TưƠng quan giữa bạo hành gia đÌnh và trầm cảM Ở thai phụ thành phố HỒ chí minh



tải về 173 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu19.11.2017
Kích173 Kb.
#2266

TƯƠNG QUAN GIỮA BẠO HÀNH GIA ĐÌNH VÀ TRẦM CẢM Ở THAI PHỤ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn thị Như Ngọc1, Phạm thành Đức2, Nguyễn Văn Trương3, Trần thị Mỹ Duyên4


Bạo hành do những người thân trong gia đình ngày càng trở thành một vấn đề của sức khỏe cộng đồng. Ước tính của những nghiên cứu về bạo hành trong vòng một năm trước thai kỳ dao động trong khoảng 4–26%. Bạo hành gia đình (BHGĐ) không chỉ ảnh hưởng rõ rệt trên sức khỏe thể xác mà còn ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe tâm trí của phụ nữ. Phụ nữ có nhiều nguy cơ bị bạo hành hơn trong thời kỳ hậu sản. Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ trên 1387 thai phụ đến khám thai và sinh tại BV Hùng Vương, BV Phụ sản Quốc tế, BV Đa khoa Thủ Đức và Hóc Môn, sử dụng bộ câu hỏi CTS2 đễ phát hiện bạo hành và công cụ để sàng lọc trầm cảm sau sinh Edinburgh EPDS phỏng vấn trước sinh và 4-6 tuần sau sinh. Kết quả: Trong số 778 phụ nữ bị BHGĐ trước sinh, nguy cơ bị trầm cảm cao hơn 7,6 lần so với nhóm không bị BH; tỷ lệ này là 6,2 lần sau khi đã kiểm soát các yếu tố khác.

Domestic violence (DV) by intimate partners is becoming more and more a public health concern. Researches estimated that DV within one year before pregnancy varies from 4% to 26%. DV has its impact not only on physical but also psychological health of women. Women are at more risk in post-partum period. Method: This was a prospective cohort study on 1387 pregnant women coming for antenatal care and delivery at Hungvuong hospital, Saigon International Obstetrics and Gynecology Hospital, General District hospitals of Thuduc and Hocmon. CTS2 for detection of DV and EPDS questionnaires as a screening tool of post natal depression were used to interview women before and 4-6 weeks after delivery. Results: 778 women victims of DV before birth has an increased risk of post-natal depression 7,6 times compared to those without DV, this risk was 6,2 times after controlling for other factors.


  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Bạo hành do những người thân trong gia đình ngày càng trở thành một vấn đề của sức khỏe cộng đồng. Ước tính của những nghiên cứu về bạo hành trong vòng một năm trước thai kỳ dao động trong khoảng 4–26%.1 Các nghiên cứu ở Nicaragua, Chi Lê, Ai Cập và Cambodia báo cáo cứ 4 người thì có một người bị bạo hành thể xác hay tình dục trong thời gian mang thai do người phối ngẫu.2 Điều này cho thấy bạo hành đối với người phụ nữ thường gặp hơn những biến chứng của thai kỳ như tiểu đường và tiền sản giật, là những bệnh lý thường xuyên được sàng lọc.

Phụ nữ có nhiều nguy cơ bị bạo hành hơn trong thời kỳ hậu sản. Một nghiên cứu tại Thuỵ Điển cho thấy 24% phụ nữ bị đe dọa bạo hành hay lạm dụng thể xác, tình dục trong thời kỳ hậu sản.3 Trong thời kỳ hậu sản, Gielen ghi nhận bạo hành gia đình tăng cao từ 10–19% và mức độ trầm trọng hơn so với thời kỳ tiền sản.4

Bạo hành ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống được Leung nghiên cứu trên các nhóm 1614 bệnh nhân sản phụ khoa tại Hồng Kông cho thấy tỉ lệ chung 7,2% phụ nữ được phỏng vấn báo cáo đã từng bị bạo hành; có đến 12,7% ở nhóm đến phá thai; trong khi chỉ có 1,8% ở nhóm đến khám hiếm muộn; 4,7% bệnh nhân phụ khoa và 10,9% nhóm sản khoa. So với nhóm không hề bị bạo hành, chỉ số chất lượng cuộc sống trung bình của nhóm có bị bạo hành thấp hơn có ý nghĩa cả về sức khỏe thể xác, tinh thần, lẫn môi trường sống và các mối quan hệ xã hội.5

Bạo hành gia đình không chỉ ảnh hưởng rõ rệt trên sức khỏe thể xác mà còn ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe tâm trí của phụ nữ. Leung và cộng sự trong một nghiên cứu tiền cứu vào năm 2000–2001 trên 838 phụ nữ đến sinh tại một bệnh viện giảng dạy tại Hồng Kông ghi nhận tỉ lệ bạo hành gia đình được thổ lộ là 16,6%; sử dụng thang điểm trầm cảm sau sinh của Edinburgh (EPDS) và hệ thống chỉ số hằng ngày của Stein (SDSS) vào ngày 2 hay 3 sau sinh, 1–2 ngày sau xuất viện và 6 tuần sau sinh đều cho thấy chỉ số EPDS cao hơn có ý nghĩa trong nhóm bị bạo hành so với nhóm không, quan sát này ngược lại với chỉ số SDSS.6

Điều này cũng tương tự ở các nước phát triển; Bacchus và cộng sự thực hiện một nghiên cứu tại Anh mặc dù cỡ mẫu nhỏ cũng cho thấy chỉ số EPDS ở những phụ nữ mang thai đã từng bị bạo hành cao hơn so với nhóm chứng (9,2 so với 7,7 với p=0,006). Biến chứng sản khoa như chảy máu trước 37 tuần, vỡ ối sớm, cao huyết áp, đau lưng, nghén nặng, thiếu máu, tiểu đường, tiền sản giật, nhiễm trùng tiểu, quan sát được cho thấy nguy cơ tăng ở nhóm bạo hành (OR=3,2 CI 1,4–7,3) kể cả sau khi đã được hiệu chỉnh với những yếu tố nguy cơ khác như tuổi, hút thuốc lá, và các đặc điểm kinh tế xã hội khác.7

Thang điểm phương thức mâu thuẫn (Conflict Tactics Scales) do Strauss đề xuất, được sử dụng trong nhiều nghiên cứu từ 1992 với hơn 70.000 đối tượng tham gia từ nhiều nền văn hoá khác nhau, trên ít nhất 20 quốc gia và đã được đánh giá.8 Năm 1996 được hiệu chỉnh (Revised Conflict Tactics scales–CTS2) nhằm đo đạc thêm những lần tấn công của người phối ngẫu và việc sử dụng kĩ năng thương thuyết

Công cụ để sàng lọc trầm cảm sau sinh Edinburgh EPDS bao gồm có 10 câu hỏi về cảm giác của phụ nữ trong tuần lễ vừa qua, được phát triển nhằm giúp cho những nhân viên y tế tuyến cơ sở tại Livingston và Edinburgh khởi thủy sử dụng để phát hiện các bà mẹ bị trầm cảm sau sinh nhưng hiện đã được đánh giá (validate) để sử dụng cả trước sinh. Theo nghiên cứu của Bacchus ở điểm cắt 12/13 khi sử dụng sau sinh, phụ nữ có nhiều khả năng bị bệnh trầm cảm ở một mức độ nào đó; nếu thực hiện trước sinh, những phụ nữ đạt ngưỡng 14/15 có khả năng cao bị loạn thần (dysphoria) trong thai kỳ.9 Tuy nhiên chỉ số EPDS cần được kiểm chứng lại bằng chẩn đoán lâm sàng để xác định chẩn đoán. Trong những trường hợp nghi ngờ, bảng câu hỏi nên được thực hiện lại sau 2 tuần. Thang điểm này không dùng để phát hiện những bệnh tâm thần hay rối loạn nhân cách.

Nhằm đánh giá mối tương quan giữa BHGĐ và trầm cảm ở phụ nữ mang thai chúng tôi tiến hành một nghiên cứu đoàn hệ trên thai phụ tại TP.HCM tại Bệnh viện Hùng Vương, Bệnh viện Phụ sản Quốc Tế, khoa sản Bệnh viện Hóc Môn, khoa sản Bệnh viện Thủ Đức đến khám thai trong khoảng thai kỳ 36 tuần trở lên. Phỏng vấn được thực hiện lần đầu nhằm thu thập những đặc điểm của đối tượng, phát hiện bạo hành v à trầm cảm trong thời kỳ mang thai với thang điểm CTS2 và EPDS; sau đó thu thập thông tin liên quan đến tình trạng sức khoẻ của sản phụ và thai nhi trong vòng 24g sau sinh; sản phụ được phỏng vấn lần 2 vào 4-6 tuần sau sinh. Đối với những sản phụ không trở lại tái khám, tìm mọi cách liên lạc bằng thư, đến nhà hay phỏng vấn qua điện thoại.




  1. KẾT QUẢ

Nghiên cứu thu nhận tổng cộng 1450 phụ nữ (có tuổi thai trên 36 tuần và có địa chỉ rõ ràng, cho phép liên lạc trở lại sau sinh) từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2012, trong đó số mất dấu 0,9% còn lại 1387 phụ nữ hoàn tất phỏng vấn.

Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu 29.05 ± 4.79 với trình độ học vấn trung bình là 11 năm (11,2 ± 3,9); trong khi đó ở người chồng là 32.7 ± 6.25 và 11,6 ± 4,0. Tỉ lệ lao động trí óc gần với lao động chân tay (ở vợ là 33,2% và 30,1%; chồng 40,6% và 44,1%). Không có thai phụ nào sử dụng ma tuý, chỉ 0,2% có thói quen hút thuốc và uống rượu.


Bảng 1. Đặc điểm dân số nghiên cứu




N=1387

%

Tình trạng hôn nhân







Chung sống

1385

99,9

Li dị

2

0,1

Nhà ở







Riêng

693

50

Với GĐ vợ/chồng

694

50

Tình trạng kinh tế gia đình







Nghèo/khó khăn

52

3.8

Trung bình

1246

89.8

Khá giả/giàu

89

6,4

Vùng cư ngụ







Nội thành

1078

77,7

Ngoại thành

309

22,3

Luật phòng chống BLGĐ







Biết

746

53,8

Không biết

641

46,2

Gần 50% các cặp vợ chồng sống riêng; số còn lại sống chung với gia đình bên vợ hoặc bên chồng. Đa số có tình trạng kinh tế gia đình trung bình, 77% cư ngụ trong nội thành tương đương với phân bố chung của thành phố; hơn phân nửa phụ nữ biết có luật phòng chống bạo lực gia đình tại Việt Nam.



Bảng 4. Tỉ lệ trầm cảm chung

EPDS

Trước sinh

N=1387(%)

95% KTC


Sau sinh

N=1387 (%)

95% KTC


Chỉ số EPDS ± SD

[Khoảng]

3,6 ± 0,05

[0 – 22]


3,5–3,7

3,1 ± 0,04

[0 – 21]


3,0–3,2

13*

51 (3,7)




27(2)




< 13

1336 (96,3)




1360 (98)




* Pearson χ2 = 1,05 Pr = 0.3

Trước sinh 51 (3,7%) phụ nữ có chỉ số EPDS từ 13 trở lên so với 27 (2%) người sau sinh, sự thay đổi này không có ý nghĩa thống kê.



Bảng 5. Tỷ lệ trầm cảm trước sinh ở thai phụ có và không BHGĐ trước sinh




BHGĐ +

N (%)

BHGĐ -

N(%)

Tổng

Trầm cảm +

46 (5,9)

5 (0,8)

51 (3,7)

Trầm cảm -

732 (94,1)

604 (99,2)

1336 (96,3)

Tổng

778 (100)

609 (100)

1387 (100)

Pearson chi2= 25 Pr < 0.001

Trong số 778 phụ nữ bị BHGĐ trước sinh, 5,9% bị trầm cảm so với 0.8% ở nhóm không bị BHGĐ trước sinh; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.



Bảng 6. Tỷ lệ trầm cảm sau sinh ở nhóm thai phụ có và không BHGĐ trước sinh




BHGĐ +

N (%)

BHGĐ -

N (%)

Tổng

Nguy cơ Trầm cảm +

18 (2,3)

9 (1,5)

27 (2)

Nguy cơ Trầm cảm -

760 (97,7)

600 (98,5)

1360 (98)

Tổng

778 (100)

609 (100)

1387 (100)

Pearson chi2 = 1.25 Exact Pr = 0.3

Trong 778 phụ nữ bị BHGĐ trước sinh; 2,3% có nguy cơ trầm cảm sau sinh so với 1,5% ở nhóm không bị bạo hành. Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, có thể do số quan sát được khá ít.



Bảng 7. Tương quan giữa BHGĐ trước sinh và trầm cảm trước sinh

Bất kỳ hình thái

Nguy cơ trầm cảm -

Nguy cơ trầm cảm +

Tổng

EPDS <13

EPDS >=13




BHGĐ (-)

604 (99,2)

5 (0,8)

609 (100)

BHGĐ (+)

732 (94,1)

46 (5,9)

778 (100)

Tổng

1336 (96,3)

51 (3,7)

1387 (100)

Ở những phụ nữ bị bất kỳ một hình thái BHGĐ nguy cơ trầm cảm trước sinh tăng 7,6 lần; OR=7,6 ± 3,6 [95% KTC 2,9 – 21,8]; nguy cơ này tăng lên 10,3 khi phụ nữ bị cả hai hình thái thể xác và tình dục.



Hình 1. Những đặc điểm dân số có liên quan với BHGĐ



Bảng 8. Các yếu tố có tương quan đa biến với BHGĐ trước sinh




OR

95% KTC

Trầm cảm trước sinh

6,2 ± 3,0

2,4 – 16,1

Kinh tế gia đình nghèo

2,3 ± 1,9

2,9 – 10,9

Chồng trí thức

1,8 ± 0,3

1,3 – 2,6

Thai kỳ mong muốn

0,6 ± 0,1

0,4 – 0,9

Biết luật BLGĐ

0,5 ± 0,1

0,4 – 0,6

Tiền sử phá thai

1,5 ± 0,3

0,8 – 2,2

Học vấn vợ

1,0 ± 0,1

0,9 – 1,2

Sống chung/riêng

0,8 ± 0,1

0,7 – 1,1

Số con sống (từ 1 trở lên)

0,9 ± 0,1

0,7 – 1,1

Khi xét tương quan đa biến chung giữa các yếu tố và BHGĐ, trầm cảm vẫn có tương quan mạnh nhất với BHGĐ; kinh tế gia đình nghèo và trình độ học vấn của chồng có tương quan khá cao. Thai kỳ được mong muốn và biết có luật BLGĐ làm giảm nguy cơ bị BH 40 – 50%. Tiền sử phá thaivẫn còn khuynh hướng tăng nguy cơ mặc dù không có ý nghĩa.Nghề nghiệp của vợ chồng, số con sống, hoàn cảnh sống, tiền sử phá thai không còn tương quan có ý nghĩa.


Bảng 9.Tương quan giữa BHGĐ sau sinh và Trầm cảm sau sinh





EPDS <13


EPDS >=13


Tổng

BHGĐ (-)

700 (98,5)

11 (1,5)

711 (100)

BHGĐ (+)

660 (97,6)

16 (2,4)

676 (100)

Tổng

1360 (98)

27 (2)

1387 (100)

Tương quan không có ý nghĩa giữa trầm cảm và BHGĐ sau sinh với OR = 1,5 ± 0,6 [95% KTC 0,7 – 3,3]. Tuy nhiên, khi xét phụ nữ bị 2 hình thái BHGĐ, trong 10 phụ nữ vừa bị BH thể xác và tình dục, nguy cơ này tăng 13,5 lần.


  1. BÀN LUẬN

Chỉ số EPDS trung bình trong nghiên cứu 3,6 và 3,1 trước và sau sinh; nguy cơ bị trầm cảm (EPDS>12) thay đổi không đáng kể từ 3,7% trước sinh đến sau sinh 2%. Kết quả này khác với nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh năm 200045 rất cao đến 33% mặc dù sử dụng cùng thang điểm. Sự khác biệt có thể do điều kiện kinh tế xã hội đã thay đổi, trong nghiên cứu trước đây tỉ lệ thai kỳ được mong muốn chỉ có 71% (358/506) so với tỉ lệ 90,7% trong nghiên cứu hiện nay;nghề nghiệp chồng không ổn định (45% làm nghề tự do) cao hơn, đặc biệt hơn 96% chị em phải tự chăm sóc con về ban đêm so với hiện nay hầu hết phụ nữ được sự trợ giúp chăm sóc con cả ngày lẫn đêm trong thời kỳ hậu sản.

Trong một nghiên cứu mới đây57khi đánh giá so sánh các thang điểm sàng lọc, các rối loạn tâm thần thông thường tại Việt Nam, tác giả Thạch Trần ghi nhận điểm cắt 3 trên 4 của thang điểm EPDS cho độ nhạy (ĐN) (69,7%) và độ đặc hiệu (ĐĐH) (72,9%) lý tưởng nhất; nếu với điểm cắt này chúng tôi có đến 62,1% và 67,6% phụ nữ có chỉ số EPDS trước sinh và sau sinh từ 4 điểm trở lên. Điểm cắt cho thang điểm này thay đổi tùy theo từng quốc gia; 6/7 ở Thái Lan58cho ĐN và ĐĐH là 74% trong khi Teng ở Đài Loan sử dụng điểm cắt 12/1359như ở nghiên cứu của chúng tôi, đạt đến 96% ĐN và 85% ĐĐH.

Tương quan giữa BHGĐ và trầm cảm được ghi nhận nổi bật trong nghiên cứu với nguy cơ cao hơn 6 lần. Trong một nghiên cứu ở Nicaragua, Ellsberg sau khi kiểm soát các yếu tố khác, phát hiện phụ nữ bị bạo hành phải trải qua những căng thẳng tinh thần cao gấp 6 lần những phụ nữ không bị bạo hành.15 Cũng như Stark, phụ nữ ở Mỹ bị chồng hay bạn tình đánh đập phải điều trị tâm lý cao gấp 4–5 lần so với phụ nữ không bị bạo hành.16

Kết quả 90,2% (46/51) những phụ nữ trầm cảm đã từng bị BHGĐ nói chung tại thành phố Hồ Chí Minh, ghi nhận của Karmaliani ở Pakistan năm 2009ở những phụ nữ bị trầm cảm, 42% có bị BH tâm lý và/hay tình dục và 23% bị BH bằng lời nói so với 8% nhóm không bị BH.17

Mezey18 lý giải sự tương quan này do người phụ nữ thường dễ bị tổn thương và cảm thấy phụ thuộc nhiều vào tình cảm của người phối ngẫu trong giai đoạn hậu sản và hậu quả là BHGĐ trong giai đoạn này thường có tác động nặng nề hơn vì ảnh hưởng đến sức khỏe và sự an toàn của cả bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Trong một nghiên cứu về Sức khỏe Phụ nữ và Bạo hành Gia đình năm 2005, Y Tế Thế Giới ghi nhận những phụ nữ đã từng bị người phối ngẫu bạo hành thể xác hay tình dục hoặc cả hai, cho biết họ bị trầm cảm (distress) nặng và thường xuyên có ý nghĩ tự tử hay đã mưu toan tự tử hơn những phụ nữ không bị BH.19



Phụ nữ bị BH trước sinh có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn 7,6 lần so với nhóm không bị BH; tỷ lệ này là 6,2 lần sau khi đã kiểm soát các yếu tố khác. Nghiên cứu này một lần nữa khẳng định mối tương quan giữa BHGĐ và sức khỏe tâm trí, đặc biệt là trầm cảm của người phụ nữ nhất là trong giai đoạn nhạy cảm như mang thai và hậu sản; khi bị BH người phụ nữ có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn 6 lần; điều này cần sự lưu ý đặc biệt vì nó có thể đưa đến những ảnh hưởng tiềm tàng cho việc chăm sóc thai nhi cũng như sự phát triển tâm sinh lý của trẻ sau này.
Tài liệu tham khảo

  1. Martin SL, Mackie L et al. Physical abuse of women before, during and after pregnancy. J Am Assoc 2001; 285: 1581-1584.

  2. The World Health Organization. World report on Violence and Health. Geneva: WHO 2000.

  3. Hedin-Widding L. Postpartum, also a risk period for domestic violence. Eur J obstet gynecol 2000; 89:41-45.

  4. Gielen A. O’Campo PJ, et al. Interpersonal conflict and physical violence during the childbearing year. Soc Sci Med 1994; 39:781-787.

  5. TW Leung, WC Leung, EHY Ng, PC Ho. Quality of life of victims of intimate partner violence. Int J of Gynecol and Obstet (2005) 90, 258-262.

  6. Schei B, Samuelsen SO, Bakketeig LS. Does spousal physical abuse affect the outcome of pregnancy. Scand J Soc. Med 1991; 19:26-31.

  7. CL Moraes, AR Amorim, ME Reichenheim. Gestational weight gain differentials in the presence of intimate partner violence. Int J of Gynecol Obstet (2006) 95, 254-260.

  8. Murray A Strauss, Sherry L Hamby, Sue Boney McCoy, David B Sugarman. The Revised Tactics Scales: Development and Preliminary Psychometric Data. J of Fam Issue Vol 17, No. 3, May 1996 283-316.

  9. Lorain Bacchus, Gillian Mezey, Susan Bewley. Domestic violence in pregnant women and associations with physical and psychological health. European J of Obstet &Gynecol and Reproductive Biology 113 (2004) 6-11.

  10. Amaro H, Fried LE et al. Violence during pregnancy and substance abuse. Am J Public Health 1990; 80:575-9.

  11. O’Campo P, Gielen AC, Faden RR, Kass N. Verbal abuse and physical violence among a cohort of low-income pregnant women. Womens Health Issues 1994; 4:29-37.

  12. Bullock LF, McFarlane J. The birth weight/battering connection. Am J Nurs 1989;89:1153-5.

  13. Hillar PJA. Physical abuse in pregnancy. Obstet Gynecol 1985; 66:185-90.

  14. Swee may Cripe, Sixto E Sanchez et al. Association of intimate partner physical and sexual violence with unintended pregnancy among pregnant women in Peru. Int J Gynecol Obstet 92008) 100, 104-108.

  15. Ellsberg M, Caldera T, Herrera A, Winkvist A, Kullgren G. Domestic Violence and Emotional Distress Among Nicaraguan Women: Results From a Population-Based Study. American Psychologist. 1999;54(1):30-6.

  16. Stark E, Flitcraft A. Spouse Abuse. Rosenburg M, Fenley M ed. New York: Oxford University Press; 1991.

  17. Karmaliani R, Asad N, Bann CM, Moss N, Mcclure EM, Pasha O, Wright LL, Goldenberg RL. Prevalence of anxiety, depression and associated factors among pregnant women of Hyderabad, Pakistan. Int J Soc Psychiatry.2009 Sep;55(5):414-24. Epub 2009 Jul 10.

  18. Mezey G, Bacchus L, Bewley S, White S. Domestic violence, lifetime trauma and psychological health of childbearing women BJOG, 2005; 112197-204.

  19. Claudia García-Moreno et al.WHO multi-country study on women’s health and domestic violence against women: initial results on prevalence, health outcomes and women’s responses. Geneva, World Health Organization, 2005.




1 Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu và Tư Vấn SKSS

2 BV Quốc Tế Phụ Sản Sài Gòn

3 BV Hùng Vương

4 BV Đa Khoa Khu vực Hóc Môn


tải về 173 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương