Tiểu luậN: ngoại thưƠng việt nam từ NĂM 000 ĐẾn nay nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm Giảng viên hướng dẫn


Giá trị xuất khẩu da giày Việt Nam 2001-2006



tải về 379.24 Kb.
trang6/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích379.24 Kb.
#4385
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Giá trị xuất khẩu da giày Việt Nam 2001-2006

Đơn vị: Triệu USD

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

1.500

1.600

1.800

2.250

2.700

3.039

3.550

Trong 8 tháng đầu năm 2007 thì kim ngạch xuất khẩu của hàng giày da đạt 2.72 tỷ USD vớI mức tăng trưởng 14.3% so vớI cùng kỳ năm 2006. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của ngành này trong vài năm gần đây đạt khá cao. Việt Nam hiện là một trong 10 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu giày dép. Trong đó, 20% lượng giày dép nhập khẩu của EU là từ Việt Nam, chiếm tới 80% tổng giá trị xuất khẩu của toàn ngành với trên 200 triệu đôi năm 2002, đứng thứ 2 sau Trung Quốc.



Đông Âu là vùng đất còn tiềm năng để da giày Việt Nam tiếp tục mở rộng thị trường. Việt Nam được các nước đánh giá là có lợi thế về phát triển ngành da giày, tuy nhiên con đường cạnh tranh vẫn là khâu khó nhất. Một trong những yếu tố của chất lượng, theo các doanh nghiệp da giày, đó là mẫu mã. Việt Nam cần chú trọng đặc biệt đến thiết kế mẫu mã hơn nữa.


  • Thủy sản.

Thủy sản là một trong những ngành hàng chủ lực của Việt Nam, đóng góp không nhỏ vào GDP quốc gia. Theo Bộ Thủy sản, hàng thuỷ sản Việt Nam hiện đã có mặt tại gần 100 nước và vùng lãnh thổ. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong năm 2004 đạt 2,397 tỷ USD, qua năm 2005 đạt khoảng 2,6 tỷ USD. Qua năm 2006, xuất khẩu thủy sản Việt Nam hoàn thành rất sớm kế hoạch, nhờ xuất khẩu tới hầu hết các thị trường chủ lực đều tăng trưởng cao, đặc biệt là các thị trường khu vực EU và Đông Âu, với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong xuất khẩu cá tra và basa. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong tháng 11/2006 ước đạt 320 triệu USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản 11 tháng đầu năm lên gần  739 nghìn tấn thủy sản các loại, đạt giá trị 3,1 tỷ USD, vượt 10% so với kế hoạch, tăng 29,2% khối lượng và 23,4% giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là những con số tốt hơn cả dự báo do VASEP đưa ra từ đầu năm . Và cho dù mức 3 tỷ USD đưa ra từ đầu năm vốn vẫn bị coi là lạc quan, nhất là khi so với chỉ tiêu đặt ra cho toàn ngành, nhưng thực tế thì thủy sản đã cán đích 3 tỷ ngay trong tháng 11.





2005

2006

2007

(8 tháng đầu năm)

Số lượng(nghìn tấn)

634

821

527

Triệu USD

2.736

3.357

2.104

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2005, 2006 và 8 tháng đầu năm 2007
Hiện nay, người tiêu dùng trên thế giới rất ấn tượng với con tôm và cá ba sa của Việt Nam. Nếu so sánh con tôm Việt Nam với con tôm các nước khác, Việt Nam có lợi thế hơn rất nhiều từ những yếu tố khác nhau của điều kiện nuôi. Đã có nhiều nhà xuất khẩu “tôm sạch” từ Việt Nam sang thị trường Liên minh Châu Âu (EU). Việt Nam có thể nuôi được tôm sú cỡ lớn dành cho những thị trường hàng đầu trong khi những quốc gia khác như Thái Lan và Indonesia đang chuyển đổi sang nuôi con tôm chân trắng.  Sự tăng trưởng của nhóm mặt hàng cá đông lạnh nói chung và cá tra, basa nói riêng và là nhân tố quyết định đẩy giá trị xuất khẩu thủy sản của toàn ngành vượt ngưỡng 3 tỷ USD. Trong 11 tháng đầu năm, xuất khẩu cá đông lạnh xuất khẩu tăng mạnh cả về khối lượng, trong đó riêng nhóm mặt hàng cá tra, basa, theo thống kê đã tăng hơn gấp đôi cả về khối lượng và giá trị. Tỷ trọng nhập khẩu thủy sản của Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của một số thị trường chính tăng lên khá nhanh trong những năm vừa qua và đã khẳng định được vị trí của Việt Nam trong việc cung cấp thủy sản cho các thị trường này.

Năm 2004, giá trị xuất khẩu cá sang thị trường EU đạt 110 triệu USD, gấp 3 lần so với năm trước, chiếm gần một nửa giá trị xuất khẩu thủy sản sang thị trường này. Mặt

hàng cá xuất sang EU đã vượt trên Nhật Bản (66 triệu USD), chỉ xếp sau Mỹ (141 triệu USD) và chiếm 20% tổng giá trị xuất khẩu cá của Việt Nam (552 triệu USD).

Năm 2006, trong khi xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng chậm chạp, thì thị trường Nga có bước nhảy vọt mạnh mẽ, tăng 274,6%, trong đó chủ yếu là các sản phẩm cá đông lạnh. Các thị trường Đông Âu như đã được dự báo, đang trở thành khu vực tăng trưởng mạnh mẽ của cá nước ngọt Việt Nam.

Trong số các thị trường xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam, các thị trường đáng lưu ý bao gồm: Nhật Bản, Mỷ và EU. Nhật Bản: Thị trường hàng đầu của thủy sản Việt Nam vẫn là Nhật Bản. Theo thống kê của VASEP, 11 tháng đầu năm 2006, tổng giá trị thủy sản xuất sang Nhật Bản đạt 775 triệu USD, song đáng chú ý là tỉ lệ tăng trưởng chỉ có 2,8%.

Mỹ: Người tiêu dùng ở Mỹ thuộc nhiều tầng lớp rất phân biệt về văn hóa và thu nhập nên các sản phẩm thủy sản tiêu thụ ở Mỹ rất đa dạng. Hệ thống các quy định, luật lệ điều tiết nhập khẩu khá nhiều và phức tạp, việc tranh chấp thương mại giữa các nước đang phát triển với phía Mỹ về xuất khẩu thủy sản vào Mỹ thường xảy ra. Tuy nhiên các quy định môi trường của Mỹ không khắt khe như thị trường EU.




  • Cà phê

Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc Bán Cầu, khí hậu rất thích hợp với việc phát triển cây cà phê và đem lại cho cà phê Việt Nam một hương vị rất riêng. Đặc biệt là ở phía Nam nơi gần xích đạo, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với cây cà phê Robusta trong đó tập trung ở vùng Tây nguyên mà tỉnh Đắc Lắc đã chiếm hơn 50% sản lượng của cả nước, còn miền Bắc có mùa đông lạnh và mưa phùn thích hợp vớI cà phê Arabica.

Cà phê vối (C.Canephora  Robusta) của Việt Nam nổi tiếng trên thế giới, đó là sản phẩm bắt nguồn từ chủng cà phê Robusta đã được chọn lọc qua nhiều thập kỷ. Do được sản xuất tập trung trên những vùng đất tốt, có khí hậu thích hợp, thâm canh cao, đặc biệt phần lớn trồng ở độ cao 400 m trở lên, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm lớn nên vừa có năng suất cao vừa có hương vị thơm ngon được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng. Cà phê Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, năm 1975 cả nước có 13.000 ha cà phê, sản lượng trên 6.000 tấn, thì đến nay đã có trên dưới 500.000 ha với sản lượng trên 700.000 tấn/năm. Trong các mặt hàng nông sản Việt Nam, cà phê là mặt hàng có vị trí khá quan trọng, cà phê đem lại hàng năm một lượng kim ngạch xuất khẩu trên 500 triệu USD, chiếm vị trí thứ nhì sau lúa gạo.

Cùng với sự tăng trưởng của sản lượng thì số lương và kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt nam tăng lên không ngừng, niên vụ 1992 – 1993 Việt Nam xuất khẩu 116.000 tấn đến niên vụ 2002 – 2003 Việt Nam đã xuất khẩu 691.421 tấn, niên vụ xuất khẩu cao nhất là niên vụ 2000 – 2001 là 847.670 tấn. Như vậy tính đến niên vụ cà phê 2002 – 2003 Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới sau Braxin. Mặt hàng cà phê Việt Nam đước đánh giá là một trong hai mươi mặt hàng cạnh tranh của Việt Nam.

Xin giới thiệu các số liệu thống kê qua các bảng và đồ thị sau , chúng ta có thể nói: đến nay ngành cà phê Việt Nam đã phát triển đạt đến mức ngưỡng của nó, ngành cà phê Việt Nam nên dừng mở rộng mà đi vào thời kỳ kiện toàn, theo hướng phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế.



Năm

Diện tích (ha)

Khối lượng

xuất khẩu (MT)



Giá trị ( USD)

Đơn giá bình quân (USD/T)

2000

535.000

705.300

464.342.000

658,36

2001

535.000

844.452

338.094.000

400,37

2002

522.200

702.018

300.330.686

427,81

2003

509.937

693.863

446.547.298

643,57

2004

503.241

889.705

576.087.360

647,53

2005

491.400

803.647

634.230.772

789,20

2006

488.700

822.299

976.919.435

1188,00

2007

506.000

1.074.709

1.643.457.644

1529,2

http://www.tinthuongmai.vn/portals/0/157/10946.gif

Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu


trong 17 năm từ 1991- 2007

Năm 2004 cả nước xuất khẩu được 889.705 tấn cà phê, đạt giá trị 576.087.360 USD, giá bình quân là 647,5 USD/tấn. Đến cuối năm 2005 cả nước xuất khẩu được hơn 892 nghìn tấn với trị giá 735,5 triệu USD. Năm 2006 cà phê có kim ngạch xuất khẩu là 1.1 tỷ USD tăng gần 50% so vớI năm 2005. Tính đến tháng 8 năm 2007, chúng ta đã xuất khẩu được khoảng 900.000 tấn cà phê, đạt kim ngạch 1,4 tỷ USD, tăng 90.7% so vớI cùng kỳ năm 2006.

Theo số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục hải quan, tháng 4/2009 xuất khẩu cà phê của Việt Nam giảm 10,51% về lượng và 10,65% về kim ngạch so với tháng 3/2009, nhưng so với cùng kỳ năm 2008 lại tăng 72,86% về lượng và tăng 13,16% về kim ngạch, đạt 125,887 nghìn tấn, kim ngạch trên 183 triệu USD. Tính đến hết tháng 4 năm 2009, cả nước xuất khẩu được trên 555 nghìn tấn cà phê, đạt kim ngạch trên 832 triệu USD, giảm nhẹ 2,4% về kim ngạch nhưng lại tăng 31,4% về lượng so với 4 tháng năm 2008. Về chủng loại xuất khẩu: Tháng 4/2009, chủng loại xuất khẩu cà phê lớn nhất  vẫn là robusta, đạt trên 116 ngàn tấn, kim ngạch gần 166,8 triệu USD, đều giảm nhẹ 3,07% về lượng và 3,46% về trị giá so  với tháng trước, nhưng lại tăng 64,44% về lượng và 6,43% về trị giá so với tháng 4/2008.

Đức vẫn là một trong những thị trường truyền thống của nước ta. Lượng cà phê xuất khẩu sang đây trong tháng 4/2009 đạt trên 12 nghìn tấn giảm nhẹ 3,85% so với tháng trước nhưng lại tăng 100,85% so với tháng 4/2008, đạt kim ngạch trên 17,5 triệu USD giảm 4,41% so với tháng 3/2009 và giảm 29,04% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên so với tổng 4 tháng cùng kỳ năm 2008, thì giảm 22,94% về kim ngạch và tăng 5,42% về lượng đạt gần 60,4 nghìn tấn; kim ngạch đạt trên 91,7 triệu USD.

Tính đến hết tháng 3/2010, lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 345 nghìn tấn, giảm 22% so với cùng kỳ năm trước, trị giá là 483 triệu USD, giảm 27,8%, tương ứng giảm 186 triệu USD; rong đó, phần trị giá giảm do lượng giảm là 147 triệu USD và phần trị giá giảm do giá giảm là 39 triệu USD. Như vậy, lượng và trị giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong trong quý I/2010 đạt mức thấp nhất so với cùng kỳ 3 năm trở lại đây.


  • Điện tử.

Từ năm 1987 đến nay, công nghiệp sản xuất máy tính và linh kiện điện tử Việt Nam bước đầu hình thành và phát triển, tốc độ phát triển hàng năm đạt khá cao, đặc biệt trong thời gian vừa qua. Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu cả nước, xuất khẩu máy tính và linh kiện điện tử cũng đã liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao trong thời gian qua, đạt 13%/năm trong giai đoạn 2000-2005. Năm 1995 tổng kim ngạch xuất khẩu mới chỉ đạt 13,45 triệu USD thì đến năm 2000 đạt 595,6 triệu USD và năm 2005 đạt 1,427 tỷ USD; năm 2006 đạt 1,770 tỷ USD, tăng 24% so với năm 2005; 5 tháng đầu năm 2007 đạt 744 triệu USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2006. Dự báo trong giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng này đạt 26,7%/năm và đạt 4,651 tỷ USD vào năm 2010.

Trong đó, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng máy tính và linh kiện điện tử Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong giai đoạn 2001-2005 rất cao, đạt 153,22%/năm, tuy nhiên không đều qua từng năm, thể hiện: năm 2002 tăng 33,3% so với năm 2001 và tăng đột biến trong năm 2003, đạt tới 486,1% so với năm 2002 và năm 2004 lại giảm rất mạnh chỉ đạt 2,4%, tiếp đó lại tăng tới 245,4% năm 2005 sau đó lại đạt giá trị âm 1,1% vào năm 2006.

Ngành hàng điện tử - CNTT nước ta lại còn rất non trẻ, cả nước mới chỉ có gần 200 nhà sản xuất, còn phần lớn các doanh nghiệp khác hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ. Phần lớn các doanh nghiệp của ta đều là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn ít, công nghệ không cao; chỉ có số ít doanh nghiệp lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Fujitsu, Canon...). Chính vì vậy, các  doanh nghiệp điện tử - CNTT đã đi tìm những "thị trường khe", "thị trường ngách" là những thị trường và các sản phẩm mà các công ty đa quốc gia ít quan tâm hoặc bỏ không làm.

Thái Lan luôn là thị trường lớn nhất về xuất khẩu với kim ngạch trong tháng 7/2007 đạt 32,2 triệu USD, tăng 17,1% so với tháng trước và đã chiếm 25,5% kim ngạch xuất khẩu thiết bị tin học trong tháng sang tất cả các thị trường. Tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này từ đầu năm 2007 đến hết tháng 7 đạt 178,5 triệu USD. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Thái Lan là bảng mạch các loại (28,2 triệu USD) và linh kiện vi tính (3,8 triệu USD). Thị trường Hà Lan: trong tháng 7/2007, xuất khẩu tới Hà Lan đạt 18,6 triệu USD, tăng 10,7% so với tháng trước và đã chiếm 14,7% kim ngạch xuất khẩu thiết bị tin học trong tháng sang tất cả các thị trường. Mặt hàng chủ yếu xuất sang thị trường này là máy in (18,1 triệu USD) và đã chiếm 97,3% kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này.

Thị trường Mỹ: xuất khẩu trong tháng 7/2007 sang Mỹ đạt 16,8 triệu USD, tăng 34,4% so với tháng trước nâng tổng kim ngạch xuất khẩu thiết bị tin học sang thị trường này 7 tháng đầu năm đạt 116,5 triệu USD. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường này là máy in (15,1 triệu USD) và đã chiếm 89,9% kim ngạch.


  • Cao su

Theo thống kê, cả nước hiện có hơn 500.000 ha cao su được trồng tập trung ở Đông Nam bộ (339.000 ha), Tây Nguyên (113.000 ha), Bắc Trung bộ (41.500 ha) và Duyên Hải Nam Trung bộ (6.500 ha). Thấy được tiềm năng của thị trường cao su thế giới và lợi ích của việc phát triển cây cao su, Chính phủ đã lên kế hoạch mở rộng diện tích trồng cao su lên 600.000 ha vào năm 2015 và đầu tư phát triển 200.000 ha cao su tại Lào và Campuchia.

Với việc tăng diện tích và sản lượng cao su, Việt Nam hy vọng sẽ đạt 1,5 triệu tấn cao su thiên nhiên và hơn 1,5 triệu m3 gỗ cao su (gỗ tròn) trước năm 2020. Theo Viện Điều tra quy hoạch rừng, Tây Nguyên được xác định là vùng trọng điểm cao su của cả nước (cùng với vùng Đông Nam bộ) vì có lợi thế nhất về tiềm năng đất đai để mở rộng diện tích cao su. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty cao su khu vực Tây Nguyên trong những năm qua cho thấy, việc mở rộng diện tích trồng cây cao su khu vực này là đúng đắn.

Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết, hiện cao su là mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam (sau gạo). Riêng năm 2006, cao su thiên nhiên xuất khẩu của Việt Nam (bao gồm cả nguồn cao su thiên nhiên nhập khẩu từ các nước láng giềng), đã đạt sản lượng gần 708.000 tấn, với tổng giá trị xấp xỉ 1,3 tỷ USD.

Tính đến hết tháng 8, cả nước ta xuất khẩu được 419 ngàn tấn cao su các loại đạt kim ngạch 793 triệu USD, giảm 0,84% về lượng và giảm 1,19% về trị giá so với 8 tháng đầu năm 2006. Trong tháng 8, giá xuất khẩu trung bình cao su sang một số thị trường giảm nhẹ. Cao su SVR10, giảm 49 USD/tấn, xuống còn 1.841 USD/tấn, trong đó giá xuất sang Trung Quốc đạt 1.769 USD/tấn, giảm 56 USD/tấn; sang Đài Loan đạt 1.852 USD/tấn, giảm 146 USD/tấn; sang Malaysia đạt 1.906 USD/tấn, giảm 95 USD/tấn so với giá xuất khẩu trung bình tháng trước.


Kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt nam qua các năm ( triệu USD):


2003

280

2004

579

2005

610

2006

1300

8 tháng đầu năm 2007

799



Số liệu xuất khẩu cao su sang các thị trường tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2007


Tên nước

Tháng 7/2007

7 tháng 2007




Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng  (tấn)

Trị giá (USD)

Achentina

258

541.451

1.549

3.293.761

Ấn Độ

423

761.339

2.732

4.840.852

Anh

460

704.713

1.599

2.562.791

Ba Lan

101

220.834

524

1.094.432

Bỉ

804

1.204.292

5.720

8.166.950

Bồ Đào Nha







191

361.300

Braxin

435

824.539

2.149

3.993.432

Tiểu vương quốc Arập thống nhất







105

220.500

Campuchia

163

312.865

420

831.835

Canađa

121

257.728

1.068

2.190.761

Đài Loan

3.893

7.179.928

16.677

33.995.721

CHLB Đức

2.693

5.777.671

14.899

29.905.223

Hà Lan

63

144.571

415

735.221

Hàn QUốc

2.697

4.811.732

17.524

30.544.900

Hồng Kông

181

343.024

1.528

2.962.761

Indonêsia

475

634.525

2.919

3.487.891

Italia

1.054

1.762.185

3.882

7.103.881

Malaysia

4.591

8.969.917

17.720

34.848.739

Mỹ

3.357

5.886.950

10.489

17.121.581

CH Nam Phi

20

38.304

121

264.911

New Zealand

313

396.094

395

557.481

Liên Bang Nga

2.016

3.898.154

8.237

16.637.492

Nhật bản

953

2.134.110

6.783

15.061.233

Phần Lan

181

414.372

1.230

2.572.431

Pháp

936

2.056.596

3.233

6.783.671

CH Séc

40

82.333

340

740.672

Singapo

257

569.601

1.319

2.716.445

Slôvakia

241

492.084

1.304

2.611.551

Tây Ban Nha

853

1.760.362

4.066

7.960.421

Thái Lan

54

103.966

267

572.801

Thổ Nhĩ Kỳ

1.065

1.974.069

4.803

8.899.007

Thụy Điển

142

286.770

586

1.166.793

Trung Quốc

38.010

71.803.336

211.263

398.000.521

Ucraina

200

374.000

722

1.439.136

Theo số liệu năm 2005 thì kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam đứng thứ 4, chiếm 6- 7% thị phần xuất khẩu của thế giới, sau Thái Lan (35- 40%), Indonesia (27%), Malaysia (15%). Có khoảng 50 nước/ vùng lãnh thổ nhập khẩu cao su của Việt Nam, trong đó nhiều nhất là Trung Quốc (40%), tiếp đến là Đức (20%), Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, EU, Nhật Bản, Malaysia.



1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương