Tiểu luậN: ngoại thưƠng việt nam từ NĂM 000 ĐẾn nay nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm Giảng viên hướng dẫn



tải về 379.24 Kb.
trang9/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích379.24 Kb.
#4385
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Nguồn: Tổng  cục Hải quan Việt Nam

  • Điều

Xuất khẩu điều nhân của nước ta năm 2004 ước đạt trên 105.000 tấn, đạt trị giá 430 triệu USD, tăng 23% về lượng và 52% về trị giá so với năm 2003 và đứng thứ 3 thế giới sau Brazil và Ấn Độ. Như vậy, kim ngạch xuất khẩu điều năm 2004 tăng mạnh phần lớn là do giá nhân điều thế giới tăng cao. Giá xuất khẩu trung bình cả năm đạt 4.100 USD/tấn, cao hơn 700 USD/tấn so với mức giá bình quân năm 2003

Năm 2005, do giá điều thế giới tăng, nên kim ngạch xuất khẩu tăng 10,3%, đạt 418 triệu USD, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu điều thứ 2 thế giới, sau Ấn Độ. Từ đầu năm 2006 đến nay, các doanh nghiệp trong nước đã xuất khẩu được trên 21.000 tấn hạt điều, đạt kim ngạch 85 triệu USD.

Mặc dù sản lượng hạt điều xuất khẩu tăng 14% nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu lại giảm 3%. Bình quân giá điều xuất khẩu chỉ đạt 4.079 USD/tấn, giảm 15% so với cùng kỳ năm trước. Những thị trường chính tiêu thụ điều nhân xuất khẩu của Việt Nam là Mỹ (41%), Trung Quốc (22%) và châu Âu (21%).

Trước đây, điều Việt Nam chủ yếu tập trung xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc nhưng hiện nay, đầu ra cho hạt điều đã được mở rộng, ngoài các thị trường truyền thống nêu trên, điều Việt Nam đã có mặt tại hơn 20 nước và khu vực trên thế giới. Thị trường Mỹ đã trở thành thị trường tiêu thụ điều Việt nam mạnh nhất chiếm 41% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Thị trường Hà Lan cũng dần chiếm tới 11% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, ngoài ra các thị trường như Nhật Bản, Trung Đông cũng đã nhập khẩu điều Việt Nam khá mạnh.



              1. Kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển nhập khẩu:

    1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ năm 2000 đến 2009

Tình hình nhập khẩu của nước ta từ năm 2000 cho đến năm 2009 cũng có nhiều biến động qua từng giai đoạn nhưng nhìn chung xu hướng tăng vẫn phát triển đều.

Có 2 giai đoạn đáng lưu ý đó là:



  • Giai đoạn trước khi gia nhập WTO (2000 - 2006):

Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu không ổn định. Năm 2001, tăng trưởng xuất nhập khẩu chỉ đạt 3,7% do tình tình kinh tế - chính trị thế giới biến động. Chỉ số này đã được cải thiện vào năm 2002, và bứt phá trong hai năm 2004-2005. Sau khi suy giảm nhẹ vào năm 2005, tốc độ tăng trưởng tiếp tục giữ ở mức cao, Nhập siêu xảy ra liên tục trong cả giai đoạn 2001-2006. Ngoại trừ năm 2005 có giá trị nhập siêu giảm nhẹ, các năm còn lại giá trị nhập siêu tăng liên tục.

Từ năm 2000 đến 2003, tỉ lệ nhập siêu của nước ta liên tục gia tăng, từ 8% lên đến 25.3%, sau đó giảm dần còn 10.41% năm 2006.



Năm Tỉ lệ nhập siêu (%)

2000 8,00

2001 7,90

2002 18,20

2003 25,30

2004 20,60

2005 14,40

2006 10,41

Nhập siêu đang gia tăng mạnh, nếu năm 2000 nhập siêu là 1154 triệu USD thì năm 2002 là 3040 triệu USD, năm 2003 đã lên tới 5051 triệu USD, năm 2004 là 5520 triệu USD.

Theo các chuyên gia kinh tế, tình trạng nhập siêu là do VN thiếu ngành công nghiệp phụ trợ. Vì trong cơ cấu nhập khẩu, nguyên vật liệu sản xuất chiếm tỉ trọng lớn, đặc biệt là các ngành dệt may, da giày, điện tử, gỗ... phải nhập nguyên phụ liệu từ 70%-90%.



  • Giai đoạn sau khi gia nhập WTO ( 2007 đến nay):

Tốc độ tăng trưởng năm 2007 là 28,9%, cao nhất trong 7 năm của giai đoạn 2001–2007. Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 109.217 triệu USD, gấp 3,5 lần so với 31.247 triệu USD của năm 2001.

Sang năm 2008, tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước là 80,71 tỷ USD, xét về số tuyệt đối tăng 18,03 tỷ USD và số tương đối tăng 29,1% so với năm 2007 và hoàn thành vượt 6,2% mức kế hoạch năm. Cả nước có 12 nhóm mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD, trong đó nhóm mặt hàng xăng dầu các loại và máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng nhập khẩu trên 10 tỷ USD.

Tháng 12 năm 2009, kim ngạch nhập khẩu (7,4 tỷ USD) đạt mức cao nhất trong năm, nâng kim ngạch nhập khẩu cả năm là 69,95 tỷ USD, giảm 13,3% so với năm 2008. Như vậy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước năm 2009 là 127,05 tỷ USD, giảm 11,4% so với năm 2008, cán cân thương mại hàng hoá thâm hụt 12,85 tỷ USD, bằng 22,6% xuất khẩu.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu hầu hết đều giảm so với năm trước là năm 2008

- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 lên 12,67 tỷ USD, giảm 3,3% so với năm 2008.

- Xăng dầu: hết tháng 12/2009, cả nước nhập khẩu 12,7 triệu tấn xăng dầu các loại, giảm 2% so với năm trước. Giá nhập khẩu bình quân nhóm hàng này giảm mạnh (41,8%) so với cùng kỳ 2008 nên kim ngạch nhập khẩu là gần 6,3 tỷ USD, giảm tới 43%.

- Nhóm hàng nguyên liệu ngành dệt may, da giày:nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày có kim ngạch là 7,36 tỷ USD, giảm 8,5% so với năm 2008. Trong đó, nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 4,6 tỷ USD, giảm 6,2% so với năm 2008.

- Sắt thép các loại: Năm 2009, Việt Nam nhập khẩu sắt thép chủ yếu có xuất xứ từ Nga: 1,74 triệu tấn, tăng 179%; Nhật Bản: 1,46 triệu tấn, tăng 11,5%; Trung Quốc: 1,3 triệu tấn, giảm 57,6%; Hàn Quốc: gần 1,3 triệu tấn, tăng 105%; Đài Loan: 1,17 triệu tấn, tăng 32%; Malaixia: 726 nghìn tấn, tăng 98% so với năm 2008;…

- Chất dẻo nguyên liệu:  nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng là hơn 188 nghìn tấn, giảm 2,5% so với tháng trước, trị giá đạt 274 triệu USD. Hết 12 tháng, lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu là 2,2 triệu tấn, tăng 25,2% so với năm 2008, trị giá đạt 2,8 tỷ USD. Nhóm hàng này nhập khẩu trong năm qua chủ yếu có xuất xứ từ: Hàn Quốc: 404 nghìn tấn, tăng 40,6%; Đài Loan: 329 nghìn tấn, tăng 3,5%; Thái Lan: 283 nghìn tấn, tăng 7,2%;….

- Phân bón: nhập khẩu phân bón trong tháng là 534 nghìn tấn, tăng 76,3% so với tháng 11. Hết tháng 12/2009, tổng lượng phân bón các loại nhập khẩu vào Việt Nam là 4,5 triệu tấn, tăng 48,9% so với năm 2008.

- Ôtô nguyên chiếc các loại và linh kiện, phụ tùng ôtô: trong tháng, lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu là gần 11,3 nghìn chiếc, giảm 2,1% so với tháng trước, nâng lượng nhập khẩu cả năm lên 80,6 nghìn chiếc, trong đó xe dưới 9 chỗ là 47,1 nghìn chiếc chiếm 58,4% lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu của cả nước.

- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong năm 2009 lên 3,95 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm 2008.



Về vấn đề nhập siêu ở giai đoạn sau năm 2007

Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 109.217 triệu USD, gấp 3,5 lần so với 31.247 triệu USD của năm 2001 và nhập siêu trong năm này tiếp tục tăng.

Năm 2008: Theo báo cáo cập nhật của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhập siêu năm 2008 của Việt Nam khoảng 17 tỷ USD, bằng 27% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn năm 2007 cả về giá trị và tỷ lệ so với tổng kim ngạch xuất khẩu.

Năm 2009: Nhập siêu năm 2009 dừng ở con số 12,2 tỷ USD, giảm 32,2% so với năm 2008. Tuy nhiên, nếu không kể tái xuất vàng trong quý I và nhập khẩu vàng tháng 11 năm 2009, kim ngạch xuất khẩu sẽ là 54 tỷ USD giảm 14%, nhập khẩu 68,6 tỷ USD giảm 15,1% và nhập siêu là 14,5 tỷ USD, giảm 19,4% so với năm 2008, nhưng vẫn lớn hơn mức nhập siêu năm 2007. Như vậy, nhập siêu đã vượt dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (11,5 tỷ USD), và cũng đã cao hơn mục tiêu đề ra (dưới 20% kim ngạch xuất khẩu).



    1. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu

  • Chia theo hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất

Tổng giá trị nhập khẩu cả nước giai đoạn 2000 đền 2009 nhìn chung có xu hướng tăng ngoại trừ một sự sụt giảm trong năm 2009. Tuy nhiên, cơ cấu nhập khẩu giữa hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất vẫn có sự thay đổi và biến động trong giai đoạn này.

Nhìn vào bảng số liệu ta có thể dễ dàng thấy được những điểm nổi bật sau đây:



  • Chiếm tỷ trọng nhập khẩu lớn nhất của nước ta vẫn là tư liệu sản xuất với số liệu hàng năm cho thấy trong suốt giai đoạn này tỷ trọng của tư liệu sản xuất chưa bao giờ thấp hơn 91%.

  • Chúng ta thấy rõ một xu hướng tăng nhẹ trong tỷ trọng tư liệu sản xuất từ năm 2005 đến 2009. Nó chỉ ra được tốc độ gia tăng nhập khẩu của khu vực này đang tăng. Điều này được thể hiện rõ hơn ở biểu đồ bên dưới

Sự thay đổi theo xu hướng tăng tỷ trọng tư liệu sản xuất và giảm tỷ trọng nhập khẩu hàng tiêu dùng nói lên một xu hướng tích cực trong nhập khẩu nước ta hiện nay. Đúng với chủ trương của đất nước là nhằm đổi mới trang thiết bị, cải tiến nền sản xuất của đất nước.

  • Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu

So với các thời kỳ trước ( giai đoạn trước năm 2000), mức độ nhập khẩu các nguyên liệu, hàng hóa chủ yếu thời kỳ này(2000 đến 2009) ( chiếm khoảng 45-50% giá trị nhập khẩu) phần nào thể hiện sự phát triển nhanh chóng của sản xuất và tiêu dùng xã hội.

Với những hàng hóa thiết yếu phục vụ nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, công nghiệp như xăng dầu, sắt thép, phân bón, nguyên liệu cho ngành dệt may có tốc độ tăng trưởng cao. Đặc biệt là ô tô, sắt thép, vải , chất dẻo và xăng dầu



Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu

Đơn vị

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Ô tô nguyên chiếc

Chiếc

16362

28269

29355

21355

24961

21279

12496

30471

51059

Linh kiện điện tử, máy tính nguyên chiếc và linh kiện

Triệu đôla Mỹ

892.8

710.1

701.2

1014.1

1349.5

1638.6

1869.7

2958.4

3714.3

Xăng, dầu các loại

Nghìn tấn

8747.3

9083.0

9970.5

9936.4

11047.8

11477.8

11224.6

13195.0

12963.9

Phân bón

Nghìn tấn

3971.3

3288.2

3820.2

4135.1

4064.8

2915.0

3107.1

3800.1

3034.8

Chất dẻo

Triệu đôla Mỹ

530.6

551.0

613.5

829.0

1251.5

1516.9

1886.2

2528.7

2945.1

Nguyên, phụ liệu giày dép

"

504.2

553.4

641.5

768.7

809.3

843.3

827.5

928.3

2355.1

Phụ liệu may

"

917.4

1036.2

1069.3

1264.9

1443.7

1438.7

1123.9

1224.0

2879.2

Vải các loại

"

761.3

880.2

1523.1

1805.4

2066.6

2474.2

2947.0

3990.5

4457.8

Sắt, thép

"

2845.0

3870.1

4945.9

4622.8

5152.0

5495.1

5667.0

8115.5

8263.6

Giai đoạn này có thể chia thành 3 xu hướng phát triển nhập khẩu khác nhau gồm:



  • Nhóm có tốc độ tăng trưởng nhanh ( đơn vị: triệu đôla Mỹ)

Nhập khẩu Sắt thép trong giai đoạn này tuy có xu hướng chung là đi lên nhưng nó cũng đã chứng kiến một giai đọan đầy biến động. Ngoại trừ một sự sụt giảm nhập khẩu trong năm 2002 thì tất cả những năm còn lại đều có lượng nhập khẩu tăng lên với tốc độ nhanh nhất là vào giai đoạn 2006-2007 và bắt đầm giảm lại vào năm 2008 dừng ở mức giá trị nhập khẩu là 8263.6 triệu đôla Mỹ. Sang năm 2009, mức nhập khẩu chỉ tăng nhẹ so với năm 2008

Trong giai đoạn này, các ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam trong lĩnh vực dệt may giày dép vẫn còn cần nhập rất nhiều nguyên phụ liệu từ bên ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước vẫn chưa phát triễn, hầu hết nguyên liệu đều nhập từ nước ngoài. Tuy nhiên biểu đồ thống kê dưới đây ta có thấy một điểm đáng lưu ý đó chính là các loại vải nhập khẩu mặc dù đà tăng vẫn cao nhưng tốc độ đang giảm dần, đó là một dấu hiệu đáng mừng. Từ đây ta có thể thấy một xu hướng tích cực trong dài hạn. Riêng việc nhập khẩu các Nguyên, phụ liệu vẫn đang gia tăng một cách đáng kể với một bước nhảy vọt trong năm 2008 và dừng lần lượt ở 2979.2(Phụ liệu may) và 2355.1 (nguyên phụ liệu giày dép)

Sắt thép, vải, nguyên phụ liệu dệt may và giày dép chính là những mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất và cũng chính là nguyên nhân chính của tình trạng nhập siêu trong giai đoạn này


  • Nhóm có tốc độ tăng trưởng trung bình

(Chất dẻo đơn vị: nghìn tấn, Linh kiện đơn vị: triệu đôla Mỹ)


  • Nhóm hàng nhập khẩu có xu hướng tăng trưởng không đều và nhiều biến động.

Do công nghệ tinh chế xăng dầu thành phẩm của Việt Nam chưa phát triễn nên việc phải nhập khẩu nhiều xăng dầu là điều dễ hiểu. Xăng dầu chiếm một lượng lớn trong nhập khẩu của Việt Nam. Trong giai đoạn này nhập khẩu xăng cũng có nhiều biến động, nguyên nhân phần nhiều là do ảnh hưởng của biến động từ phía thế giới

Đối với nhập khẩu ô tô cũng có nhiều biến động nhưng từ năm 2006 trở đi thì có một sự gia tăng đáng kể trong nhập khẩu ô tô. Vào năm 2008 là đỉnh điểm với gần 51059 chiếc được nhập vào Việt Nam và đến hết tháng 10 nam 2009 lượng ô tô nguyên chiếc đã đạt gần 57000 chiếc, báo hiệu một xu hướng tăng tới cuối năm. Đây là một dấu hiệu không tốt khi ô tô nằm trong diện cần hạn chế nhập khẩu của nhà nước.

(Xăng, dầu đơn vị: nghìn tấn, Ô tô đơn vị: chiếc)


    1. Cơ cấu thị trường nhập khẩu

Hàng hóa của nước ta được nhập khẩu từ khoảng trên 200 nước. So với 30 thị trường nhập khẩu trước khi mở cửa, tỷ trọng nhập khẩu từ Châu Á tăng nhanh

Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương gồm: Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông. Năm 2001, Việt Nam nhập khẩu đến 73,7% hàng hóa từ các nước trên; đến 11 tháng đầu năm 2007, con số này là 76,3%. Ngoài ý nghĩa mở rộng giao lưu buôn bán, cơ cấu thị trường cũng phần nào thể hiện sự tính toán hiệu quả nhập khẩu phù hợp với đặc điểm tiêu dùng và khả năng đầu tư, năng lực vận tải còn hạn chế của sản xuất và tiêu dùng trong nước ta.



Trong chính sách về cơ cấu thị trường nhập khẩu, định hướng đề ra là giảm tỷ trọng nhập khẩu từ các nước châu Á xuống còn 55% vào năm 2010. Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kì 2001-2010 còn đề cập tới việc gia tăng nhập khẩu từ các thị trường công nghệ nguồn như Mỹ, EU, Nhật Bản lên 40% vào năm 2010. Tuy nhiên, đến thời điểm này có thể thấy mục tiêu này hoàn toàn không khả thi.

    1. Chủ thể tham gia nhập khẩu

Nhìn vào 2 biểu đồ trên, chúng ta có thể thấy được cơ cấu nhập khẩu xét về khu vực kinh tế. từ năm 1995 đến nay. Trước năm 2000 thì khu vực kinh tế trong nước chiếm đến hơn 70% lượng nhập khẩu từ nước ngoài. Sau năm 2000, tỷ lệ này có sự thay đổi lớn khi khu vực kinh tế trong nước chỉ còn chiếm khoảng 65% tỷ lệ nhập khẩu vào trong nước. Các doanh nghiệp FDI xuất hiện ngày càng nhiều do sự hội nhập của Việt Nam với quốc tế đã dẫn đến sự thay đổi rõ nét này.

              1. Nhận định chung về kết quả đạt được(thành tựu, hạn chế)

    1. Thành tựu:

Trong vòng 10 năm giai đoạn 2000 đến nay, hoạt động ngoại thương của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Việt Nam chính thức trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại Thế Giới vào năm 2007. Đây trở thành cột mốc quan trọng đối với hoạt động thương mại của Việt Nam.

  • Tỷ trọng xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 10 năm qua tăng cao. Năm 2000, tổng giá trị xuất nhập khẩu mới chỉ là 30 tỷ USD (Xuất khẩu: 14,5 tỷ USD) thì đến hết năm 2009, con số này đã lên tới 125 tỷ USD (trong đó xuất khẩu là 56 tỷ USD).

  • Có rất nhiều mặt hàng đã đạt được con số trên 1 tỷ USD như: gạo, quần áo, giày dép, dầu thô, than đá, thủy sản, cà phê, cao su, đồ gỗ…

  • Những thị trường mà Việt Nam có giao dịch ngày càng mở rộng, thể hiện rõ xu hướng tìm kiếm thị trường mới của các doanh nghiệp Việt Nam.

  • Hệ thống các cửa khẩu quốc tế ngày cảng được mở rộng và hoàn thiện. Tạo điều kiện tích cực trong quá trình xuất nhập khẩu. Hệ thống cơ sở hạ tầng dần được hoàn thiện.

Việc quản lý xuất nhập khẩu đã có những tiến bộ nhất định (tuy vẫn còn nhiều điểm hạn chế). Đặc biệt, hiện nay đã áp dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý hải quan, giúp giảm thời gian và nâng cao hiệu quả việc lưu thông hàng hóa.

    1. Hạn chế:

Tuy trong giai đoạn 2000 đến nay, hoạt động ngoại thương của Việt Nam đã có nhiều thành tựu đáng kể, nhưng không thể không kể đến những hạn chế. Nếu không được giải quyết kịp thời, những hạn chế này có thể làm chậm, thậm chí kìm hãm tốc độ tăng trưởng cũng như sự hội nhập kinh tế Thế giới của Việt Nam.

  1. Những hạn chế từ phía Nhà nước và chính sách:

Những năm gần đây hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đang gặp khá nhiều vấn đề về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Cụ thể, chiến lược cạnh tranh của đa số các doanh nghiệp Việt Nam đều mang tính thụ động, dựa vào các lợi thế có sẵn hay lợi thế "trời cho" như lao động, tài nguyên, vị trí địa lý, vị trí độc quyền, trợ cấp riêng rẽ, lãi suất ưu đãi… Rất ít doanh nghiệp dám theo đuổi một chiến lược chủ động.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là nhiều chính sách ở tầm vĩ mô đã góp phần tạo nên tâm lý thụ động và ỷ lại ở nhiều doanh nghiệp. Rõ ràng là không thể nói đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh khi môi trường kinh doanh do chính sách vĩ mô tạo ra không có được những tiền đề thúc đẩy cạnh tranh phát triển. Tài liệu tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt Nam do UNIDO phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo đã chỉ ra rất đúng rằng môi trường kinh doanh hiện nay ở Việt Nam là "một môi trường kinh doanh manh mún và kém phát triển, một cơ cấu kích thích bị bóp méo, sự hỗ trợ và bảo hộ tràn lan của Chính phủ đối với nhiều doanh nghiệp và sức ép cạnh tranh hạn chế".



  • Mọi biện pháp đều nhắm vào đẩy mạnh xuất khẩu:

Dường như đang phổ biến quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tăng trưởng xuất khẩu, và để đạt tăng trưởng cao thì cần thúc đẩy xuất khẩu nhiều hơn nữa. Tuy nhiên, thực trạng xuất khẩu của ta vẫn chưa đóng góp thật sự và có chất lượng vào tăng trưởng bền vững:

  • Bằng chứng thứ nhất nằm ở cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của ta. Xuất khẩu đã tăng trưởng rất nhanh trong thời kỳ sau đổi mới, trung bình là 19%/năm. Nhưng cơ cấu xuất khẩu lại hầu như không có thay đổi quan trọng trong suốt thời gian đó, và chỉ thiên về sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến (như lúa gạo, cà phê, thủy sản) và khoáng sản (chủ yếu là dầu thô). Những mặt hàng nông nghiệp và khoáng sản thô này luôn có mặt trong nhóm mười mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta, và chiếm đến trên 50% tổng giá trị xuất khẩu hơn 20 năm qua. Hàng công nghiệp chế biến lọt vào trong danh sách này là ba sản phẩm may, dệt, và giày dép, chiếm hơn 20% tổng giá trị xuất khẩu. Cần lưu ý là các mặt hàng công nghiệp chế biến này có hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp. Các mặt hàng chủ yếu khác nằm ngoài tốp 10 này cũng lại là các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến (như hạt điều, chè, cao su) và than. Tóm lại, cơ cấu xuất khẩu vẫn dựa chủ yếu vào khoáng sản, hàng nông nghiệp chưa chế biến, và hàng công nghiệp chế biến có giá trị gia tăng thấp, mặc dù có một số biến chuyển nhưng không đáng kể, đặc biệt là so với các nước Đông Á trong giai đoạn phát triển ban đầu của họ vào thập kỷ 1970 và 1980.

  • Lý do thứ hai ngăn cản xuất khẩu đóng góp tích cực vào tăng trưởng là các mối liên hệ ngược trở lại (backward linkages) giữa khu vực xuất khẩu với phần còn lại của nền kinh tế còn rất yếu ở nước ta. Trước tiên, cần thấy rằng ta đã thất bại trong việc xây dựng mạng lưới các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ trực tiếp cho các hoạt động sản xuất để xuất khẩu. Một thí dụ dễ thấy về tình trạng này là trong ngành lúa gạo. Do sự yếu kém của công nghiệp xay xát, chế biến, một tỷ trọng lớn gạo Việt Nam xuất đi không được xử lý thích hợp nên giá gạo ViệtNam bao giờ cũng thấp hơn giá gạo Thái-lan từ 15-20%. Trong các ngành khác như cà phê, rau quả, thủy sản, tình hình cũng tương tự. Giá xuất khẩu thấp hơn có nghĩa là ta phải chịu thiệt thòi nhiều hơn cho cùng một lượng các nguồn lực khan hiếm dùng trong quá trình sản xuất so với đối thủ.

Hơn nữa, cần phải tỉnh táo nhìn nhận lại con số tăng trưởng ngoạn mục của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong thời gian qua. Hầu như các nhà làm chính sách đều bỏ qua hoặc xem nhẹ thực tế là những mặt hàng xuất khẩu này, như da giày, may mặc, đều có giá trị gia tăng rất thấp, chủ yếu nằm ở tiền công gia công, vốn đã ở mức rẻ nhất trong khu vực. Có một phân tích cho thấy, Việt Nam chỉ được hưởng tổng cộng khoảng 5% lợi nhuận của một cái áo sơ mi xuất khẩu. Như vậy, nếu xét đến giá trị gia tăng thì đóng góp từ tăng trưởng xuất khẩu lên tăng trưởng kinh tế trên thực tế sẽ nhỏ hơn nhiều so với những gì vẫn tưởng nếu chỉ dựa vào doanh số xuất khẩu danh nghĩa. Và điều quan trọng hơn ở đây là, vì tỷ lệ giá trị gia tăng thấp nên Việt Nam buộc phải duy trì tăng trưởng xuất khẩu mạnh các mặt hàng này nhằm tăng tỷ trọng giá trị gia tăng của chúng góp vào GDP. Mà điều này có nghĩa là ta phải xuất khẩu ồ ạt (bằng các biện pháp trợ cấp xuất khẩu chẳng hạn) các mặt hàng giày dép, quần áo vào các thị trường chính quốc tế như Mỹ và EU, và tức là sẽ luôn phải đối mặt với hàng rào tự vệ thương mại do các nước này dựng lên, như các mức thuế trừng phạt mà EU đang tiến hành hiện nay.

  • Lý do thứ ba nằm ở mối quan hệ lỏng lẻo giữa chủ trương khuyến khích xuất khẩu và chủ trương công nghiệp hóa ở Việt Nam. Không giống như các nước Đông Á khác, nơi mà tăng trưởng kinh tế gắn liền với và được kéo đồng thời bởi cả hai quá trình tăng trưởng xuất khẩu và công nghiệp hóa, quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế Việt Nam diễn ra rất chậm chạp. Mặc dù con số thống kê cho thấy tốc độ tăng trưởng công nghiệp là khá cao, nhưng cần lưu ý rằng nó bị “kéo” chủ yếu bởi tốc độ tăng trưởng của ngành khai khoáng (chủ yếu là dầu thô). Cần lưu ý thêm rằng chiến lược công nghiệp hóa dựa quá nhiều vào khai thác dầu thường không thành công, mà thí dụ điển hình là hai nước xuất khẩu dầu lửa lớn Nigeria và Venezuela.

Bên cạnh đó, các ngành dệt may, da giày, chế biến lương thực và thực phẩm đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất so với các ngành công nghiệp chế biến khác. Tuy nhiên, những ngành này sử dụng phần nhiều là lao động phổ thông từ nông thôn, thường chỉ được học nghề tại chỗ trong nhà máy trong một thời gian ngắn. Máy móc và thiết bị thường rất cũ kỹ, lạc hậu (thí dụ trong ngành chế biến lương thực), với quy mô sản xuất nhỏ bé. Vì vậy, chất lượng sản phẩm luôn là vấn đề trong những ngành này, và vì thế khó mà thuyết phục được rằng tăng trưởng nhanh của những ngành này đã đóng góp quan trọng vào tốc độ công nghiệp hóa ở ta.

  • Lý do cuối cùng nằm ở việc phân bổ không hợp lý các nguồn lực khan hiếm sang cho khu vực sản xuất để xuất khẩu. Như đã nói, vai trò của xuất khẩu dường như đã được đánh giá cao quá mức ở nước ta, thể hiện qua các mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu, năm sau thường phải cao hơn năm trước, được thực hiện bằng tất cả các biện pháp khuyến khích có thể có, mà bỏ quên việc phân tích lợi - hại đi kèm với quá trình khuyến khích xuất khẩu. Chính việc khuyến khích và trợ cấp xuất khẩu như vậy đã bóp méo giá cả là yếu tố phản ánh mức độ khan hiếm tương đối của các nguồn lực sản xuất, tập trung sản xuất để xuất khẩu ở những ngành Việt Nam không hoàn toàn có lợi thế, dẫn đến làm giảm tổng phúc lợi trong xã hội vì các nguồn lực đã bị sử dụng không hiệu quả.

Nói tóm lại, việc đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, Nhà nước cần có các biện pháp đi kèm để đảm bảo việc xuất khẩu tận dụng tối đa và không gây lãng phí nguồn lực của xã hội, đồng thời hỗ trợ các ngành nghề trực tiếp, gián tiếp liên quan đến quá trình xuất khẩu được phát triển. Có như vậy, tăng trưởng xuất khẩu mới có đầy đủ ý nghĩa nhất.

  • Về chính sách tiền tệ và tỷ giá của nước ta:


tải về 379.24 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương