Tên đề tài: HÀnh VI nguy cơ LÂy nhiễm hiv trong nhóm nam quan hệ TÌnh dụC ĐỒng giớI (msm) TẠi vĩnh phúc năM 2014



tải về 0.83 Mb.
trang2/14
Chuyển đổi dữ liệu13.12.2017
Kích0.83 Mb.
#4734
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

DANH MỤC BIỂU ĐỒ





TÓM TẮT NGHIÊN CỨU


Quan hệ tình dục đồng giới nam (MSM) đang là nhóm nguy cơ lây truyền HIV cao và có xu hướng ngày càng gia tăng. Việc xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV và các hành vi nguy cơ trong nhóm MSM mới chỉ được thực hiện tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh. Tại Vĩnh Phúc, theo ước tính của các nhóm MSM, hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 4000 -5000 MSM. Tuy nhiên cho đến nay tại tỉnh chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu, xác định tỷ lệ hiện nhiễm và hành vi nguy cơ trong nhóm này. Với thực trạng như vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu nhằm xác định đặc điểm và tỷ lệ các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm MSM trên địa bàn tỉnh, bao gồm hành vi tình dục không an toàn và sử dụng ma túy.

Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang với kỹ thuật chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS), tiến hành phỏng vấn bằng bộ câu hỏi trên tổng số 324 đối tượng là MSM từ 16 tuổi trở lên, có quan hệ tình dục (bằng tay, đường miệng hoặc hậu môn) với nam giới khác trong vòng 90 ngày qua và hiện sinh sống trên địa bàn tỉnh.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 27 tuổi, cao nhất là 53 tuổi và nhỏ nhất là 17 tuổi, khoảng hơn 74% các đối tượng thuộc nhóm 16-30 tuổi. Đa số các đối tượng có trình độ học vấn cao, 54,3% đã tốt nghiệp THPH, trên 35% tốt nghiệp từ Trung cấp trở lên. Có đến 63% là chưa kết hôn và hơn 10% các đối tượng sống chung không kết hôn với bạn tình là nam. Các đối tượng phân bố ở nhiều nhóm nghề khác nhau, gần 20% MSM có nhiều hơn 1 nghề. Vì vậy thu nhập trung bình của nhóm đối tượng này cũng tương đối cao, trung bình 5 triệu/tháng, có những người thu nhập cao tới 40 triệu /tháng.

Về hành vi quan hệ tình dục (QHTD) có 67,6% MSM có QHTD trong 1 tháng qua, trong đó có 96,3% có sử dụng BCS, số sử dụng trong tất cả các lần chỉ đạt 49,5%. Có 10,2% cho rằng có QHTD để nhận tiền với bạn tình là nam, trong đó có hơn 90% có sử dụng BCS. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy có 2,5% các đối tượng có QHTD với bạn tình thường xuyên có tiêm chích ma túy (TCMT), nhưng trong đó chỉ có 37,5% có sử dụng BCS. Về hành vi sử dụng ma túy, nghiên cứu chỉ ra rằng có 19% đối tượng có sử dụng thuốc lắc và ma túy tổng hợp, 2,8% đã từng TCMT và 100% sử dụng riêng bơm kim tiêm khi tiêm chích.

Ngoài việc chỉ ra tỷ lệ các hành vi nguy cơ là QHTD và sử dụng ma túy thì nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ MSM được xét nghiệm (XN) HIV chưa cao (trên 60%). Trong số đó có gần 90% đối tượng được XN và biết kết quả, tỷ lệ đối tượng cho biết mình có HIV dương tính là 3,8%. Với các kết quả như vậy, nghiên cứu đưa ra khuyến nghị là cần đẩy mạnh việc tiếp cận với các dịch vụ phòng lây nhiễm HIV trong nhóm MSM, thông qua các nhóm đồng đẳng, các kênh khác phù hợp, đồng thời nâng cao chất lượng các dịch vụ cung cấp để bao phủ toàn bộ được các đối tượng trên địa bàn tỉnh.


ĐẶT VẤN ĐỀ


Tình dục đồng giới nam thường là quan hệ tình dục qua hậu môn. Hành vi này nếu không sử dụng các biện pháp bảo vệ, có nguy cơ lây nhiễm HIV cao cho người “nhận” và cũng tương đối nguy hiểm với người “cho”. Cho dù con số có thể khác nhau giữa các quốc gia và các khu vực, nhưng ít nhất 5-10% các ca nhiễm HIV trên toàn thế giới là do quan hệ tình dục đồng giới nam. Trong các nước thuộc khu vực Châu Á- Thái bình dương, Trung Quốc ước tính nguy cơ HIV dương tính trong nhóm MSM cao 45 lần so với dân số nói chung, Lào chiếm tới 75% tổng số các trường hợp nhiễm mới HIV trong một nghiên cứu gần đây [10].

Tình hình lây nhiễm HIV ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn tập trung, với tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất được tìm thấy trong một số nhóm cụ thể – đó là người tiêm chích ma túy (TCMT), phụ nữ mại dâm (PNMD), bên cạnh đó là nhóm nam quan hệ tình dục với nam (MSM) đang có chiều hướng gia tăng. Kết quả báo cáo nghiên cứu HSS 2011 tại 5 tỉnh cho thấy, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM cao ở một số tỉnh như TP Hồ Chí Minh (14%), Hà Nội (6.7%), An Giang (3%)[16]. Hai tỉnh còn lại có tỷ lệ nhiễm HIV tương đối thấp như Hải Dương (1.2%), Đà Nẵng (0%). Năm 2013, theo kết quả giám sát trọng điểm nhóm MSM ở 16 tỉnh cho thấy, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM là 3,3%, cao hơn so với năm 2012 (2,3%) [5]. Qua nhiều nghiên cứu đánh giá cho thấy, đa số MSM có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, đó là do quan hệ tình dục qua hậu môn không sử dụng bao cao su hoặc sử dụng bao cao su không thường xuyên. MSM còn tham gia cả hoạt động mại dâm (cả mua lẫn bán), tùy theo từng tỉnh thành phố tỷ lệ này dao động từ 22%-52,4% [18].

Tại Vĩnh Phúc, từ ca nhiễm HIV đầu tiên phát hiện năm 1995 đến 30/11/2014 tỉnh Vĩnh Phúc đã phát hiện luỹ tích người nhiễm HIV: 3409 người, số bệnh nhân AIDS: 1738 người, số người chết do AIDS: 671 người. Đa số các đối tượng tập trung ở nhóm NCMT (chiếm 56%). Tuy nhiên theo xu hướng hiện nay thì việc phòng lây nhiễm trong nhóm MSM là thực sự cần thiết để giảm tỷ lệ nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh [17]. Theo ước tính tỉnh Vĩnh phúc có khoảng 4000- 5000 MSM, một phần nhỏ trong số này (khoảng trên 300 MSM) đang tham gia vào các hoạt động của các nhóm đồng đẳng MSM (Nhóm Khát Vọng và Trăng Khuyết), được cung cấp thông tin, kiến thức cần thiết về HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, được cung cấp BCS, chất bôi trơn và các vật dụng cần thiết khác. Tuy nhiên, hoạt động của các Nhóm còn hạn chế và chưa bao phủ được trên địa bàn toàn tỉnh, mặt khác cũng không đưa ra được các số liệu đáng tin cậy và chính xác về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, đặc biệt tính đến 12/2014 số MSM có mẫu HIV dương tính là 15/287 (5,22%) trong nhóm này đây là tỷ lệ cao.

Xuất phát từ cơ sở khoa học và yêu cầu thực tiễn, được sự nhất trí của tỉnh, sự hỗ trợ của Cục phòng, chống HIV/AIDS chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS trong nhóm MSM tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014” để có cái nhìn tổng quát về các đặc điểm nhân khẩu, xã hội học của nhóm MSM, đồng thời cung cấp thông tin khoa học về các hành vi lây nhiễm HIV (bao gồm QHTD và sử dụng ma túy) trong nhóm này. Kết quả nghiên cứu có thể sẽ cung cấp những thông tin quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch can thiệp, theo dõi, dự báo và đánh giá tình hình HIV/AIDS tại Vĩnh Phúc.



tải về 0.83 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương