Tên đề tài: HÀnh VI nguy cơ LÂy nhiễm hiv trong nhóm nam quan hệ TÌnh dụC ĐỒng giớI (msm) TẠi vĩnh phúc năM 2014


Các nghiên cứu về hành vi nguy cơ trong nhóm MSM trên thế giới và Việt Nam



tải về 0.83 Mb.
trang5/14
Chuyển đổi dữ liệu13.12.2017
Kích0.83 Mb.
#4734
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

1.4. Các nghiên cứu về hành vi nguy cơ trong nhóm MSM trên thế giới và Việt Nam

1.4.1. Hành vi quan hệ tình dục


Nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs thể hiện qua số bạn tình cũng như sự đa dạng của các loại bạn tình trên nhóm MSM bán dâm cũng đã được nhiều nghiên cứu đề cập. Nhóm MSM bán dâm không chỉ QHTD với nam mà còn QHTD với nữ. Nói cách khác, tình dục lưỡng giới ở nhóm MSM bán dâm là khá phổ biến, đồng thời càng nhiều khách nam giới trong năm qua thì nguy cơ nhiễm HIV và các STIs càng cao.

Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ (2008) cho kết quả trong 12 tháng qua số bạn tình trung bình của MSM bán dâm là 46, trong đó 19% có QHTD không an toàn qua đường âm đạo hoặc hậu môn [29].

Trung bình một tuần, nam bán dâm ở Bangladesh tiếp từ 5,6 đến 9,5 khách, tỷ lệ sử dụng BCS ở mức thấp từ 1,8% đến 9,9% [33]. Số liệu một nghiên cứu tại Nga (2004) trên 434 nam giới có QHTD đồng giới, trong 96 đối tượng có bán dâm thì trung bình mỗi đối tượng có 74 bạn tình nam trong đời và có 4,1 bạn tình nam trong 3 tháng qua [19]. Ngoài ra, trong nhóm MSM bán dâm, do có QHTD vì mục đích kinh tế nên số lượng bạn tình nam trong tháng qua tăng hơn đáng kể so với nhóm MSM không bán dâm (31 bạn tình so với 4 bạn tình) [20].

Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu IBBS năm 2012, phần lớn MSM tham gia nghiên cứu có quan hệ tình dục qua đường hậu môn ở độ tuổi dưới 25 tuổi (86,2%), chỉ có 7,9% có quan hệ tình dục lần đầu ở độ tuổi từ 25 đến dưới 30 tuổi và 6% ở độ tuổi từ 30 tuổi trở lên. Tỷ lệ MSM đã có thời gian quan hệ tình dục qua đường hậu môn trên 3 năm chiếm 46,5%, nhóm từ 3 năm trở xuống chiếm 53,5%. Tuy nhiên, phân bố theo thời gian đã có quan hệ tình dục qua đường hâu môn trong nhóm này có sự khác biệt giữa các tỉnh: ở phần lớn các tỉnh, tỷ lệ MSM có thời gian quan hệ tình dục dưới 3 năm chiếm phần lớn trong số MSM tham gia nghiên cứu. Tỷ lệ MSM có thời gian quan hệ tình dục dưới 3 năm cao nhất ở Cần Thơ (71,4%), tiếp đến là Khánh Hòa (59,3%), Hà Nội (56%), Đà Nẵng (53,4%). Ngược lại, một số tỉnh có tỷ lệ MSM có thời gian quan hệ tình dục qua đường hậu môn trên 3 năm chiếm tỷ lệ cao như Sóc Trăng (63,6%), TP. Hồ Chí Minh (50,2%) [15].


1.4.2. Hành vi sử dụng BCS trong QHTD


Có rất nhiều yếu tố dẫn đến nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm MSM qua đường tình dục. Trước hết là thiếu hiểu biết và nhận thức sai lầm về nguy cơ và cách dự phòng. Có người cho rằng, quan hệ tình dục đồng giới không có nguy cơ lây nhiễm HIV, trừ khi bạn tình của họ có sử dụng ma túy hoặc đã từng quan hệ với gái bán dâm. Mặt khác, còn gặp nhiều rào cản về sử dụng bao cao su. Họ cho rằng, dùng bao cao su giảm khoái cảm, cỡ to, mùi khó chịu, không có sẵn khi cần, ngại mua và mang sẵn trong túi, không dám đề nghị bạn tình sử dụng [32].

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu chuyên sâu về MSM cho thấy tỷ lệ QHTD qua đường hậu môn không bảo vệ tương đối cao từ 13,0% đến 78,5% [23]. QHTD qua đường hậu môn là nguy cơ chủ yếu lây truyền HIV và STIs trong nhóm MSM. Số lần QHTD không bảo vệ (đó là không dùng hoặc dùng không thường xuyên BCS) qua đường hậu môn làm tăng nguy cơ lây truyền HIV và STIs. Tỷ lệ những người đàn ông có QHTD qua đường hậu môn thay đổi tùy theo từng nơi và phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố văn hóa. Ở châu Mỹ La tinh, ước tính một nửa số ca nhiễm HIV trong khu vực do QHTD qua đường hậu môn không bảo vệ giữa những người đàn ông với nhau [32].

Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu IBBS năm 2012, tỷ lệ MSM dùng bao cao su với bạn tình nam trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất qua đường hậu môn tương đối thấp, chỉ có 64,3% MSM cho biết có sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất. Tỷ lệ này có sự khác nhau ở các tỉnh, cao nhất ở Đà Nẵng (85%), tiếp đến là Kiên Giang (81,7%), Hà Nội (75,5%). Sóc Trăng là tỉnh có tỷ lệ MSM sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất thấp nhất (chỉ chiếm 30%). So sánh với năm 2011, tỷ lệ sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần nhất qua đường hậu môn với bạn tình nam trong điều tra năm 2012 thấp hơn 9% (tỷ lệ sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần nhất năm 2011 là 73,3%). Tỷ lệ này giảm ở các tỉnh như Đà Nẵng (từ 91% năm 2011 giảm xuống 85% trong năm 2012), TP. Hồ Chí Minh (từ 68% năm 2011 giảm xuống 85% năm 2012), An Giang (từ 76,5% năm 2011 giảm xuống 68,3% năm 2012). Hà Nội là tỉnh duy nhất có tỷ lệ này tăng nhẹ (từ 73,3% tăng lệ còn 75,5%) [15].

Tỷ lệ MSM sử dụng bao cao su thường xuyên khi quan hệ tình dục với tất cả bạn tình nam trong 1 tháng qua rất thấp (41,1%). Đặc biệt, trong số 13% MSM bán dâm trong 12 tháng qua chỉ có 31,3% MSM thường xuyên sử dụng bao cao su với khách hàng nam giới. Sóc Trăng là tỉnh có tỷ lệ MSM bán dâm thường xuyên sử dụng bao cao su với khách hàng nam thấp nhất (10%), An Giang (18,2%), Kiên Giang (31%), Cần Thơ (33,3%). So sánh với năm 2011, tỷ lệ MSM bán dâm thường xuyên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục qua đường hậu môn với khách hàng giảm từ 57,1% năm 2011 xuống còn 31,3% năm 2012. Điều này cảnh báo nguy cơ rất lớn về lây nhiễm HIV trong nhóm này. 4,7% MSM tham gia nghiên cứu cho biết đã từng tiêm chích ma túy, trong đó 68,5% cho biết có tiêm chích ma túy trong 12 tháng qua [15].

Trong nghiên cứu HSS 2012 cho kết quả, tỷ lệ MSM sử dụng BCS trong lần QHTD đường hậu môn gần đây nhất với bạn tình nam là 71.3%, cao nhất ở Đà Nẵng (91%) tiếp đến là An Giang (76.5%), Hà Nội (73.3%), Hải Dương (69.3%), thấp nhất là TP Hồ Chí Minh (68%). Bên cạnh đó, tỷ lệ MSM báo cáo sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD qua đường hậu môn với bạn tình nam giới trong tháng qua tương đối thấp (43,3%, dao động từ 17,3% đến 84%). Trong số MSM tham gia nghiên cứu, 27.5% (dao động từ 3% đến 52,7%) có bán dâm trong 12 tháng qua; 8.5% (dao động từ 0,3% đến 16,7%) có tiêm chính ma túy. Bằng chứng này cho thấy tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm HIV rất lớn qua đường máu và quan hệ tình dục ở nhóm đặc biệt này[16].

1.4.3. Hành vi sử dụng chất gây nghiện


Tại Peru (2008), có tới 36,0% MSM bán dâm sử dụng ma túy, chủ yếu là marijuana và cocain [33]. Nghiên cứu khác tại Pakistan (2011) trên 300 MSM bán dâm được phỏng vấn thì một nửa sử dụng ma túy, đa số sử dụng cần sa (42,0%), 8,0% sử dụng heroin, tiêm chích ma túy rất ít [31].

Tại Córdoba, Argentina năm 2001, 17,2% MSM bán dâm báo cáo sử dụng cần sa ít nhất mỗi tuần một lần. Ngoài ra còn sử dụng một số loại khác như cocaine, benzodiazepines, thuốc giảm đau, ecstasy. Không ai trong số những người tham gia khai báo cáo sử dụng heroin hoặc methadone [34].

Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu IBBS năm 2012, tỷ lệ MSM có tiêm chích ma túy sử dụng bơm kim tiêm sạch trong lần tiêm chích gần nhất tương đối cao (91,7%). Tỷ lệ này đạt 100% ở các tỉnh Hà Nội, An Giang, thấp nhất là Kiên Giang (75%) [15]. Tuy nhiên, so sánh với kết quả điều tra năm 2011, tỷ lệ MSM có tiêm chích ma túy sử dụng bơm kim tiêm sạch trong lần tiêm chích gần nhất giảm (từ 97,2% năm 2011 giảm xuống 91,7% năm 2012). Tỷ lệ này ở TP. Hồ Chí Minh giảm từ 97,2% năm 2011 giảm xuống 80,6% năm 2012. Ngược lại, ở An Giang tỷ lệ này lại được cải thiện (tăng từ 86,7% năm 2011 lên 100% năm 2012) [15].

Nghiên cứu “Sử dụng chất gây nghiện và nguy cơ trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới, mại dâm nam và người chuyển giới tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh” năm 2009 của tác giả Vũ Ngọc Bảo cho thấy việc sử dụng chất gây nghiện là phổ biến và chiếm khoảng 2/3 số người tham gia nghiên cứu. Các dạng chất gây nghiện khác nhau được sử dụng bao gồm: heroin, thuốc lắc, đá, Ke (ketamin), bồ đà/tài mà. Đồng thời cũng chỉ ra mối liên kết giữa bán dâm và sử dụng chất gây nghiện - đặc biệt là tiêm chích heroin [4].




tải về 0.83 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương