Tiểu luậN: ngoại thưƠng việt nam từ NĂM 000 ĐẾn nay nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm Giảng viên hướng dẫn



tải về 379.24 Kb.
trang5/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích379.24 Kb.
#4385
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Dầu thô.

Năm

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Sản lượng

15423.5



16731.6



16876.0



17142.5



19500.6



17966.6



16442.0



15062.0



13752.3


Năm 2006, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam bố trí kế hoạch khai thác 20,86 triệu tấn dầu thô quy đổi (tăng 1,5 triệu tấn so với mức đã thực hiện trong năm 2002). Đây là năm đầu tiên nước ta khai thác trên 20 triệu tấn dầu thô quy đổi. Trong đó có 17,6 triệu tấn dầu thô và 3,7 tỷ m3 khí thiên nhiên. Dự kiến đến năm 2010, ngành Dầu khí nước ta sẽ khai thác từ trên 30 đến 32 triệu tấn dầu thô quy đổi, nhằm đáp ứng các ngành năng lượng và sản xuất công nghiệp của cả nước.

Theo số liệu của tổng Cục Thống Kê:
http://i185.photobucket.com/albums/x233/khanhhippi/bd1-1.jpg

Biểu đồ giá trị xuất khẩu dầu thô của Việt Nam qua các năm 2004-2008
Hiện nay, thị trường tiêu thụ dầu thô Việt Nam chủ yếu là khu vực châu Á - Thái Bình Dương như: Trung Quốc, Singapore, Australia, Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản... Các khách hàng mua dầu chủ yếu là các hãng và tập đoàn dầu khí lớn trên thế giới như: Shell, BP (Anh quốc); Exxon Mobil, Chevron (Mỹ); Chinaoil, Sinopec, Sinochem... (Trung Quốc); Sumitomo, Sojitz, Mitsubishi (Nhật Bản)... Bên cạnh các khách hàng mua dầu truyền thống, Petechim cùng Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã và đang thiết lập các mối quan hệ hợp tác kinh doanh dầu thô với các khách hàng mới trong và ngoài khu vực.


  • Dệt may

Dệt may là 1 trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm gần đây bên cạnh dầu mỏ, thủy sản…. Hiện nay ngành dệt may đã và đang tạo ra hơn 2 triệu việc làm trên cả nước, số lượng lao động này tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Việt Nam với thị trường rộng lớn, lực lượng lao động sẵn có với giá rẻ, đặc biệt sau khi chúng ta đã gia nhập WTO rào cản về hạn ngạch được xóa bỏ thì xúât khẩu dệt may được xem là mục tiêu trọng tâm phát triển trong thờI kỳ mới.

Về xuất khẩu, xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam năm 2006 đạt 5,8 tỉ USD, trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Vinatex chiếm trên 1,7 tỉ USD. Nhưng do chủ yếu làm gia công hoặc làm hàng FOB sử dụng nguyên phụ liệu nhập khẩu nên kim ngạch nhập khẩu của ngành dệt may cũng... xấp xỉ kim ngạch xuất khẩu (khoảng 5,65 tỉ USD). Trong đó, nhập vải 52%, nguyên phụ liệu 34%, sợi 10%, bông xơ 4%. Hiện Việt Nam đang được xếp hạng 16/153 nước xuất khẩu dệt may trên thế giới. Mục tiêu hướng đến là đưa Việt Nam lên top 10 nước xuất khẩu hàng dệt may.




Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may giai đoạn 2000 – 2006

Đơn vị : Triệu USD

Năm

Kim ngạch

2000

1.892

2001

1.975

2002

2.752

2003

3.689

2004

4.386

2005

4.806

2006

5.800

Năm 2005, ngành Dệt may Việt Nam đã duy trì, phát triển sản xuất với mức tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam đạt hơn 9.780 tỷ đồng, tăng 13% so với năm 2004, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,14 tỷ USD.

Mặc dù kết quả xuất khẩu của ngành dệt may đầu năm 2007 không như mong đợi, bởi sự lo ngại cơ chế giám sát của Hoa Kỳ, nhưng niềm tin tăng trưởng cao về kim ngạch của ngành dệt may sẽ vẫn được giữ vững, thậm chí sẽ vượt qua dầu khí để trở thành ngành xuất khẩu số một Việt Nam.

Xuất khẩu dệt may trong sáu tháng đầu năm 2007 đạt 3,43 tỷ USD, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu không vì các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ lo ngại cơ chế giám sát của Bộ Thương mại nước này thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu không thể thấp hơn 30%.

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, dệt may Việt Nam từ chỗ bị khống chế theo hạn ngạch vào thị trường Hoa Kỳ thì nay đã được phép xuất theo năng lực và nhu cầu thị trường. Với quy chế của một thành viên WTO, các DN được hưởng điều kiện kinh doanh bình đẳng. Thuế nhập khẩu dệt may Việt Nam vào một số thị trường sẽ giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng Việt Nam thâm nhập các thị trường nước ngoài. Bên cạnh đó, đầu tư nước ngoài vào dệt may Việt Nam sẽ tăng đáng kể, nhất là đầu tư vào hạ tầng của ngành dệt may sẽ tạo điều kiện cho DN sản xuất chủ động, hạ giá thành... đẩy mạnh xuất khẩu.


  • Gạo

Ngành sản xuất lúa gạo nước ta trong những năm vừa qua đã có những bước chuyển tích cực. Nó đã thực sự giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Hàng năm, ngành lúa gạo đã đóng góp từ 12 – 13% trong tổng GDP. Giá xuất khẩu gạo của chúng ta đã không thua kém nhiều so với Thái Lan. Là mặt hàng có giá trị xuất khẩu đứng thứ 5, lúa gạo đã đem về cho đất nước mỗi năm từ 600 – 800 triệu USD. Không những thế nó còn có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực trên toàn thế giới. Đứng thứ 2 về xuất khẩu gạo, nước ta mỗi năm góp từ 13 – 17% lượng gạo xuất khẩu trên toàn thế giới.
Xuất khẩu gạo qua các năm


Năm

Sản lượng

(Triệu tấn)



Trị giá

(Triệu USD)



2000

3,37

610

2001

3,53

545

2002

3,24

608

2003

3,90

693

2004

4,06

859

2005

4,99

1.330

2006

4,70

1.310

                                                  Nguồn: Vinanet
Năm 2005 là năm năm đầu tiên sau 17 năm có mặt ở thị trường gạo thế giới, kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam vượt ngưỡng 1,3 tỷ USD. Cũng là lần đầu tiên khi giá gạo thế giới xuống, cả Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lẫn Hiệp hội Lương thực Việt nam đã đề nghị nông dân giữ lúa gạo lại, chờ được giá mới bán.

Nhờ nguồn hàng trong nước dồi dào, Hiệp hội lương thực Việt Nam và Tổng công ty Lương thực Miền nan bước đầu chủ động trong việc xuất khẩu và lựa chọn bạn hàng. Chủ động tham gia đấu thầu và thắng thầu nhờ chất lượng và giá cả cạnh tranh. Giá gạo xuất khẩu ở mức cao và ổn định trong một thời gian dài, do đó, đã khuyến khích nông dân đầu tư thâm canh tăng năng suất. Mặc dù, giá các loại đầu vào tăng, song tính chung thì người nông dân vẫn có lãi cao trong sản xuất lúa. Tính bình quân người sản xuất có lãi hơn 75% đối với nông dân DBSH, và hơn 95% đối với nông dân ĐBSCL. Riệng trong 8 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đã đạt 1.1 tỷ USD tăng 12.2% so vớI cùng kỳ năm trước.

Kết quả xuất khẩu gạo trong năm 2008 đạt 4.679.050 tấn, trị giá FOB 2,663 tỷ USD. Xuất khẩu trong 7 ngày đầu tháng 1/2009 đạt 73.140 tấn, trị giá 30,113 triệu USD.

Hiện nay át chủ bài của Việt Nam trên thị trường chính là gạo giá rẻ, mà giá rẻ thì phải lấy mục tiêu số lượng làm chính, làm thế nào để xuất khẩu được ngay cả những sản phẩm gạo chất lượng thấp nhất, đó là 1 chiến lược cần phải làm.




  • Đồ gỗ.

Trong những năm gần đây, ngành chế biến gỗ Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh, vươn lên là một trong 7 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đưa nước ta trở thành một trong 4 quốc gia xuất khẩu hàng gỗ chế biến lớn nhất khu vực Đông Nam Á, sau Malaysia, Indonesia và Thái Lan. Hiện nay cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệp chế biến gỗ với năng lực chế biến 2,2 -2,5 triệu mét khối gỗ tròn mỗi năm, trong đó có 450 công ty chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (120 công ty chuyên sản xuất hàng ngoài trời và 330 công ty sản xuất hàng nội thất), thuộc nhiều thành phần kinh tế, thu hút khoảng 170.000 lao động.

Các doanh nghiệp sản xuất và chế biến gỗ ở Việt Nam bao gồm các công ty nhà nước (374 doanh nghiệp), các công ty trách nhiệm hữu hạn và do chính sách đầu tư nước ngoài mở cửa của Chính phủ, đến nay đã có 49 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ Singapore, Đài Loan, Malayxia, Na Uy, Trung Quốc, Thụy Điển... đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và chế biến các sản phẩm gỗ tại Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký lên đến 105 triệu USD. Đa số các công ty sản xuất và chế biến các sản phẩm gỗ tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền miền Nam (TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai...), các tỉnh miền Trung và Tây nguyên (Bình Định, Gia Lai, Đắc Lắc...), một số công ty thường là các công ty sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ, tập trung ở các tỉnh phía Bắc và khu vực đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây, Vĩnh Phúc...



Nhìn chung quy mô của các xí nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu là các xí nghiệp vừa và nhỏ, sản xuất kết hợp giữa thủ công và cơ khí. Các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng đồ gỗ công nghiệp thường có sự đầu tư mới về các trang thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất, trong khi đó đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ có hệ thống thiết bị khá lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của các đơn hàng lớn hay các thị trường yêu cầu chất lượng cao…
Bảng: Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam 2001-2005 (Đvt: triệu USD)




2001

2002

2003

2004

2005

Tổng

311,9

460,2

688,9

1.101,7

1.562,5

EU

93,093

99,464

160,747

-

456,868

Mỹ

16,124

51,265

120,350

-

566,968

Nhật Bản

96,074

117,663

136,349

-

240,873

Các nước khác

106,61

191,81

271,45

-

297,79

Nguồn:Niên giám thống kê 2005, Bộ Thương mại

Bảng: Kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam 2001-2005 (Đvt: Triệu USD)





2001

2002

2003

2004

2005

Tổng

163,945

255,343

357,012

542,291

-

Malaysia

30,554

-

101,010

150,906

135,088

Lào

34,788

-

52,850

59,042

69,515

Campuchia

17,580

-

34,246

44,247

57,680

Trung Quốc

1,622

-

7,967

25,555

5,808

Mỹ

5,172

-

14,655

30,721

39,339

Thái Lan

5,866

-

11,292

21,885

36,481

Đài Loan

6,932

-

16,490

29,352

31,069

Myanma

2,297

-

5,729

7,985

30,073

New Zealand

4,168

-

13,098

19,040

25,157

Brazil

1,652

-

10,556

17,812

24,303

Nguồn: Bộ Thương mại
Bảng: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ qua các năm (ĐVT: Triệu USD)


Năm

2003

2004

2005

2006

Kim ngạch xuất khẩu

567

1.100

1.600

1.920

Nguồn: Vinanet
Trong 8 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng gỗ đạt được 1.5 tỷ USD tăng 23.3% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mặt hàng đã khẳng định được vị trí tương đối vững chắc trong cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là kể từ năm 2004 với kim ngạch xuất khẩu vượt mức 1 tỷ USD và tăng trưởng bình quân đạt gần 40%/năm trong vòng 5 năm qua. Chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu đặt ra cho mặt hàng này là đến năm 2010 xuất khẩu đạt giá trị 5,5 tỷ USD, tăng bình quân 28,9%/năm.

Hầu hết các sản phẩm đồ gỗ của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp của Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, các nước Đông Âu và Mỹ La Tinh. Chỉ tính riêng Trung Quốc đã có trên 50.000 cơ sở sản xuất với hơn 50 triệu nhân công và sản xuất với doanh số gần 20 tỷ USD.

Thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽ trong những năm gần đây, từ chỗ tập trung vào các thị trường trung chuyển như Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc... để tái xuất khẩu sang một nước thứ ba, đến nay đã xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường của người tiêu dùng.

Hiện tại, các sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam có mặt ở 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với các chủng loại sản phẩm đa dạng, từ hàng trang trí nội thất trong nhà, hàng ngoài trời... đến các mặt hàng dăm gỗ. Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng. Chỉ tính riêng các mặt hàng gỗ và đồ gỗ được sản xuất trên dây chuyền công nghiệp, năm 1998 mới đạt 135 triệu USD thì đến năm 2002 con số này đã lên đến 431 triệu USD, năm 2003 đạt  567 triệu USD và năm 2004 đánh dấu thành công của ngành chế biến gỗ Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt 1,05 tỉ USD, tăng 86% so với năm 2003. Theo Tổng cục hải quan, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của cả nước trong 9 tháng đầu năm đã vượt ngưỡng 1,5 tỷ USD. Trong đó mặt hàng gỗ nội thất phòng ngủ chiếm 28,8%; nội thất phòng khách 22,7%; nội thất văn phòng 12,6%; thấp nhất là các loại sản phẩm gỗ trang trí (2,1%); nội thất nhà bếp 2,9%.

EU, Nhật Bản, Mỹ là những thị trường dẫn đầu mức tiêu thụ sản phẩm gỗ của Việt Nam, chiếm hơn 70% tổng giá trị sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam, trong đó EU chiếm xấp xỉ 28%, Nhật Bản chiếm 24% và Mỹ chiếm hơn 20%. Đồ nội thất dùng trong phòng khách, phòng ăn là một trong những sản phẩm nội thất được tiêu thụ nhiều nhất trên các thị trường. Đồ nội thất dùng trong phòng khách, phòng ăn của Việt Nam ngày càng có mặt tại các thị trường chính như Mỹ, EU và Nhật Bản và tiềm năng cho xuất khẩu sản phẩm gỗ loại này còn rất lớn cho các doanh nghiệp.

Về lâu dài để giải quyết nguyên liệu trong nước cho công nghiệp chế biến gỗ cần tiến hành quy hoạch đất trồng rừng hợp lý trên cơ sở chọn một số chủng loại cây phục vụ thiết thực cho công nghiệp chế biến, có hiệu quả kinh tế. Nhà nước có chính sách đầu tư tín dụng dài hạn trên 10 năm phù hợp với chu trình trồng rừng.




  • Giày da

Ngành công nghiệp da giày Việt Nam đã phát triển rất nhanh và được xem là một trong những ngành công nghiệp chính đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển. Da giày là một trong 3 ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất hiện nay sau dầu thô và dệt may, chiếm trên 10% tổng kim ngạch xuất khẩu. Với khoảng 240 doanh nghiệp đang hoạt động, ngành da giày đang là một ngành xuất khẩu mũi nhọn, thu hút khoảng 500.000 lao động.

Trước khi mở cửa nền kinh tế vào những năm 1990, ngành da giày Việt Nam chủ yếu may mũi giày để xuất sang Liên bang Xô Viết nhưng chất lượng không cao và chủng loại ít. Khi đó ngành da giày Việt Nam phải đối mặt với cuộc khủng hoảng gay gắt do không có nhà nhập khẩu. Nhờ chính sách cải cách của chính phủ Việt Nam, nhiều liên doanh với các đối tác nước ngoài được thành lập và ngành da giày bắt đầu tìm được chỗ đứng trên thị trường quốc tế.

Hiện ngành giày da Việt Nam đứng thứ tư trong số 8 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Hồng Kông và  Italia, thế nhưng 90 % sản phẩm của giày da Việt Nam là hàng gia công. Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày vẫn đạt mức tăng trưởng đều đặn hàng năm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, hiện ngành này đang phải đối mặt với bài toán hóc búa về thương hiệu, chiến lược phát triển và đang mất dần lợi thế. Các doanh nghiệp nội địa ngành da giày Việt Nam có 3 bất lợi lớn: Thứ nhất là không chủ động được nguồn nguyên liệu nên phụ thuộc vào khách hàng và các nhà cung cấp nguyên liệu từ Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc. Thứ hai, công nghệ yếu nên không có sức cạnh tranh và doanh nghiệp phải làm gia công cho các công ty liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài là chính. Và cuối cùng là do công tác xúc tiến thương mại kém, nên hầu hết các doanh nghiệp sản xuất làm gia công ở tầng thứ 2, thứ 3. Như vậy, cái gọi là sức cạnh tranh, tiềm lực mạnh của ngành da giày thực ra đều thuộc về các công ty lớn của Đài Loan, Hàn Quốc đặt tại Việt Nam. Chính họ đã khai thác các lợi thế về lao động, môi trường xã hội ổn định, giá nhân công rẻ...vv của Việt Nam.

Theo số liệu thống kê, trên 70% các doanh nghiệp xuất khẩu lớn là công ty liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài. Do đó những doanh nghiệp này phụ thuộc nhiều vào các đối tác của họ về thiết bị kỹ thuật, công nghệ, thiết kế sản phẩm, nguồn cung cấp nguyên liệu thô, phụ liệu và thị trường. Theo bộ Công nghiệp, mỗi năm nước ta vẫn phải nhập 6 triệu feet vuông da thuộc. Nhà máy thuộc da chưa đáp ứng được 10% nhu cầu và hiện chỉ hoạt động được 25% công suất do thiếu nguyên liệu. Hàng năm, Việt Nam chỉ có thể cung cấp 5000 tấn da bò và 100 tấn da trâu nhưng nguồn nguyên liệu nội địa không được tận dụng và giá trị xuất khẩu thấp. 60% nguồn da này được xuất sang Trung Quốc và Thái Lan, phần còn lại thì không đủ tiêu chuẩn để sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Vì thế mỗi năm Việt Nam chi từ 170 tới 230 triệu USD để nhập da giả và từ 80 tới 100 triệu USD để nhập da từ Thái Lan, Đài Loan và Hàn Quốc.

Ngoài ra, trong số 30% công ty Việt Nam tham gia vào sản xuất da giày lại có tới 70% làm gia công vì thế giá trị lợi nhuận đích thực mà ngành này mang lại không lớn. Và chưa đến 20 doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam đủ sức làm hàng dạng FOB. Doanh số xuất khẩu của ngành da giày tập trung chủ yếu ở những công ty nước ngoài như Samyang, Pouchen, Pouyuen...Giày vải, mặt hàng vốn là thế mạnh của Việt Nam cũng bị hàng của Trung Quốc chiếm chỗ và Việt Nam hiện xuất khẩu chủ yếu là  hàng thể thao, giày dép, hài đi trong nhà.

Việt Nam chiếm vị trí thứ tư trên thế giới về xuất khẩu hàng giày dép sau Trung Quốc, Hồng Kông và Italia, với kim ngạch xuất khẩu qua các năm



tải về 379.24 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương