Tiểu luậN: ngoại thưƠng việt nam từ NĂM 000 ĐẾn nay nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm Giảng viên hướng dẫn



tải về 379.24 Kb.
trang3/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích379.24 Kb.
#4385
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Công nghiệp: phát triển xuất khẩu những ngành công nghiệp chế biến thâm dụng lao động, đòi hỏi trình độ công nghệ trung bình; tạo sự đột phá trong công nghiệp chế biến những sản phẩm nông nghiệp đang có lợi thế; tăng cường liên kết công nghiêp, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ. Chú trọng đầu tư và phát triển công nghiệp theo chiều sâu, đảm bảo nguồn cung cấp nguyên, nhiên vật liệu đầu vào và dịch vụ hạ tầng hợp lý. Tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, giảm chi phí trung gian.

  • Nông nghiệp: giảm dần tỷ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế, nhưng vẫn chú trọng đầu tư nhưng ngành có thế mạnh, có khả năng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu ngành trước hết ưu tiên cho mục tiêu an ninh lương thực quốc gia, tăng nguồn nông sản cho chế biến xuất khẩu, đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với điều kiện sinh thái vùng và nhu cầu thị trường, xây dựng cơ cấu sản xuất hợp lý, tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ trong nông nghiệp, chuyển giao giống mới, cải tiến kỹ thuật canh tác, tiếp tục phát triển và hoàn thiện hệ thống thủy lợi ngăn mặn, giữ ngọt, kiểm soát lũ, bảo đảm tưới, tiêu an toàn, chủ động trong sản xuất và đời sống. nâng cao khả năng dự báo thiên tai, chủ động phòng chống, hạn chế thiệt hại, nâng cao chất lượng cây trồng, cung cấp đủ nguyên liệu cho các ngành chế biến trong nước và xuất khẩu.

  • Dịch vụ: công nghệ thông tin và phần mềm: khuyến khích các tổ chức kinh tế - xã hội tin học hóa hoạt động của mình nhằm thúc đẩy phát triển thị trường phần mềm.

  • Du lịch: khai thác lợi thế cảnh quan, truyền thống văn hóa, lịch sử, liên kết với các nước trong khu vực, vận tải (đường biển, hàng không): nâng cấp các bến cảng, sân bay có khả năng khai thác cao.

  • Xây dựng: phát triển các tổ chức nghiên cứu, tư vấn, thiết kế xây dựng, các trang thiết bị công nghệ trong xây lắp. thực hiện chính sách hiện đại hóa công nghệ phù hợp với trình độ phát triển, tận dụng tối đa lao động thủ công trong nước. khuyến khích xuất khẩu lao động kỹ thuật, tham gia đấu thầu và nhận công trình ở nước ngoài.





    1. Chính sách chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu

    Theo định hướng đã đề ra ở trên, ta cần chủ động gia tăng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao, chú trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và tri thức cao, giảm dần tỷ trọng các mặt hàng thô, chú trọng gia tăng hoạt động dịch vụ xuất khẩu.

    Nhóm hàng nguyên liệu: Với 2 mặt hàng chính là dầu thô và than đá, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu cả nước, dự kiến sẽ giảm đến 3,5% trong năm 2010. Lý do là trong năm 2009, dự án lọc dầu Dung Quất đã được đưa vào hoạt động, dầu thô được đưa vào phục vụ nhu cầu trong nước nhiều hơn. Bên cạnh đó, xuất khẩu than đá tuy làm tăng kim ngạch xuất khẩu nhưng lại có tác động tiêu cực tới môi trường sinh thái. Các khoáng sản khác chủ yếu phục vụ cho các ngành kinh tế trong nước, khả năng xuất khẩu hầu như không có.

    Nhóm hàng chế biến: được dự báo tăng tỷ trọng từ 40% năm 2002 lên 70% năm 2020, tăng hàm lượng xuất khẩu hàng chế biến sâu như dệt may, giày dép, sản phẩm điện tử, cơ khí, hóa chất, xăng dầu, hóa chất, vật liệu xây dựng, thực phẩm, dược phẩm..

    Nhóm dịch vụ: phát triển các dịch vụ thu ngoại tệ gồm: dịch vụ phần mềm máy tính, du lịch và các loại dịch vụ khác như kho vận, bảo hiểm, sửa chữa tàu thủy, phục vụ dầu khí, hàng không, tài chính, ngân hàng… dự báo tỷ trọng sẽ tăng từ 8% năm 2002 lên 20% năm 2020.



    Nhóm hàng thô, sơ chế: dự báo sẽ giảm tỷ trọng từ 62% năm 2002 xuống còn 10% năm 2020.















        1. Chính sách và phương hướng phát triển thị trường xuất khẩu

    Tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ 9 năm 2001, chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn 2020 nhấn mạnh: “Chủ động và tích cực thâm nhập thị trường quốc tế, chú trọng thị trường các trung tâm kinh tế thế giới, duy trì và mở rộng thị phần trên các thị trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội mở thị trường mới”.

    1. Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

    Đây là một thị trường rộng lớn, nhu cầu đa dạng, phong phú, chiếm 30% tổng kim ngạch buôn bán của thế giới, là thị trường quen thuộc của Việt Nam. Trong định hướng phát triển trong những năm tới, thị trường này vẫn tiếp tục là thị trường trọng điểm của ta vì vị trí địa lý gần, dung lượng lớn và phát triển tương đối năng động. trọng tâm của công tác thị trường là các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc.

    Các nước ASEAN: là một thị trường khá lớn với hơn 500 triệu dân. Để tiến tới cân bằng thương mại với ASEAN, ta cần thực hiện một số phương hướng sau:

    • Tăng cường xuất khẩu hàng qua chế biến và chế biến sâu, giảm mạnh tỷ trọng hàng gia công và tái xuất.

    • Khai thác lợi thế về địa lý và chế độ ưu đãi thuế quan để tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.

    • Tăng cường mậu dịch đối lưu, tổ chức đấu thầu hàng đổi hàng.

    • Đẩy mạnh xuất khẩu hàng qua biên giới Lào và Campuchia, đồng thời coi như thị trường trung gian đưa hàng Việt Nam sang các thị trường khác trong khu vực.

    • Nghiên cứu việc thanh toán bằng bản tệ trong quan hệ thương mại song phương với các nước ASEAN.

    • Khuyến khích các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu vào khu vực này.

    • Đối với những nhóm hàng trùng lặp cần có những đàm phán, thỏa thuận tránh những tranh chấp không đáng có trong trao đổi thương mại.

    Trung Quốc: để thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa hai nước, cần thực hiện theo các phương hướng sau:

    • Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc bằng chính ngạch, tiểu ngạch, mậu dịch, phi mậu dịch… với thủ tục đơn giản tối đa.

    • Phát triển mạnh buôn bán chính ngạch với Trung Quốc.

    • Cho phép vận dụng nhiều phương thức thanh toán: bằng ngoại tệ mạnh, Nhân dân tệ, Việt Nam đồng, đổi hàng qua ngân hàng hay không qua ngân hàng. Yêu cầu là xuất được hàng và hạn chế rủi ro trong thanh toán.

    • Xây dựng và thống nhất với phía Trung Quốc danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai nước.

    • Nghiên cứu cơ chế thưởng cho các doanh nghiệp xuất khẩu sang Trung Quốc đạt kim ngạch lớn hoặc xuất khẩu những mặt hàng được khuyến khích.

    Nhật Bản:

    • Tận dụng mức thuế quan ưu đãi của quy chế Tối huệ quốc MFN để xuất khẩu những mặt hàng chủ yếu.

    • Hợp tác với tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) cung cấp thông tin về thị trường cho doanh nghiệp 2 nước.

    • Xúc tiến ký Hiệp định thương mại song phương với Nhật Bản để hạ thấp một số hàng rào phi thuế quan như các tiêu chuẩn về chất lượng, vệ sinh sản phẩm đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam.

    • Hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, bám sát các khách hàng cũ, phát triển khách hàng mới.

    • Tăng cường tìm hiểu các thông tin liên quan đến phương thức phân phối, thủ tục xin dấu chứng nhận chất lượng JIS, JAS, và Ecomark cũng như chế độ xác nhận trước về thực phẩm nhập khẩu của Nhật.


    Hàn Quốc:

    • Kiên trì thuyết phục để có những nhân nhượng có ý nghĩa về mở cửa thị trường.

    • Chú trọng tới mối quan hệ ngày càng được cải thiện giữa Nam-Bắc Triều Tiên, tăng khả năng buôn bán với Bắc Triều Tiên.

    • Duy trì và đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng quen thuộc như dệt may, giày dép, cà phê… chú trọng những mặt hàng mới theo sự thay đổi của nhu cầu thị trường.

    • Hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, bám sát các khách hàng cũ, phát triển khách hàng mới.

    Đài Loan: lợi dụng xu thế di chuyển sản xuất từ Đài Loan ra nước ngoài để nâng cao năng lực sản xuất trong các ngành da giày, may mặc, cơ khí, chế biến gỗ…

    1. Khu vực Châu Âu:

    Chiến lược thâm nhập thị trường và mở rộng thị phần được xác định trên cơ sở chia châu Âu thành 2 khu vực: Tây Âu (chủ yếu là EU) và Đông Âu. Phấn đấu xuất khẩu vào khu vực này tăng trung bình 18,9%/năm, đến năm 2010 đạt khoảng 15,9 tỷ USD và tỷ trọng giữ ở mức khoảng 22%.

    • Thị trường EU:

    Để thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại với EU, doanh nghiệp của ta cần phải năng động hơn, đa dạng hóa mặt hàng, tăng chất lượng, tìm hiểu luật lệ của EU, nắm bắt cơ hội và phối hợp tốt với nhau trong quan hệ buôn bán với EU. Xây dựng các luồng tiêu thụ hàng qua các kênh như siêu thị lớn, công ty chuyên doanh, công ty nhập khẩu… thu thập, cập nhật thông tin về thị trường và bạn hàng. Chủ động tham gia các hội chợ, triển lãm, tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ quan xúc tiến thương mại của ta ở thị trường này để mở rộng hơn nữa thị phần hàng hóa Việt Nam.

    • Đông Âu và SNG:

    Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường này. Quỹ Hỗ trợ Tín dụng xuất khẩu cần sớm thực hiện bảo lãnh tín dụng, xây dựng một số trung tâm tiêu thụ hàng hóa, tận dụng cộng đồng người Việt để đưa hàng vào Nga và Đông Âu.

    1. Khu vực Bắc Mỹ:

    Trọng tâm tại khu vực này là thị trường Hoa Kỳ. phấn đấu đạt tỷ trọng khoảng 15-20% vào năm 2010 và 23-25% năm 2020. Để đạt chỉ tiêu trên ta cần chú ý Mỹ là một thị trường lớn có sức mua cao, nhu cầu nhập khẩu hàng năm lên tới 1200 tỷUSD, nhu cầu đa dạng và tương đối dễ tính, do Mỹ là một thị trường đa chủng tộc, mức sống rất khác nhau, đòi hỏi về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa rất cao, hệ thống pháp luật vô cùng phức tạp, khắt khe đối với hàng nhập khẩu.

    1. Khu vực Châu Đại Dương:

    Trọng tâm là Australia và New Zealand, là thị trường có tiềm năng không nhỏ nhưng mức phát triển còn thấp. do đó cần kiên trì tìm kiếm, tạo lập và củng cố quan hệ bạn hàng. Phấn đấu duy trì mức tăng trưởng 15,7%/năm, đến năm 2010 đạt kim ngạch khoảng 5,6 tỷ USD chiếm tỷ trọng khoảng 7,7%.

    1. Khu vực Châu Phi, Nam Á, Trung cận đông và Mỹ Latinh:

    Trọng điểm của các khu vực này là Nam Phi, Ấn Độ, các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), Irag, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Argentina và Brazil. Thị phần của ta trên các thị trường này hiện còn khá thấp nhưng có tiềm năng phát triển trong tương lai.

































        1. Chính sách và biện pháp hỗ trợ xuất khẩu

    Trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu trở thành phương hướng chủ yếu của chính sách ngoại thương.

    1. Các biện pháp để tạo nguồn hàng và cải biến cơ cấu xuất khẩu

    Xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực: có ý nghĩa lớn trong việc mở rộng quy mô sản xuất trong nước, kéo theo sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, mở rộng và làm phong phú thị trường nội địa, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, góp phần tăng ngân sách nhà nước, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tạo điều kiện giữ vững, ổn định thị trường xuất khẩu và nhập khẩu, và tạo cơ sở vật chất mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật quốc tế.

    Gia công xuất khẩu là một hoạt động giúp chúng ta có điều kiện giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân, góp phần tăng thu nhập quốc dân, đặc biệt là nguồn thu ngoại tệ, bên cạnh đó còn thúc đẩy các cơ sở sản xuất trong nước nhanh chóng thích ứng với đòi hỏi của thị trường thế giới, góp phần cải tiến các quy trình sản xuất trong nước theo kịp trình độ quốc tế, tạo điều kiện thâm nhập thị trường các nước, tránh những biện pháp hạn chế nhập khẩu do các nước đề ra, khắc phục khó khăn do thiếu nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là công nghiệp nhẹ, tranh thủ vốn và kỹ thuật nước ngoài.

    Khi thực hiện gia công ta cần chú ý tập trung vào những mặt hàng tiêu dùng truyền thống như thủ công mỹ nghệ, lắp ráp hàng công nghiệp tiêu dùng, chú trọng nhận gia công những mặt hàng đòi hỏi công nghệ cao để nâng cao trình độ quản lý và thực hiện chuyển giao công nghệ nhằm hiện đại hóa nền kinh tế; tăng hàm lượng nội địa hóa, dần dần khắc phục hiện tượng làm thuê. Bên cạnh đó, ta cũng chú ý tìm đến những khách hàng có nhu cầu gia công lớn, có tính chất lâu dài và ổn định., giải quyết những khó khăn trong nước như thiết bị máy móc, chất lượng gia công…

    Các biện pháp đầu tư liên quan đến tổ chức nguồn hàng, cải biến cơ cấu xuất khẩu giúp làm tăng năng lực sản xuất hàng xuất khẩu, nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, góp phần chuyển giao, tiếp nhận công nghệ mới, tăng năng lực cạnh tranh cho xuất khẩu. Hơn nữa, đầu tư là cơ sở để mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại và giải quyết một số vấn đề xã hội tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu.

    Để khuyến khích bỏ vốn đầu tư ra làm hàng xuất khẩu, nhà nước cần có chính sách ưu tiên cho lĩnh vực này như: cho phép vay vốn với lãi suất ưu đãi, thuế, các chính sách hỗ trợ có điều kiện… Ưu tiên đầu tư những ngành chủ lực, các dự án nâng cao cấp độ chế biến, tăng khả năng cạnh tranh; chú trọng đầu tư nhằm cải biến cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đổi mới giống cây trồng, công nghệ, nâng cao chất lượng và phù hợp với nhu cầu thị trường. Tạo môi trường thuận lợi thu hút mạnh vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho xuất khẩu.



    Xây dựng các khu kinh tế mở như các khu bảo thuế, cảng tự do, khu vực mậu dịch tự do, khu chế xuất, khu công nghiệp, đặc khu kinh tế, thành phố mở, tam giác phát triển hoặc Nhị-Tứ phát triển để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng xuất khẩu, mở rộng hợp tác quốc tế.

    1. Các biện pháp, chính sách tài chính nhằm khuyến khích sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu

    Tín dụng xuất khẩu có nhiều hình thức, do Nhà nước hoặc Ngân hàng cho doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi nhằm khuyến khích xuất khẩu.

    Trợ cấp xuất khẩu là những ưu đãi mà Chính phủ một nước dành cho các doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, bao gồm trực tiếp cấp vốn, cho vay, góp cổ phần, bảo đảm tín dụng...

    Chính sách tỷ giá hối đoái


    • Duy trì tỷ giá hối đoái chính thức được thị trường chấp nhận.

    • Giảm tỷ lệ lạm phát trong nước xuống đủ nhiều và đủ lâu để phục hồi tỷ giá chính thức sát với tỷ giá thực tế trên thị trường.

    • Một khi lạm phát trong nước thường xuyên xảy ra thì cần phá giá đồng nội tệ so với ngoại tệ để khôi phục lợi nhuận cho nhà xuất khẩu.

    Thuế xuất khẩu và các ưu đãi về thuế

    Thuế xuất khẩu rất ít được sử dụng một cách rộng rãi, đặc biệt là tại các nước công nghiệp phát triển. ở Việt Nam, thuế xuất khẩu được áp dụng với rất ít mặt hàng, nhằm nâng cao trình độ chế biến nguyên liệu thô trong nước.

    Ngoài ra, Việt Nam cũng có những chính sách ưu tiên về thuế đối với các đầu vào nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu. Hầu hết các nguyên liệu và bán thành phẩm phục vụ cho xuất khẩu đều không bị đánh thuế hoặc đánh thuế rất thấp.






    1. Các biện pháp về thể chế và xúc tiến xuất khẩu

    Các biện pháp về thể chế là các biện pháp mà qua đó Chính phủ tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.

    • Thể chế hóa tất cả cá chính sách, biện pháp khuyến khích hỗ trợ xuất khẩu.

    • Đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại song phương và đa phương... trên cơ sở đó bảo vệ lợi ích cho người xuất khẩu tạo thuận lợi cho xuất khẩu.

    • Gia nhập và ký kết các Hiệp ước quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy tự do buôn bán.

    Xúc tiến xuất khẩu có vai trò quan trọng trong việc cải thiện khả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp, đảm bảo thực hiện mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của đất nước. Các hoạt động này bao gồm việc tham gia vào các hội chợ thương mại, cử các phái đoàn thương mại ra nước ngoài, tiến hành quảng cáo... hay thiết lập chiến lược phát triển nhấn mạnh đến mở rộng xuất khẩu thông qua các chính sách hỗ trợ nhằm khai thác lợi thế so sánh của đất nước.

    CHƯƠNG III

    NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

    GIAI ĐOẠN 2000 – 2010

                1. Kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển xuất khẩu:

      1. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất khẩu.



    NĂM

    XUẤT KHẨU(TRIỆU USD)



    CHỈ SỐ TĂNG TRƯỞNG(%)

    2000

    14482,7





    2001

    15029,2

    103,8


    2002

    16706,1


    111,2


    2003

    20149,3

    120,6


    2004

    26485,0

    131,4


    2005

    32447,1

    122,5


    2006

    39826,2

    122,7


    2007

    48561,4


    121,9


    2008

    62685,1

    129,1

    Trong 10 năm kể từ năm 1997, xuất khẩu của Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc. Nếu từ năm 1997 đến 2003, phải mất đến 6 năm thì kim ngạch xuất khẩu mới tăng gấp đôi thì chỉ cần 3 năm từ 2003 đến 2006, kim ngạch xuất khẩu của chúng ta lại tăng gấp đôi từ 20 tỷ USD lên 40 tỷ USD. Đặc biệt, năm 2006 được xem là cột mốc đánh dấu bước phát triển mới của Việt Nam về kinh tế, chính trị. Đây là năm đầu tiên chúng ta có 9 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD.

    9 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD:

    Đơn vị tính : triệu USD

    Mặt hàng

    2000

    2001

    2002

    2003

    2004

    2005

    2006

    8T/2007

    Dầu thô










    3.700

    5.700

    6.900

    8.320

    5.100

    Dệt may

    1.892

    1.975

    2.752

    3.689

    4.386

    4.806

    5.800

    5.000

    Giày dép

    1.472

    1.578

    1.875

    2.281

    2.692

    3.005

    3.550

    2.720

    Thủy sản

    1.479

    1.816

    2.036

    2.200

    2.397

    2.771

    3.300

    2.360

    Gạo

    610

    545

    608

    693

    859

    1.330

    1.310

    1.100

    Điện tử

    789

    709

    605

    855

    1.075

    1.442

    1.770

    1.300

    Đồ gỗ

    294

    324

    431

    567

    1.139

    1.517

    1.920

    1.500

    Cao su










    280

    579

    610

    1.300

    799

    Cà phê

    538

    382

    263

    429

    576

    736

    1.100

    1.400


    tải về 379.24 Kb.

    Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  • 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




    Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
    được sử dụng cho việc quản lý

        Quê hương