam.



Là một kiểu tác giả liên văn hóa, Hồ Anh Thái rất có ý thức khi lựa chọn lối viết tùy theo những đề tài, chủ đề khác nhau. Khái niệm phong cách hiểu theo nghĩa ổn định về một kiểu viết bất biến dường như không phù hợp với Hồ Anh Thái. Hồ Anh Thái có thể xây dựng những không gian nghệ thuật xuyên quốc gia, đa dân tộc và chỉ hướng đến những không gian mất bản sắc dân tộc tính dù giễu nhại hay khẳng định lối sống “hội nhập” trong thời đại toàn cầu hóa (Người bên này trời bên ấy, Những đứa con rải rác trên đường). Tác giả cũng có thể chỉ đề cập đến những không gian văn hóa đặc thù của một giống người, một dân tộc với cái nhìn khi ngưỡng mộ, khi xót thương (Đến muộn, Đi khỏi thung lũng mới đến nhà). Nghệ thuật kể chuyện, phương diện đặc sắc nhất, trong thi pháp văn xuôi Hồ Anh Thái, cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc gia tăng cái nhìn đối thoại về văn hóa. Với kiểu người kể chuyện công dân toàn cầu (người kể chuyện với nhiều trải nghiệm văn hóa – có khi là nhân vật xưng tôi kể về những nếm trải, chứng kiến văn hóa của bản thân; có khi là một vai kể với chức năng khám phá thế giới đa văn hóa và sự tương tác giữa các nền văn hóa); với cái nhìn đa chiều kích và những quan niệm mang tầm nhân loại; mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái luôn là một câu chuyện văn hóa lớn. Ở đó tư tưởng đối thoại tư tưởng; ở đó các thân phận con người được đặt cạnh nhau, soi chiếu nhau; xuyên không gian, xuyên thời gian, bất luận tương đồng hay khác biệt về văn hóa. Với tinh thần đối thoại ấy, ngôn ngữ văn xuôi Hồ Anh Thái cũng đa dạng và linh hoạt. Có ngôn ngữ trang nhã, huyền bí khi bàn về tôn giáo. Có ngôn ngữ dung tục, suồng sã của đời sống, của mạng xã hội khi bàn đến những nhốn nháo, lệch chuẩn của thứ văn hóa lai căng. Tiếng Anh như là một thứ ngôn ngữ quốc tế cũng thường được Hồ Anh Thái đưa vào tác phẩm giúp người đọc hiểu thêm những khái niệm, thuật ngữ mang tầm quốc tế ở nhiều lĩnh vực (khoa học, chính trị, ngoại giao, tôn giáo...). Tiếng Anh trong văn chương Hồ Anh Thái cũng có khi là thứ tiếng Anh được Việt hóa đến phản cảm, ngô nghê, nhằm giễu nhại những rỗng tuếch, nông cạn của những người thiếu hiểu biết, thiếu những nền tảng văn hóa cần thiết. Không phải không có lúc Hồ Anh Thái tỏ ra quá gay gắt, thiếu bao dung đối với loại người “lùn văn hóa”. Tuy vậy, ẩn sau những giễu nhại sâu cay ấy là những đau đớn, tuyệt vọng của nhà văn trước những tha hóa của loại người thiếu kháng thể khi đụng độ những phương diện văn hóa mới. Nồng nhiệt giới thiệu các giá trị văn hóa bên ngoài, tha thiết tôn vinh những nét đẹp của văn hóa dân tộc, hay gay gắt phê phán những gì phản văn hóa, vô văn hóa, suy cho đến cùng, tác phẩm nào của Hồ Anh Thái cũng nhằm để hiểu con người hơn, không phải chỉ khi anh ta thuộc về một nền văn hóa duy nhất mà cả khi anh ta được/bị bao quanh bởi những nền văn hóa vừa tương đồng, vừa khác biệt. Có thể nói, nhờ cái nhìn liên văn hóa, Hồ Anh Thái đã mang vào trang văn của mình “tính cộng hợp của những khuôn mẫu văn hóa đa dạng” [3]. Đây mới là yếu tố làm nên một phong cách Hồ Anh Thái riêng biệt, cho dù tác giả có thay đổi, biến hóa đến mấy trong những nỗ lực làm mới “lối viết”.

3. Bản balat Đông - Tây (The Ballad of East and West) của Rudyard Kipling được mở đầu và kết thúc bằng bốn câu thơ đầy ý nghĩa:

Đông là Đông và Tây là Tây và cả hai không bao giờ gặp nhau.

Cho đến khi Đất và Trời hiện diện trước Ngôi Phán Xét của Thượng Đế

Nhưng cũng không phân biệt Đông hay là Tây, biên giới hay dòng giống hay bẩm sinh 
Khi hai người mạnh mẽ đứng đối diện nhau, dù họ có đến từ tận cùng thế giới!”





(Oh, East is East, and West is West, and never the two shall meet,




Tll Earth and Sky stand presently at God’s great Judgment Seat;




But there is neither East nor West, Border, nor Breed, nor Birth,




When two strong men stand face to face, tho’ they come from the ends of the earth).[9]




Hẳn khi viết những vần thơ trên, Rudyard Kipling không hề nghĩ mình đang bàn đến tính liên văn hóa, mà sự khác biệt và kết nối Đông Tây là minh chứng hùng hồn nhất. Như Đông và Tây “cả hai không bao giờ gặp nhau”, thế giới vẫn luôn tồn tại những nền văn hóa, những quan niệm văn hóa khác biệt. Song, ranh giới Đông Tây hoàn toàn có thể được rút ngắn, sự khác biệt văn hóa vẫn luôn có thể được khắc phục, nếu con người dám đối diện, đối thoại và chủ động kết nối. Cuối thế kỉ XIX, Rudyard Kipling đã tin tưởng vào sự gặp gỡ từ hai thế giới cách biệt Đông Tây. Hơn một thế kỉ sau, kết nối Đông Tây trở thành xu hướng tất yếu của thời đại toàn cầu hóa. Dĩ nhiên, những khác biệt Đông Tây vẫn còn đó, những va chạm, đụng độ văn hóa vẫn còn tiếp tục diễn ra. Song, từ cái nhìn liên văn hóa, khác biệt hay tương đồng không còn quá quan trọng. Quan trọng hơn cả là sự thông hiểu, là những đối thoại văn hóa, không chỉ giữa Đông - Tây, mà giữa tất cả các vùng, các nền văn hóa vừa tách bạch vừa giao thoa. Trong thế giới phẳng hôm nay, khi đường biên văn hóa ngày một nhòe mờ, không còn đồng nhất với đường biên địa lí của vùng miền, quốc gia, khu vực; việc nhận diện đời sống văn hóa, chính trị, xã hội của con người càng cần chú trọng đến tính liên văn hóa. Nghiên cứu văn học từ cái nhìn liên văn hóa, nhận diện văn học Việt Nam đương đại từ kiểu nhà văn liên văn hóa (chẳng hạn như trường hợp Hồ Anh Thái) ít nhiều đã mở ra một hướng nghiên cứu liên ngành nhiều triển vọng.

Nguồn: Văn ngh quân đội, 4-2017



TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lê Huy Bắc, Văn chương như ký hiệu đa văn hóa, http://vannghequandoi.com.vn/Binh-luan-van-nghe/van-chuong-nhu-ki-hieu-da-van-hoa-9208.html
    1. Thomas, David C. & Inkson, Kerr (2004), Cultural Intelligence, Berrett-Koehler Publishers, San Francisco.

    2. Hyundok, Choe (2008), Triết hc liên văn hóa: Khái nim và lch sử” (Lương M Vân dch, Trn Tun Phong hiu đính), Tp chí Triết hc, s 2 (201), tháng 2.

    3. Nguyn Vũ Ho (2009), Giao tiếp liên văn hoá trong bi cnh toàn cu hoá: Mt s vn đ triết hc, http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/giao-tiep-lien-van-hoa-trong-boi-canh-toan-cau-hoa-mot-so-van-de-triet-hoc .

    4. Varner, Iris & Beamer, Linda, Intercultural Communication in the Global Workplace, 3 rd Ed., McGraw-Hill/Irwin, New York, 2005

    5. Journet, Nicolas, Đa văn hóa như là mt lý thuyết xã hi hin đi (Nht Anh lưc dch, http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/llvhh-nhung-van-de-chung/2297-nicolas-journet-da-van-hoa-nhu-la-mot-ly-thuyet-xa-hoi-hien-dai.html

    6. Thái Kim Lan (2014), Triết hc liên văn hóa, http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=7158&CategoryID=41, 20/01/2014]

    7. Maddocks, Ralph (2004), East is east and west is west... did Kipling get it right?, http://www.quebecoislibre.org/04/040915-6.htm

    8. Rudyard, Kipling (), The Ballad of East and West, http://www.bartleby.com/246/1129.html

    9. Nguyn Phú (2016), Đông Tây giao thoa, http://nhipcauthegioi.hu/Van-hoa/DONG-TAY-GIAO-THOA-5161.html


11. Krishna Pandey, The East Asian acupuncture to the Indian characteristics, The Times of India, 1993.

tải về 328.84 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương