Tổng kết kinh nghiệM


- Đọc sách giúp rèn luyện năng lực ngôn ngữ



tải về 253.19 Kb.
trang2/4
Chuyển đổi dữ liệu01.11.2017
Kích253.19 Kb.
1   2   3   4

- Đọc sách giúp rèn luyện năng lực ngôn ngữ


Đọc sách thực chất là một quá trình giao tiếp, khi đó tác giả quyển sách và bạn là những nhân vật tham gia giao tiếp. Chỉ có điều quá trình giao tiếp này diễn ra một chiều, những vấn đề tác giả nói đến đi sâu vào trí não và hình thành tư duy ở bạn. Đọc sách một thời gian lâu, bạn sẽ biết trình bày vấn đề một cách khúc chiết, mạch lạc, suôn sẻ, gọn gàng dễ hiểu. Không chỉ vậy, nhờ loại hình giao tiếp đặc biệt này, bạn sẽ tinh tế hơn khi cảm nhận, phán đoán những cảm xúc, thái độ của người khác. Bạn sẽ hình thành những phản xạ và sự nhạy cảm, linh hoạt cần thiết để xử lý vấn đề. Chẳng hạn, bạn biết nói bằng ngữ điệu thế nào, khi nào nói khi nào ngưng, khi nào đặt câu hỏi khơi gợi, khi nào pha trò tạo cảm hứng mới ở người tham gia giao tiếp…

Đọc càng nhiều, bạn càng có được thêm nhiều từ vựng, chúng sẽ trở thành vốn từ hàng ngày của bạn. Nói lưu loát và thu hút là lợi thế trong bất cứ ngành nghề nào. Việc đọc hỗ trợ nhiều cho sự nghiệp của bạn.

Đọc sách cũng giúp ích nhiều cho việc học ngôn ngữ mới. Khi bạn sử dụng một ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ, nếu được tiếp xúc với những từ được dùng trong từng ngữ cảnh, khả năng nói cũng như viết của bạn sẽ thông thạo hơn.

- Đọc sách giúp sống tốt trong xã hội và làm người

Đọc sách thể dục thể thao, bạn sẽ biết rèn luyện sức khỏe dẻo dai bền bỉ hơn. Đọc sách triết học, bạn sẽ nhận ra những quy luật và những diễn biến ý thức hệ trong cuộc sống, từ đó hình thành cách nhìn và cách nghĩ của bản thân. Đọc sách vật lý bạn hiểu biết về quy luật vận động của thế giới tự nhiên hơn, từ đó ứng dụng vào cuộc sống. Đọc sách văn học bạn sẽ hình thành cảm xúc, thái độ hợp lý trước mọi cảnh ngộ, cuộc đời; xây dựng đời sống hài hòa, nhân văn, có chiều sâu… Tóm lại, sách đem đến cho con người một cuộc sống tốt đẹp, hòa hợp giữa bản thân với cộng đồng, môi trường, xã hội và cả nhân loại.



- Đọc sách giúp kích thích tinh thần

Giống như bất kỳ các cơ quan khác trong cơ thể, não đòi hỏi phải được tập thể dục để luôn mạnh khoẻ. Khi bạn đọc sách, bạn phải ghi nhớ các nhân vật và thông tin về họ. Có thể là hơi nhiều nhưng não là một thứ tuyệt vời, chúng có thể nhớ tất cả những điều này dễ dàng. Rất kì diệu, mỗi ký ức mới sẽ khiến não tạo ra nếp nhăn mới và củng cố nếp nhăn cũ, hỗ trợ việc nhớ lại và cân bằng cảm xúc.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đọc sách giúp kích thích tinh thần. Sự kích thích tinh thần giúp làm chậm lại tiến độ hoặc thậm chí có thể ngăn chặn căn bệnh Alzheimer và mất trí nhớ, giữ cho bộ não của bạn hoạt động và tham gia ngăn không cho bị mất năng lượng.

- Đọc sách giúp thư giãn

Bất kể bạn gặp bao nhiêu căng thẳng trong công việc, các mối quan hệ cá nhân, hay vô vàn các vấn đề khác phải đối mặt trong cuộc sống hàng ngày, tất cả sẽ biến mất khi bạn tập trung vào một câu chuyện thú vị. Một cuốn sách hay có thể đưa bạn tới một thế giới khác, một bài báo hấp dẫn sẽ giúp ổn định bạn trong thời điểm hiện tại, khiến tình trạng căng thẳng dần dần tan biến và cho phép bạn thư giãn.

Ngoài việc thư giãn với một cuốn sách hay, đề tài mà bạn đọc có thể mang lại sự bình yên, thanh tịnh trong tâm hồn bạn. Đọc một tác phẩm về mặt tâm linh có thể làm giảm bớt huyết áp và mang lại cảm giác êm đềm, trong khi đọc cuốn sách về kỹ năng rèn luyện bản thân sẽ giúp ích cho những người bị rối loạn cảm xúc và bệnh tâm thần nhẹ.



    1. Các văn bản khuyến khích, thúc đẩy việc đọc sách

Trải qua hàng ngàn năm, việc đọc sách đã góp phần xây dựng con người văn minh, xã hội văn minh, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Để kỷ niệm về việc này, thế giới đã lấy ngày 23/4 là ngày thế giới đọc sách.

Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của văn hóa đọc đồng thời hướng tới một xã hội học tập, ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 284/QĐ-TTg lấy ngày 21/4 hàng năm là ngày Sách Việt Nam. Sự kiện này mang lại kỳ vọng nâng cao nhận thức về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc phát triển kiến thức, kỹ năng, tư duy, nhân cách con người; khuyến khích, phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

Trong ngành giáo dục, ngày 16/01/2015, Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng đã ban hành Công văn số 222/BGDĐT-CSVCTBTH chỉ đạo tổ chức Ngày Sách Việt Nam lần thứ 2. Ngày 3/12/2015, Bộ GD&ĐT đã có công văn số 6841/BGDĐT- GDTX về việc đổi mới thư viện và việc xây dựng văn hóa đọc trong nhà trường phổ thông và mầm non.

Sở GD&ĐT Nam Định đã có Công văn số 540/SGDĐT- GDCN&TX ngày 04/5/2016 về việc chỉ đạo thực hiện xây dựng 12662 tủ sách lớp học.



  1. Cơ sở thực tiễn

2.1. Thực trạng chung về văn hóa đọc của nước ta

2.1.1. Những thành tựu đạt được

Ở nước ta trong mấy chục năm qua, văn hoá đọc đã có những bước phát triển vượt bậc. Điều đó thể hiện ở những con số sau đây:

Trước năm 1975, cả hai miền Bắc và Nam xuất bản hàng năm được khoảng 4.000 tên sách. Ngày nay, hàng năm xuất bản khoảng  xấp xỉ 26.000 tên sách và khoảng gần 400 tên báo, tạp chí. Nhiều báo có số lượng xuất bản mỗi số lên tới 500.000 bản, tăng gấp 6 lần, tốc độ gia tăng hàng năm khoảng 10%.

Trước năm 1975, hệ thống thư viện công cộng mới chỉ được phát triển rộng khắp trên các tỉnh miền Bắc và vươn tới gần hết các huyện. Còn ở miền Nam, hệ thống thư viện công cộng hầu như chưa được phát triển, thư viện công cộng mới chỉ có ở một số thành phố lớn như Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế, Đà Lạt... Ngày nay, hệ thống thư viện công cộng đã phát triển từ tỉnh tới huyện và đang vươn tới nhiều xã trên toàn quốc, bao gồm 64 thư viện tỉnh, 587 thư viện huyện và khoảng 10.000 thư viện và tủ sách cơ sở ở xã. Tại các vùng nông thôn Việt Nam đã có khoảng 3 vạn điểm đọc sách báo cho người dân. Qui mô của các thư viện tỉnh và huyện ngày càng được mở rộng về số lượng bản sách, nhân viên phục vụ, trụ sở thư viện và kinh phí hoạt động... Các thư viện tỉnh đang trong giai đoạn tự động hoá, chuyển đổi từ thư viện truyền thống sang thư viện điện tử, thư viện số. Các bước phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng đã tạo cho hệ thống thư viện công cộng có sự gần gũi, thân thiện với mọi người dân trên khắp mọi miền đất nước... Bên cạnh đó còn có các hệ thống thư viện khác như: thư viện trường phổ thông, thư viện trường đại học, thư viện khoa học kỹ thuật, thư viện quân đội... có mặt tại hầu khắp các cơ quan chủ quản. Đặc biệt, trong nhiều năm gần đây, xuất hiện các thư viện tư nhân, thư viện gia đình với những bộ sưu tập rất có giá trị và phong phú, không chỉ có ở các thành phố mà còn được phát triển ở các vùng nông thôn.

Sự xuất hiện của Internet trong đời sống xã hội chúng ta trong mười năm qua, đã tạo ra một phương thức đọc hiện đại, với một lượng thông tin, tri thức khổng lồ. Tốc độ phát triển thuê bao trường truyền Internet và tỷ lệ dân chúng sử dụng Internet của chúng ta đạt một tỷ lệ cao so với khu vực châu Á.

Các cửa hàng sách đã phát triển rất nhanh trong mấy năm qua, đặc biệt ở các thành phố lớn. Nhiều nhà sách với chuỗi cửa hàng bán sách ra đời, có cả các cửa hàng bán sách theo chuyên đề, các siêu thị sách... Tính đến nay chúng ta đã có 12.000 cửa hàng sách và nhà sách tư nhân.

Công tác khuyến đọc cũng đã được quan tâm. Trong nhiều năm trở lại đây xuất hiện các tạp chí với mục đích giới thiệu, hướng dẫn đọc như: Tạp chí Xuất bản Việt Nam, Người đọc sách, Sách và Đời sống. Đồng thời, trên vô tuyến truyền hình, đài truyền thanh, các báo hàng ngày, báo tuần, tạp chí cũng có giới thiệu, hướng dẫn đọc thường xuyên hơn cho người dân. Các Hội chợ sách trong nước và quốc tế, phố sách cũng đã được tổ chức ở các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh... tạo cho công chúng được tiếp cận thường xuyên và dễ dàng hơn với sách mới xuất bản. Hệ thống thư viện công cộng, nhất là các thư viện tỉnh đã tổ chức thường xuyên các cuộc thi kể chuyện sách thiếu nhi trong các dịp hè nhằm xây dựng và phát triển thói quen đọc sách và phần nào giáo dục kỹ năng đọc sách cho thiếu nhi...

2.1.2. Hạn chế của việc phát triển văn hóa đọc.

Bên cạnh những mặt tích cực, nền văn hoá đọc của Việt Nam còn có những mặt hạn chế nhất định.



Mới đây, báo cáo của Vụ Thư viện (Bộ Văn hóa, Thê thao & Du lịch) đã chỉ ra rằng, tỷ lệ người Việt Nam đọc sách thấp hơn nhiều so với các nước trên thế giới. Cụ thể, tỷ lệ người Việt Nam hoàn toàn không đọc sách chiếm tới 26%, tỷ lệ người thỉnh thoảng mới đọc sách chiếm 44%, người đọc thường xuyên chiếm tỷ lệ 30%. Bạn đọc của thư viện chỉ chiếm khoảng 8 - 10 % dân số.

Ông Nguyễn Quang Thạch, người đã có 19 năm nghiên cứu và thực hiện chương trình “Sách hóa nông thôn” cho biết, tỷ lệ người Việt Nam hoàn toàn không đọc sách có thể nhiều hơn 26% dân số. Những người hoàn toàn không đọc sách nói chung ở đây không phải là mù chữ mà đây là thói quen không đọc sách thường xuyên và không có sách để đọc. Đầu năm 2015, ông đi bộ xuyên Việt để vận động chương trình Sách hóa nông thôn. Trong quá trình đó, ông đã phỏng vấn trên 3.000 người, và nhận được kết quả có hơn 90% người dân không đọc sách.



Người dân vẫn chưa có thói quen và kỹ năng đọc sách phù hợp mà chủ yếu đọc theo ngẫu hứng, chỉ có một bộ phận nhỏ học sinh, sinh viên và những người làm công tác nghiên cứu khoa học… mới có thói quen và cách đọc đúng

So sánh với một số nước có nền văn hóa đọc phát triển, chúng ta sẽ càng thấy rõ những yếu kém của mình. Cụ thể:

Ấn Độ: Năm 2015, đất nước Nam Á này đã được NOP World Culture Score Index xếp hạng nhất trong khảo sát về thời gian đọc sách trung bình của người dân. Theo đó, thời gian đọc sách trung bình một tuần của một người Ấn Độ lên đến gần 11 giờ (10 giờ 42 phút). Có đến 25% số người trẻ đọc sách thường xuyên và 49% số người được đi học đọc sách như một cách giải trí.

Israel: Quê hương của người Do Thái – dân tộc nổi tiếng với chỉ số IQ trung bình 110, nơi đã sản sinh cho thế giới những thiên tài như Albert Einstein, Karl Marx, Johann Strauss,... cũng là đất nước nổi tiếng bởi niềm đam mê đọc sách. Các bà mẹ Do Thái đã gieo cho con tiềm thức về sự “ngọt ngào” của sách bằng cách nhỏ vài giọt mật lên những trang sách và cho trẻ liếm. Đất nước Trung Đông này có hai chỉ số về sách cao nhất thế giới, đó là số lượng sách xuất bản theo đầu người cao nhất thế giới và số người trẻ đọc sách cao nhất thế giới. Thậm chí, họ còn đặt các cuốn sách ở nghĩa trang vì họ tin rằng các linh hồn sẽ tiếp tục đọc chúng. 

Nhật Bản: Đất nước mặt trời mọc được cả thế giới nể phục bởi tinh thần tự lực tự cường, từ một quốc gia phong kiến lạc hậu trở thành cường quốc Châu Á và thế giới. Văn hóa đọc ở Nhật đã được hình thành cách đây hơn 300 năm. Từ thời Genroku (1688-1704), nước Nhật đã có hệ thống xuất bản với lượng sách lên đến 10.000 cuốn/năm. Thời Minh Trị, những cuốn sách từ phương Tây được dịch lại và in ra hàng triệu bản để phổ biến đến người dân. Ngày nay, mỗi năm Nhật Bản xuất bản 43.000 đầu sách. Bình quân mỗi năm một người dân đọc hơn 10 cuốn sách. Đặc biệt, người Nhật có thói quen tranh thủ đọc sách ở mọi không gian chờ: đường phố, bến xe bus, trên tàu điện ngầm,... thói quen này đã hình thành văn hóa đọc đứng – Tachiyomi.

Đức: Một trong những cái nôi của báo chí và văn học thế giới – nước Đức, có một nền văn hóa đọc vẫn giữ được mức ổn định trong thời đại công nghệ thông tin áp đảo hiện nay. Trong một khảo sát tháng 7/2015 với 25.000 người từ 14 tuổi trở lên, có đến 7/10 người (68.7%) thích đọc sách và thường xuyên đọc sách, 3/10 (29.6%) đặc biệt đam mê sách. Năm 2015, 44,6% người Đức đọc ít nhất một cuốn sách mỗi tuần.

Thái Lan: Người láng giềng với chúng ta là á quân sau Ấn Độ trong xếp hạng thời gian đọc sách của World Culture Score Index. Các số liệu của cơ quan thống kê quốc gia nước này cho thấy, người dân xứ sở chùa vàng dành trung bình 37 phút đọc sách mỗi ngày. 81,8% dân số từ 6 tuổi trở lên thường xuyên đọc sách và nhóm đọc sách nhiều nhất là trẻ em từ 6 – 12 tuổi.

Malaysia: Theo thống kê của Thư viện Quốc gia, đã có 72.271 cuốn sách được mượn trong riêng tháng 8/2014. Trung bình một người Malaysia đọc 14 cuốn sách một năm. 

2.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế

- Nguyên nhân đầu tiên kể đến là văn hóa nghe nhìn đã lấn át văn hóa đọc. Các thiết bị nghe nhìn hiện đại như điện thoại di động, máy nghe nhạc MP3, máy xem phim MP4, internet… rất phổ biến. Sự tiện ích của các phương tiện trên đã làm cho chúng ta dần dần lười đọc sách.

- Nguyên nhân thứ hai khiến nhiều người quay lưng với văn hóa đọc là sự bận rộn. Tìm việc làm, học tập, làm thêm, giải trí, …. đã chiếm gần hết quỹ thời gian của mỗi người. Vì vậy, việc đọc và nghiền ngẫm các tác phẩm là điều không tưởng

- Chúng ta chưa có một tổ chức nào, một hoạt động xã hội nào xây dựng thói quen đọc có hệ thống, hầu như chưa tiến hành giáo dục kỹ năng đọc có hệ thống từ bậc tiểu học lên đến bậc đại học. Một nguyên nhân rất quan trọng là cách học từ thời kỳ học phổ thông cho đến đại học, cao đẳng chưa tạo cho người học thói quen đọc sách. Cách học văn theo mẫu rập khuôn, khô cứng, gò bó, dạy học theo kiểu đọc chép đã triệt tiêu nhu cầu, khả năng đọc sách của học sinh, sinh viên.



- Sự phân bố tài liệu đọc giữa thành thị và nông thôn mất cân đối. Hệ thống thư viện công cộng xã, thôn mới chỉ phát triển rất ít và nghèo nàn về nội dung. Sách, báo, tạp chí xuất bản được tiêu thụ chủ yếu mới chỉ ở các thành phố lớn.

- Số lượng tên sách được xuất bản hàng năm đã có bước phát triển vượt bậc, nhưng chất lượng sách không được phát triển phù hợp. Tuy số lượng sách hàng năm đã đạt khoảng 26.000 tên, nhưng có tới 80% là sách giáo khoa giáo trình. Có hiện tượng chạy theo lợi nhuận, thiếu định hướng rõ rệt trên hai bình diện nâng cao và phổ cập kiến thức cho nên hiệu quả chưa cao. Giá sách còn cao so với thu nhập trung bình của người dân.

- Công tác tuyên truyền hướng dẫn đọc chưa được thực hiện thường xuyên liên tục và có định hướng. Ngay ở những cơ quan có chức năng hướng dẫn dân chúng đọc như hệ thống thư viện công cộng, cơ quan phát hành sách, phương tiện truyền thông đại chúng... cũng được thực hiện chưa thường xuyên, chưa phong phú và hấp dẫn... Các tạp chí giới thiệu, hướng dẫn đọc tuy xuất bản nhiều nhưng chưa đến được công chúng rộng rãi. Các hội chợ sách chưa được tổ chức định kỳ thường xuyên và cũng mới chỉ được tổ chức ở các thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh...

2.2. Thực trạng việc đọc sách của học sinh trường tiểu học Nam Đồng

2.2.1. Đặc điểm, tình hình trường tiểu học Nam Đồng, huyện Nam Trực

Đồng Sơn là một xã nằm phía nam huyện Nam Trực, phía bắc và phía đông giáp xã Nam Dương, xã Nam Tiến của huyện Nam Trực, phía nam giáp xã Trực Thuận của huyện Trực Ninh, phía tây giáp xã Nghĩa Đồng của huyện Nghĩa Hưng. Đồng Sơn có diện tích khoảng 14 000 ha, dân số hơn 16 000 người. Nghề nghiệp chủ yếu của nhân dân trên địa bàn xã là làm nông nghiệp. Ngoài ra, người dân địa phương có nghề làm phở. Khoảng ½ số hộ gia đình có người đi bán hàng phở trên khắp các địa phương trong toàn quốc. Đời sống kinh tế của nhân dân không đồng đều, bình quân thu nhập của người dân thuộc mức bình quân chung của huyện.

Đồng Sơn là một xã ghép nên có 3 vùng miền rõ rệt: Nam Đồng, Nam Thành, Nam Thượng. Mỗi miền có 3 trường: mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Trường tiểu học Nam Đồng là một trường thuộc miền Nam Đồng của xã Đồng Sơn.

Trường tiểu học Nam Đồng được thành lập từ năm 1952, tái lập năm 1995. Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, trường tiểu học Nam Đồng đã có nhiều đổi mới và thành tích rất đáng ghi nhận. Tháng 7/1999, trường tiểu học Nam Đồng vinh dự được đón bằng công nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ I. Tháng 6/2013, nhà trường đã được công nhận đạt Chuẩn quốc gia mức độ 2, đạt Chuẩn xanh – sạch – đẹp – an toàn, thư viện của nhà trường được công nhận đạt Chuẩn thư viện trường phổ thông. Phát huy tốt vai trò của trường đạt Chuẩn quốc gia, trong những năm qua, chất lượng giảng dạy và giáo dục của nhà trường có những bước tiến vững chắc. Tháng 10/2014, nhà trường đã được Sở GD&ĐT đánh giá đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục cấp độ 3.

Chính quyền và nhân dân địa phương rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Công tác xã hội hóa giáo dục đạt hiệu quả cao trong việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tích cực và tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất.

Phong trào khuyến học, khuyến tài phát triển mạnh mẽ ở các thôn xóm, dòng họ góp phần không nhỏ trong việc xây dựng môi trường giáo dục tích cực.

Đội ngũ giáo viên chuẩn về trình độ đào tạo, có tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với nghề.

Học sinh ngoan, có ý thức tự giác, kỉ luật, tích cực tham gia vào các hoạt động của nhà trường.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, nhà trường có một số khó khăn, hạn chế sau đây:

Một bộ phận không nhỏ cha mẹ học sinh phải đi làm ăn xa nhà không có thời gian chăm lo cho con cái, việc phối kết hợp giáo dục trẻ còn nhiều hạn chế. Đội ngũ giáo viên của nhà trường có một số đồng chí sức khỏe yếu phải điều trị dài ngày, tuổi đời bình quân cao (trên 40 tuổi). Công tác chủ nhiệm của một vài giáo viên còn hạn chế, giáo viên tổng phụ trách Đội luôn thay đổi nên chất lượng của các HĐGDNGLL chưa đảm bảo yêu cầu, chất lượng đặt ra. Mặc dù đã đạt Chuẩn quốc gia mức độ 2 nhưng cơ sở vật chất của nhà trường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu bán trú của học sinh, cơ sở vật chất chất phục vụ cho HĐGDNGLL còn nhiều hạn chế.

2.2.2. Thực trạng việc đọc sách của học sinh trường tiểu học Nam Đồng

Ngoài việc quan sát việc đọc sách của học sinh tiểu học Nam Đồng hàng ngày, phỏng vấn giáo viên và phụ huynh học sinh, cuối năm học 2013 – 2014, tôi tiến hành khảo sát 297 học sinh (chiếm 100%) học sinh của trường theo mẫu:



PHIẾU ĐIỀU TRA HỌC SINH

Các em thân mến!

Sách báo là người bạn thân thiết của mỗi chúng ta vì qua sách báo chúng ta học được biết bao điều bổ ích. Các em hãy vui lòng trả lời trung thực, thẳng thắn những suy nghĩ, sở thích, thói quen và cả những mong muốn của mình về việc đọc sách qua các câu hỏi dưới đây:

    1. Học lớp ?

Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3

Lớp 4 Lớp 5

2. Giới tính? Nam Nữ

3. Bố mẹ làm nghề gì?

Viên chức Nông dân Buôn bán

Giáo viên Công nhân Các nghề khác

4. Ngoài giờ học, các em tham gia các hoạt động nào?

Xem ti vi Chơi thể thao

Đến các câu lạc bộ Tự học

Giúp bố mẹ làm việc nhà Đọc sách



5. Hàng ngày các em có thời gian đọc sách , nghe đọc sách không?

Có Không

Nếu có, em dành bao nhiêu thời gian?

Dưới 30 phút Trên 30 phút Hơn 1 giờ

6. Em thường đọc, nghe những loại sách gì?

Truyện cổ tích Truyện lịch sử

Truyện danh nhân Sách tìm hiểu khoa học

Truyện tranh Các loại sách khác

7. Vì sao em đọc những loại truyện trên?

Tự em thích Bạn bè giới thiệu

Các thầy cô giáo yêu cầu Bố mẹ khuyên

8. Em thường đọc sách từ nguồn nào?

Tự mua Mượn thư viện trường Mượn bạn bè

9. Sau khi đọc xong một cuốn sách, em thường làm gì?

Kể lại cho bạn bè, người thân

Trả lời câu hỏi của bố mẹ về cuốn sách

Ghi lại những xúc cảm về cuốn sách

Không làm gì.

10. Trong những cuốn sách đã đọc, em thích nhất cuốn nào? Hãy kể tên.

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

11. Khi đọc cuốn sách mình yêu thích, em thường có những trạng thái nào?

Tâm trạng giống nhân vật Thoải mái, vui vẻ



Muốn hành động giống nhân vật mình yêu thích.

12. Em có thích tham gia các hoạt động hướng dẫn đọc sách hay không?

Có Không

Nếu có, đó là những hoạt động nào?



Liên hoan, tuyên truyền giới thiệu sách

Xem triển lãm sách



Thi kể chuyện

Vẽ tranh theo sách.

13. Em sử dụng thư viện như thế nào?

Đến hàng ngày Đến mỗi tháng một lần



Đến mỗi tuần một lần Không đến

14. Thư viện có những cuốn sách mà em thích không?

Có Không

15. Thái độ phục vụ của cán bộ thư viện đối với em như thế nào?



Tận tìnhgiúp đỡ Bình thường Cáu gắt, khó tính.

Xin cảm ơn các em đã trả lời

Tổng hợp phiếu khảo sát, tôi thu được kết quả



Lớp

Lớp 1

Lớp 2

Lớp 3

Lớp 4

Lớp 5

Tổng

Số HS

70

60

62

60

45

297

Số HS nữ

41

34

33

27

23

158



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương