Tiểu luậN: ngoại thưƠng việt nam từ NĂM 000 ĐẾn nay nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm Giảng viên hướng dẫn



tải về 379.24 Kb.
trang4/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích379.24 Kb.
#4385
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Nguồn : Tổng cục Thống kê.

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hữu hình giai đoạn 2001-2005 đạt bình quân 17.4%/năm và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP. Trong khi đó xuất khẩu dịch vụ trong giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 15.7%/năm.

Về thị trường xuất khẩu : hiện nay chúng ta đã xuất đi trên 230 nuớc trên thế giới. Trong đó thị trường tiêu thụ chủ yếu là châu Á với kim ngạch 56,067 triệu USD chiếm 50.6% tổng lượng xuất khẩu trong giai đoan 2001-2005, kế đến là thị trường châu Âu và châu Mỹ với kim ngạch lần lượt là 22,765 triệu USD và 20,995 triệu USD.

Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng tham gia mạnh vào hoạt động xuất khẩu : các doanh nghiệp có vốn FDI năm 2004 xuất khẩu 14,486 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 54.6%) năm 2005 :18,553 tỷ USD (chiếm 57.6% kim ngạch xuất khẩu). Hiện có trên 35700 doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia xuất khẩu, có doanh nghiệp tư nhân có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm.

Trong 8 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 32 tỷ USD bằng vớI kim ngạch năm 2005 và tăng 19.3% so vớI cùng kỳ năm ngoái. Trong đó nhiều ngành hàng đang về đích đạt kế hoạch và đã có 8 mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD. Với tốc độ xuất khẩu như những tháng qua, các chuyên gia kinh tế kỳ vọng có thể đạt mức tăng 20% trong năm nay nếu những tháng còn lại giữ được tốc độ xuất khẩu như đầu năm, bình quân 4,4 tỷ USD/tháng. Với tốc độ này, xuất khẩu cả năm nay có thể đạt kim ngạch 47 tỷ USD.

Hai ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất vẫn chính là dầu thô và dệt may. Dầu thô đạt kim ngạch 5,091 tỷ USD, giảm 10% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngược lại, phải ghi nhận sự nỗ lực của ngành dệt may, đã bứt phá để đạt 5,084 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ.

Tính đến hết tháng 12/2008, cả nước có 12 nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD, đặc biệt mặt hàng dầu thô đã vượt 10 tỷ USD; có 5 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực vượt kế hoạch năm (gạo, hạt điều, hải sản, hàng giày dép, hàng rau quả). Tuy nhiên, có rất nhiều nhóm hàng có kim ngạch cao đã không thể hoàn thành kế hoạch năm về sản lượng như cà phê, cao su, dầu thô, than đá, chè các loại, hạt tiêu. Và có một số nhóm hàng không hoàn thành kế hoạch năm về kim ngạch như hàng dệt may, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện, gỗ & sản phẩm gỗ.

Trong bức tranh tăng trưởng xuất khẩu chung có đóng góp lớn của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tháng 12, khối này xuất khẩu 2,17 tỷ USD và hết 12 tháng đạt gần 24,26 tỷ USD, chiếm tỷ trọng khá cao (38,7%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

1.2 Trị giá xuất khẩu hàng hóa theo khu vực kinh tế và phân theo nhóm hàng.



ĐV: Triệu USD.

Năm

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

TỔNG SỐ

14482,7

15029,2

16706,1

20149,3

26485,0

32447,1

39826,2

48561,4

62685,1

Phân theo khu vực kinh tế




























Khu vực kinh tế trong nước

7672,4

8230,9

8834,3

9988,1

11997,3

13893,4

16764,9

20786,8

28155,9

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

6810,3

6798,3

7871,8

10161,2

14487,7

18553,7

23061,3

27774,6

34529,2

Phân theo nhóm hàng




























Hàng CN nặng và khoáng sản

5382,1

5247,3

5304,3

6485,1

9641,9

11701,4

14428,6

16000,0

19200,0

Hàng CN nhẹ và TTCN

4903,1

5368,3

6785,7

8597,3

10870,8

13293,4

16389,6

21598,0

28575,0

Hàng nông sản

2563,3

2421,3

2396,6

2672,0

3383,6

4467,4

5352,4

7200,0

10400,0

Hàng lâm sản

155,7

176,0

197,8

195,3

180,6

252,5

297,6







Hàng thủy sản

1478,5

1816,4

2021,7

2199,6

2408,1

2732,5

3358,0

3763,4

4510,1

Phân theo khu vực kinh tế, từ năm 2000 tới nay, trị giá xuất khẩu của Việt Nam có sự phát triển mạnh, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2000 trị giá xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 6810,3 triệu USD, tới năm 2008 con số này đã là 34529,2 triệu USD. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có giá trị xuất khẩu thấp hơn khu vực kinh tế trong nước vào những năm 2001-2002, xấp xỉ trong năm 2003 và vượt lên trong những năm sau của giai đoạn 2001-2007. Điều này cho thấy khu vực sử dụng vốn FDI có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm cao hơn khu vực trong nước



Giai đoạn trên ghi dấu sự kiện quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam, năm 2007 Viêt Nam chính thức thành viên của WTO. Tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2007 đạt 7,7%, là mức cao nhất kể từ năm 2001 đến năm 2007 . Việc Việt Nam gia nhập WTO đã có những tác động đầu tiên đến một số lĩnh vực của nền kinh tế, nhất là xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo số liệu của Bộ Thương mại, tổng kim ngạch xuất khẩu quý I/2007 đạt 10,483 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2006; tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 11,799 tỷ USD, tăng 33,6% so với cùng kỳ năm 2006. Tại khu vực kinh tế trong nước quý I / 2007 xuất khẩu đạt 4,646 tỷ USD, còn tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 5,837 tỷ USD





. Bảng 1. Xuất nhập khẩu quý I năm 2007




QI-2007
(tỷ USD)


QI-2007/QI-2006 (%)

Xuất khẩu cả nước

10,483

117,8

- DN 100% vốn trong nước

4,646

124,7

- DN vốn FDI

5,837

112,9

Nhập khẩu cả nước

11,799

133,6

- DN 100% vốn trong nước

7,556

139,8

- DN vốn FDI

4,243

123,8

Cán cân TM cả nước

- 1,316




- So với KN xuất khẩu (%)

12.55




- DN 100% vốn trong nước

-2,910




- DN vốn FDI

1,594




Xuất khẩu dịch vụ

1,260

114,5

Nhập khẩu dịch vụ

1,380

111,3

Cán cân thương mại dịch vụ

-120




- So với KN xuất khẩu (%)

9,5




Xuất nhập khẩu những tháng đầu năm 2007 có thể nhận thấy một số xu hướng mới rất đáng quan tâm. Nó phản ánh một số tác động ban đầu của việc Việt Nam gia nhập WTO. Tốc độ tăng xuất khẩu 22% của 4 tháng đầu năm thấp hơn mức 25% của cùng kỳ năm 2006, cho thấy xu hướng tăng trưởng xuất khẩu đang chậm lại. Kim ngạch xuất khẩu chưa đạt mức kỳ vọng 3,96 tỷ USD/tháng, mức trung bình thấp nhất để đạt mục tiêu 46,75 tỷ USD đề ra cho cả năm 2007. Nguyên nhân chính là do khối lượng dầu thô xuất khẩu giảm 5,4% và giá trị xuất khẩu mặt hàng này giảm hơn 10% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài dầu thô, xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực khác cũng giảm như gạo, xe đạp và phụ tùng xe đạp.

Tuy nhiên, bù đắp cho sự sụt giảm xuất khẩu dầu thô, xuất khẩu nhiều mặt hàng khác đã tăng mạnh như: hàng dệt may tăng 31,8%; sản phẩm nhựa tăng gần 49%; hàng điện tử tăng 27,5%; các sản phẩm gỗ, dây điện, thủ công mỹ nghệ đều tăng trên 24%; thuỷ sản tăng 20,5%; rau quả tăng 21%... Sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng trên là do tăng cả lượng và giá, tuy nhiên tăng về lượng đóng góp phần đáng kể. Điều đáng mừng là xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước 4 đầu năm đã tăng vọt, đạt 27%- cao hơn đáng kể mức 14% của cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài phi dầu mỏ vẫn tiếp tục tăng cao, đạt tới 35,2%. Trong 4 tháng đầu năm, đã có 4 mặt hàng có giá trị xuất khẩu xấp xỉ hoặc vượt ngưỡng 1 tỷ USD (trừ dầu thô), bao gồm: thuỷ sản (trên 1 tỷ USD); hàng dệt may (xấp xỉ 2,2 tỷ USD); giày dép (1,2 tỷ USD); và cà phê (947 triệu USD)

Việc giảm xuất khẩu dầu thô làm giảm sự lệ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên này. Xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp này đóng vai trò thay thế xuất khẩu dầu thô. Các thị trường xuất khẩu truyền thống tiếp tục tăng mạnh và một số thị trường khác cũng tăng khá. Đạt được kết quả trên một phần là do các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng được cơ hội khi Việt Nam gia nhập WTO, với các rào cản về hạn ngạch bị dỡ bỏ, rào cản về thuế suất thuế nhập khẩu vào các nước được cắt giảm...

Hình 1. Trị giá xuất khẩu phân theo khu vực kinh tế

Hình 2.Trị giá xuất khẩu phân theo nhóm hàng
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 2001-2006 nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, hàng nông, lâm, thủy sản lần lượt là 18,4%; 22,2% và 15,2%. Như vậy, nhìn chung nhóm hàng Công nghiệp nhẹ và Tiểu thủ công nghiệp gia tăng nhanh về giá trị và chiếm vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu quốc gia. Vai trò của nhóm hàng nông, lâm thủy sản giảm đáng kể.


  • Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu:

Năm 2007 chỉ riêng hai mặt hàng dầu thô và than đá đã chiếm gần 20% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Sản lượng xuất khẩu dầu thô và than đá tăng trưởng không ổn định. Khối lượng xuất khẩu dầu thô chỉ tăng nhẹ trong những năm đầu của giai đoạn 2001-2007 rồi giảm dần. Sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khi công tác thăm dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước khác không đạt nhiều tiến triển.

Để tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong những năm tới kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này sẽ giảm dần. Trong đề án xuất khẩu 2006-2010, Bộ thương mại đã điều chỉnh mục tiêu xuất khẩu khoáng sản, nhiên liệu xuống còn 9,6% vào năm 2010, trong đó giá trị xuất khẩu dầu thô còn 6,1 tỷ USD và than đá còn 325 triệu USD.




  • Nhóm hàng nông lâm thủy sản

Trong vòng 7 năm 2001-2007, giá trị xuất khẩu các mặt hàng này đã tăng lên gần gấp 3 lần. Đây là những mặt hàng chịu nhiều tác động của thị trường thế giới. Trong những năm 2001-2003, do ảnh hưởng của kinh tế thế giới suy giảm, nhu cầu về nông sản, thủy sản giảm làm giảm giá hàng loạt mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng rất chậm trong giai đoạn này. Những năm còn lại của giai đoạn 2001-2007, do tình hình kinh tế thế giới phục hồi và chi phí sản xuất gia tăng; giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã tăng nhanh.

Trong năm 2007, khối lượng xuất khẩu các mặt hàng nông sản có phần giảm hoặc tăng không nhiều. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu lại tăng rất cao so với năm 2006. Nguyên nhân là giá nông sản thế giới đang trên đà lên giá. Đầu năm 2008, thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng lương thực khi giá hầu hết các nông sản chính như: bắp, lúa mì, gạo đều tăng gấp 2-3 lần trong vòng chưa đầy hai năm.

*Tóm lại, do đã có quá trình phát triển lâu dài, đã khai thác phần lớn tiềm năng nên hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam những năm qua có xu hướng tăng trưởng chậm lại về khối lượng, nhưng vẫn gia tăng nhanh về giá trị do giá cả thế giới có xu hướng tăng lên. Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trước những thời cơ và thách thức mới. Để các mặt hàng này thực sự trở thành thế mạnh của xuất khẩu Việt Nam, về lâu dài cần phát triển theo hướng: nâng cao dần chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm lượng chế biến, đẩy mạnh hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu, phát triển hạ tầng pháp lý.


  • Nhóm hàng chế biến: Đây là nhóm hàng gồm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: dệt may, giày dép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹ nghệ… Có thể phân chia các mặt hàng này thành hai nhóm:

  • Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ

  • Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm

  • Dệt may, da giày:

Tình hình xuất khẩu dệt may, da giày của Việt Nam 7 năm qua luôn ổn định. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành dệt may là 23%, da giày là 15,3%. Hai ngành này có chung đặc điểm là sử dụng nhiều lao động, phù hợp với lợi thế lao động giá rẻ ở Việt Nam. Những hạn chế của các ngành này là phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của nước ngoài (60%-70%), hao phí điện năng lớn.

  • Sản phẩm gỗ

Các sản phẩm gỗ gia tăng giá trị xuất khẩu một cách đều đặn trong giai đoạn 2001-2007. Trong vòng 7 năm, giá trị xuất khẩu tăng gấp 7 lần. Năm 2004 có tốc độ tăng trưởng kỉ lục 81%, qua đó đưa gỗ vào nhóm hàng có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Gia nhập WTO mở ra những thuận lợi và cả khó khăn cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu.

  • Máy tính và linh kiện điện tử:

Ngành xuất khẩu hàng điện tử và linh kiện máy tính đang ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Nếu như không tính năm 2002 xuất khẩu mặt hàng này giảm đi do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân của mặt hàng này giai đoạn 2003-2007 đạt 29,4%, cao nhất trong số các mặt hàng chủ lực

*Tóm lại, vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến: dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Do vậy, giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu chưa cao, các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trong việc kí kết các hợp đồng. Nhiều sản phẩm chế biến còn mang tính chất gia công.


1.3 Trị giá xuất khẩu phân theo khối nước:

Ngày 14/11/1998, các thành viên của APEC đã thông qua việc kết nạp Việt Nam làm thành viên chính thức của APEC; đánh dấu bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế của nước ta. Giai đoạn từ năm 2000 tới 2008, trị giá xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường APEC tăng mạnh mẽ. Thị trường APEC cũng có tiềm năng rất lớn đối với Việt Nam, chiếm trên 80% kim ngạch buôn bán, 75% vốn đầu tư nước ngoài và trên 50% nguồn viện trợ phát triển (ODA). Xuất khẩu của Việt Nam vào các nước và vùng lãnh thổ thuộc APEC khá lớn. Năm 2005 đã chiếm 71,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sang tất cả các nước trên thế giới. Như vậy đây là một thị trường tiềm năng của Việt Nam cần quan tâm tới.

Trong những năm qua, thị trường xuất khẩu sang các nước EU cũng đạt được nhiều kết quả to lớn. Năm 2000, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) kỷ niệm 10 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (28-11-1990 - 28-11-2000) và 5 năm ngày ký Hiệp định khung về hợp tác Việt Nam - EU (17-7-1995 - 17-7-2000). Quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và EU đã đạt được những kết quả lớn, tạo tiền đề cho những bước phát triển tiếp theo. Quan hệ buôn bán thương mại Việt Nam - EU phát triển rất khả quan. Năm 1999, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đạt gần 4.500 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu hơn 3.300 triệu USD, nhập khẩu 1.120 triệu USD. Sáu tháng đầu năm 2000, Việt Nam xuất khẩu sang EU đạt khoảng 1.400 triệu USD. Những mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang EU bao gồm hàng dệt may, giày dép, thủy sản, cà-phê, thủ công mỹ nghệ... Việt Nam nhập khẩu từ EU chủ yếu là máy móc, thiết bị công nghiệp, hóa chất, tân dược, thực phẩm chế biến... Việt Nam và EU đã dành cho nhau chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và EC cam kết dành cho hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam chế độ ưu đãi phổ cập (GSP), gia hạn và tăng hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Đặc biệt từ cuối năm 1999 đến tha nhs 10/2000, EU đã công nhận hơn 40 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào danh sách 1, tức là đạt tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh của EU, được xuất vào thị trường EU mà không bị kiểm tra thường xuyên. Đây là một lợi thế quan trọng đối với các hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và các doanh nghiệp chưa được công nhận vào danh sách 1 cần tiếp tục phấn đấu để đạt được tiêu chuẩn về chất lượng và vệ sinh mà EC quy định.

Năm 2000, xuất khẩu sang EU chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, trong khi đó, giá trị thương mại của EU với Việt Nam chỉ chiếm 0,12% tổng kim ngạch ngoại thương của họ. Do đó, việc nhập siêu đối với thị trường Việt Nam không có ảnh hưởng gì đối với quan hệ buôn bán - thương mại của EU nói chung. Tuy vậy, về lâu dài lúc nền kinh tế Việt Nam đã phát triển ổn định và có tích lũy khá, chúng ta cũng cần tranh thủ nhập khẩu những mặt hàng có hàm lượng công nghệ và kỹ thuật cao từ khu vực Tây - Bắc Âu.

Đầu năm 2007, thời gian khi Việt Nam gia nhập WTO , xuất khẩu của Việt Nam qua trị trường EU đã tăng 28% so với cùng kì năm 2006. Các nhóm hàng đứng đầu về giá trị xuất khẩu trong 7 tháng qua chủ yếu vẫn gồm các mặt hàng truyền thống là thủy hải sản (tăng hơn 26%), dệt may (tăng 16%), các sản phẩm gỗ (tăng 16%) và giày dép (tăng 10%)

Năm 2009, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – EU đạt 15,2 tỷ USD, giảm 6,67% so với năm 2008, trong đó xuất khẩu của Việt Nam vào EU đạt 9,38 tỷ USD, giảm 13,57%, nhập khẩu của Việt Nam từ EU đạt 5,83 tỷ USD, tăng 7,07% so với kim ngạch năm 2008.Theo đó, Đức, Anh, Pháp và Hà Lan luôn là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong khối EU với tốc độ tăng trưởng trung bình 20%/năm. Tuy vậy, hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đang đứng trước những “rào cản” lớn khi “bước sang” thị trường EU.

Khó khăn thứ nhất đó là thị hiếu, phong cách tiêu dùng, ngôn ngữ, văn hóa kinh doanh của mỗi nước, mỗi vùng khác nhau, trong khi đó hàng hóa vào thị trường EU lại được lưu thông trên toàn bộ 27 nước. Như vậy, việc tạo ra một sản phẩm và đưa sản phẩm vào được một nước và phải thích ứng với 26 nước còn lại là một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Bởi nếu không thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chuyển từng lô hàng nhỏ vào để thích ứng với từng vùng, miền, quốc gia hay nhóm tiêu dùng. Như vậy thì hiệu quả quy mô kinh tế sẽ không cao.

Khó khăn thứ 2 mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải hiện nay đó là thị trường EU là thị trường có nhiều quy định kỹ thuật khá khắt khe với mục đích là bảo vệ tốt nhất sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững...Và vị vậy không thể doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật này. Cụ thể, năm 2009, Luật Hóa chất Reach đã có hiệu lực, việc sử dụng bất kỳ hóa chất nào đều phải đăng ký và nghiên cứu tác động của hóa chất. Tuy doanh nghiệp Việt Nam không xuất khẩu hóa chất nhưng lại sử dụng hóa chất cho hàng hóa khác, do vậy doanh nghiệp phải mua hóa chất có nguồn gốc và phải nghiên cứu tác động nên chi phí gia tăng. Đồng thời quy định về IUU (chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không quản lý) cũng đã được áp dụng từ tháng 6/2009, yêu cầu giấy phép đánh bắt với các sản phẩm hải sản, tạo thêm thủ tục hành chính cho việc xuất khẩu.

Cùng với việc áp dụng các quy định mới trong năm 2009 vừa qua, Ủy ban Châu Âu (EC) cũng đẩy mạnh việc kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm vào nhóm hàng thủy sản, nông sản, mật ong, kiểm tra xuất sứ hàng Việt Nam, điều tra gian lận thương mại...EU hiện tại vẫn đang cố gắng duy trì chính sách bảo hộ sản xuất nội khối. Việc tăng trưởng xuất khẩu quá nhanh vào đây cũng có thể đưa đến những hậu quả không mong muốn là EU sẽ tiến hành các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá. Đây cũng là một trong những khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam bởi doanh nghiệp vừa phải tìm cách tăng cường xâm nhập thị trường và vừa phải tính ở mức độ thế nào để không phải là đối tượng của các biện pháp bảo hộ.

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế năm 2008 – 2009, chủ nghĩa bảo hộ càng gia tăng tại EU. Hiện tại, một số sản phẩm của Việt Nam như giày mũ da, xe đạp, chốt cài inox vẫn bị áp thuế chống bán phá giá cao trên thị trường châu Âu. Tháng 12/2009, trước sức ép bảo hộ sản xuất nội khối, EC đã công bố gia hạn thuế chống bán phá giá giày mũ da của Việt Nam với mức thuế 10% trong vòng 15 tháng kể từ tháng 1/2010. Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam. Năm 2009 xuất khẩu cà phê của Việt Nam vào EU giảm 18%.EU là thị trường xuất khẩu mục tiêu không chỉ của Việt Nam mà còn của nhiều nước khác.

Năm 2009, trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, khi nhu cầu tiêu thụ giảm, nhưng nhiều nước lại chọn giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu để vượt qua khủng hoảng khiến cạnh tranh tại EU ngày càng gay gắt, nhất là cạnh tranh với các doanh nghiệp trong khối EU mà mạnh mẽ nhất là doanh nghiệp các nước Đông Âu mới gia nhập EU. Những nước Đông Âu này có một số ngành hàng khá tương đồng với nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam trong khi lại được hưởng cơ chế ưu đãi thương mại nội khối. Như vậy để thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại với EU (trước hết là với các nước thành viên quan trọng như Đức, Pháp, Anh, Italy), doanh nghiệp Việt Nam cần phải năng động hơn, đa dạng mặt hàng, nâng cao chất lượng, tìm hiểu luật lệ của EC, nắm bắt cơ hội và phối hợp tốt giữa các doanh nghiệp trong quan hệ buôn bán với EU.

1.4 Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.


1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương