Tên đề tài: HÀnh VI nguy cơ LÂy nhiễm hiv trong nhóm nam quan hệ TÌnh dụC ĐỒng giớI (msm) TẠi vĩnh phúc năM 2014


Chương 4: BÀN LUẬN 4.1. Bàn luận về đặc điểm nhân khẩu – xã hội học của đối tượng nghiên cứu



tải về 0.83 Mb.
trang12/14
Chuyển đổi dữ liệu13.12.2017
Kích0.83 Mb.
#4734
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

Chương 4: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận về đặc điểm nhân khẩu – xã hội học của đối tượng nghiên cứu


Đây là nghiên cứu đầu tiên về đặc điểm nhân khẩu-xã hội học và hành vi nguy cơ nhiễm HIV của nhóm MSM tại tỉnh Vĩnh Phúc. Để trả lời cho 02 mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi đã lựa chọn 324 đối tượng theo phương pháp kiểm soát dây chuyền sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp đối tượng MSM.

Câu hỏi đầu tiên mà chúng tôi quan tâm trong nghiên cứu này là nhóm MSM tại tỉnh Vĩnh Phúc có đặc điểm nhân khẩu-xã hội học như thế nào? Kết quả cho thấy nhóm MSM trong nghiên cứu này ở độ tuổi rất trẻ khi họ có độ tuổi trung bình là 26,9; hầu hết là những người trong độ tuổi dưới 30 (74,6%). Kết quả này gần giống với nghiên cứu HSS 2012 với tuổi trung bình là 25 tuổi và có 79,1% dưới 30 tuổi [16]. Cũng tương tự kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa (2014) với nhóm MSM bán dâm tại Hà Nội, đa số có độ tuổi trẻ từ 20-24 (52,8%) [18]

Tình trạng hôn nhân của đối tượng trong nghiên cứu hiện chưa lập gia đình (63%); số đối tượng đã ly dị, ly thân và góa là 10,8%; có 10,5% hiện đang sống chung không kết hôn với bạn tình nam, điều này gần giống so với nghiên cứu HSS 2012 là tỷ lệ chưa lập gia đình là lớn nhất (84,2%) [16]. Với tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa (2014) tỷ lệ này ở nhóm MSM bán dâm còn cao hơn, tỷ lệ chưa kết hôn chiếm 94,4% [18]. Đây cũng có thể là đặc điểm đặc trưng của nhóm này hay vì tâm lý, mặc cảm, khuynh hướng tình dục và tại Việt Nam vẫn còn rào cản lớn trong việc công nhận kết hôn đồng giới nên tỷ lệ chưa kết hôn và ly thân, ly dị sống chung không đăng ký kết hôn cao.

Những MSM trong nghiên cứu này có 29,9% làm nghề tự do và 22,5% là sinh viên, tiếp theo là những người kinh doanh, buôn bán (22,2%); ngoài ra nhân viên nhà nước cũng chiếm một tỷ lệ cao (>17%); vẫn có 1,5% đối tượng nghiên cứu nhận công việc của mình là bán dâm. Thu nhập trung bình hàng tháng là 4,8 triệu/tháng có những người thu nhập đến 40 triệu đồng/tháng.

Những MSM trong nghiên cứu này có trình độ học vấn khá cao, có một tỷ lệ 35,49% MSM có trình độ học vấn Trung cấp, Cao đẳng hoặc Đại học. Ở nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa trên nhóm MSM bán dâm tại Hà Nội có 87,2% trình độ học vấn từ PTTH trở lên[18].

Quần thể MSM có xu hướng thích bạn tình cũng rất đa dạng có 56,2% tự nhận mình chỉ thích bạn tình nam và 33% thích bạn tình nam hơn nữ, nhưng số MSM thích chỉ thích bạn tình nữ (8%) và thích bạn tình nữ hơn nam. Kết quả này là bằng chứng quan trọng cho thấy cần thiết phải triển khai chương trình can thiệp tập trung hơn trong quần thể này vì việc lây lan vào quần thể nguy cơ như vợ/bạn tình nữ và con của họ là điều không thể tránh khỏi.


4.2. Bàn luận về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV


4.2.1. Bàn luận về hành vi quan hệ tình dục

Thời gian các MSM có QHTD với bạn tình nam qua đường hậu môn: 67,6% các đối tượng có QHTD với bạn tình là nam trong vòng 1 tháng qua, 30,2% có QHTD từ 1-6 tháng, còn lại một tỷ lệ nhỏ đã có quan hệ tình dục lần gần nhất từ 6-12 tháng. Trung bình số lần các đối tượng QHTD trong 1 tháng qua là 7,54 lần, có đối tượng nhân có QHTD 30 lần/ tháng. Điều này cho thấy mức độ các bạn MSM cũng thường xuyên gặp nhau và có QHTD trong 1 tháng, nên cần tăng cường can thiệp dự phòng thường xuyên bằng cách vẽ được các tụ điểm cụ thể để có chiến lược can thiệp phù hợp.

Tỷ lệ MSM dùng bao cao su với bạn tình khi QHTD qua đường hậu môn trong lần gần nhất là 80%. Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu HSS 2012 chỉ có 71,3% MSM cho biết có sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất [16]. Sự khác biệt này có thể được giải thích là do thời điểm nghiên cứu khác nhau và Vĩnh Phúc đã đang triển khai can thiệp cho hai nhóm MSM như cung cấp bao cao su, chất bôi trơn và tổ chức tư vấn lấy mẫu xét nghiệm tự nguyện tới các nhóm, tổ chức sinh hoạt nhóm hang tháng và tổ chức sự kiện truyền thông lớn theo định kỳ, …

Tần suất sử dụng bao cao trong 1 tháng của MSM khi QHTD qua đường hậu môn với bạn tình nam có ½ đối tượng có sử dụng tất cả các lần QHTD, tỷ lệ không sử dụng thường xuyên bao cao su trong 1 tháng chiếm 50% (33% lúc sử dụng lúc không, đặc biệt vẫn còn 17% không sử dụng bao cao su khi QHTD) là nguy cơ rất lớn trong lây nhiễm HIV trong nhóm MSM và lây cho bạn tình khác giới. Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu HSS 2012 là 43,3% [16]. Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu IBBS 2012, tỷ lệ MSM có sử dụng bao cao su thường xuyên trong 1 tháng qua là 41,1% [15]. Sự khác biệt này có thể phản ánh một phần hiệu quả các can thiệp cho nhóm MSM đang tiến hành tại tỉnh Vĩnh Phúc như đã đề cập ở trên. Tuy nhiên kết quả này cũng gợi ý cần tiếp tục cung cấp thêm các kiến thức về nguy cơ lây nhiễm HIV khi QHTD không sử dụng bao cao su để tăng tỷ lệ thường xuyên sử dụng bao cao su hơn.

Đối với MSM có QHTD để nhận tiền tại tỉnh Vĩnh Phúc chiếm tỷ lệ 10,2%, số lần trung bình có QHTD để nhận tiền là 4,82 lần/tháng; tần suất sử dụng bao cao su trong tất cả các lần chiếm 54,5%, vẫn còn 36,4% lúc sử dụng lúc không và 9,1% không sử dụng. So với nghiên cứu HSS 2012 tỷ lệ MSM bán dâm cao hơn nghiên cứu của chúng tôi (27,5% so với 10,2%) [16]. Sự khác biệt này có thể là do Vĩnh Phúc có vị trí gần Hà Nội và một số thành phố phát triển hơn, do đó với MSM có nhu cầu mua dâm có thể di chuyển về các thành phố lớn đó.

4.2.2. Bàn luận hành vi tiêm chích ma túy

Trong nghiên cứu tại Vĩnh Phúc có 2,5% MSM có QHTD với bạn tình nam thường xuyên có TCMT, tỷ lệ đối tượng không sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với bạn tình là TCMT rất cao (62,5%). Tuy tỷ lệ MSM có TCMT thấp nhưng đối tượng này không sử dụng bao cao su khi QHTD rất cao đây là nguy cơ làm lây nhiễm HIV rất mạnh, cần tăng cường can thiệp kép để phòng lây lan HIV/AIDS ra cộng đồng.

Sử dụng chất gây nghiện, đặc biệt là tiêm chích, làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm
HIV. Số liệu khảo sát về chất gây nghiện cho thấy mặc dù có 19,1% MSM đã từng sử
dụng chất gây nghiện là thuốc lắc và tỷ lệ TCMT cũng khá thấp 2,8%, thời gian TCMT trong 12 tháng là 66,67% và rất may 100% các đối tượng trả lời sử dụng bơm kim tiêm sạch trong tháng quá. Tỷ lệ MSM có TCMT thấp hơn so với nghiên cứu HSS 2012 là 4,7%, trong đó 68,5% cho biết có tiêm chích ma túy trong 12 tháng qua [16]. Tuy nhiên, đây là một chỉ số nhạy cảm và khó thu thập nên cần thiết phải được đánh giá trong một nghiên cứu toàn diện hơn trong thời gian tới để thu thập được chỉ số quan trọng này cho chương trình can thiệp.

4.2.3. Bàn luận về hành vi khám tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện

Tỷ lệ MSM chủ động đi khám và tư vấn và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua đạt 48,1%, trong đó 46,3% đi khám trong trong vòng 6 tháng nhưng vẫn còn 18,8% chưa bao giờ đi khám. Tỷ lệ này cao hơn so với cả nước qua nghiên cứu HSS 2012 là 23,8% [16].

Tỷ lệ MSM trong nghiên cứu có đi làm xét nghiệm HIV chiếm 87,1% trong đó: có 46,3% đối tượng đi xét nghiệm HIV trong vòng 6 tháng qua, 18,5% đã xét nghiệm trong thời gian từ 6 tháng đến 1 năm, gần 11,7% đối tượng chưa bao giờ làm xét nghiệm HIV. Có 64,8% đối tượng xét nghiệm HIV trong vòng 12 tháng qua, trong đó có 87,1% được biết kết quả xét nghiệm và tỷ lệ cho biết có kết quả dương tính với HIV là 3,8%. Tỷ lệ MSM đi làm xét nghiệm HIV và tự nhận mình có kết quả xét nghiệm HIV dương tính trong nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu HSS 2012 là 45,3% và 2,3% [16]. Sự khác biệt này theo chúng tôi có thể là do Trung tâm phòng chống HIV/AIDS phối hợp với Tiểu ban Quản lý dự án Quỹ toàn cầu phòng chống HIV/AIDS – Thành phần Vusta đã tăng cường: Giao chỉ tiêu cho các 2 nhóm MSM mỗi khách hàng phải được chuyển gửi xét nghiệm HIV 2 lần/ năm; Tổ chức nhiều buổi tư vấn, lấy mẫu xét nghiệm HIV tự nguyện tại nhóm và các tụ điểm. Để đánh giá đúng tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM được chính xác cần có nghiên cứu đánh giá tỷ lệ hiện nhiễm trong thời gian tới để có can thiệp phù hợp hơn cho nhóm MSM.



tải về 0.83 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương