Tiểu luậN: ngoại thưƠng việt nam từ NĂM 000 ĐẾn nay nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm Giảng viên hướng dẫn



tải về 379.24 Kb.
trang2/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích379.24 Kb.
#4385
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Hàng nhập khẩu

Nhập khẩu năm 2006 đã phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Đặc biệt, mặc dù cung-cầu và giá cả của một số mặt hàng chiến lược có biến động mạnh trên thị trường thế giới nhưng nhập khẩu vẫn đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu trong nước và không xảy ra các cơn sốt giá trên thị trường trong nước (có lúc xăng dầu cực kỳ khan hiếm nguồn cung trên thị trường thế giới, tương tự giá phân bón cũng đã có lúc tăng mạnh trên thị trường thế giới).

Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân của ba nhóm hàng: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; nguyên, nhiên vật liệu; hàng tiêu dùng trong giai đoạn 2001-2006 lần lượt là 17,4%; 25,9% và 19,3%. Sau 5 năm 2001-2006, cơ cấu nhập khẩu đã có thay đổi theo hướng tăng dần tỉ trọng nhóm hàng nguyên, nhiên vật liệu, giảm tỉ trọng hai nhóm hàng máy móc, thiết bị và hàng tiêu dùng.

Tình trạng nhập siêu:

Nhập siêu xảy ra liên tục trong cả giai đoạn 2001-2006. Ngoại trừ năm 2005 có giá trị nhập siêu giảm nhẹ, các năm còn lại giá trị nhập siêu tăng liên tục.

Nhập khẩu năm 2006 tăng ở tất cả các thị trường. Quy mô và tốc độ tăng của từng khu vực thị trường so với năm 2005 như sau:


Châu lục

T.hiện năm 2005

Ước năm 2006

Tốc độ tăng/ giảm (%)

Kim ngạch (tr.USD)

Tỷ trọng (%)

Kim ngạch (tr.USD)

Tỷ trọng (%)

Châu Á

29.844

81

35.843

80,7

42,6

Châu Mỹ

1.569

4,3

1.885

4,2

20,6

Châu Âu

4.528

12,3

5.438

12,2

26,4

Châu Đại Dương

648

1,8

778

1,8

31,9

Châu Phi

268

0,7

322

0,7

77,7

Tổng cộng

36.978




44.410







- Châu Á: là thị trường có kim ngạch nhập khẩu cao nhất, đạt trên 35,84 tỷ USD, tăng 42,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 80,7% KNNK của các thị trường. Trong đó, khu vực Đông Nam Á đạt kim ngạch 10,85 tỷ USD, tăng 39,7% so với cùng kỳ năm 2005.

- Châu Âu: là thị trường có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ hai với gần 5,44 tỷ USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 12,2% KNNK của các thị trường. Trong đó, các nước EU (25) đạt kim ngạch 3,72 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.

- Châu Mỹ: Là thị trường có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 3, đạt gần 1,9 tỷ USD, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 4,2% KNNK của các thị trường.

- Châu Đại Dương: đạt kim ngạch 778 triệu USD, tăng 31,9% so với cùng kỳ năm trước, chỉ chiếm 1,8% KNNK của các thị trường.

- Châu Phi - Tây nam Á: tuy là thị trường có KNNK thấp nhất trong các thị trường nhập khẩu của Việt Nam, đạt 322 triệu USD, chỉ chiếm 0,7% KNNK của các thị trường nhưng lại là thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tăng 77,7% so với cùng kỳ năm trước


    1. Cơ cấu ngoại thương Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO 2007 đến nay

Gia nhập WTO là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Đây là thời cơ lớn cho nước ta trong hoạt động ngoại thương, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá đã có bước phát triển mạnh mẽ. Bởi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của hoạt động ngoại thương ở các nước nói chung và Việt Nam nói riêng.

Xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO

Sau 2 năm gia nhập WTO, hoạt động ngoại thương nói chung, đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam nói riêng có nhiều thuận lợi để phát triển. Các nhà xuất khẩu Việt Nam có điều kiện tiếp cận thị trường thế giới dễ dàng hơn, những hạn chế và rào cản thuế đối với hàng hoá Việt Nam được cắt giảm. Chúng ta có thị trường xuất khẩu rộng lớn đã và sẽ được cắt giảm cùng các biện pháp phi quan thuế cũng sẽ được loại bỏ theo Nghị định thư gia nhập của các thành viên này mà không bị phân biệt đối xử; tăng cơ hội thâm nhập thị trường nước ngoài cho các sản phẩm của nước ta.



Về xuất khẩu hàng hoá:

Hiện nay các mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu hàng đầu của Việt nam vẫn là các mặt hàng sử dụng tài nguyên thiên nhiên và công nghiệp nhẹ, sử dụng lao động rẻ.

Năm 2007, xuất khẩu đạt mức cao nhất từ trước đến nay và tăng trưởng với tốc độ cao. Kim ngạch xuất khẩu đạt 47,7 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2006 (7,9 tỷ USD) và vượt 15,5% so với kế hoạch. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước chiếm 42% và tăng 22,3%; khu vực FDI chiếm 58% và tăng 18,4%. Có 10 mặt hàng đạt trên 1 tỷ USD.

Thắng lợi tương đối toàn diện của ngoại thương năm 2006 và việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tạo ra thế và lực mới cho nước ta khi bước vào năm 2007. Tuy nhiên, do nhiều khó khăn tác động nên trong 6 tháng đầu năm 2007, xuất khẩu chỉ đạt 3,74 tỉ USD/tháng. Đến 6 tháng cuối năm, đặc biệt trong hai tháng cuối cùng, do có nhiều cố gắng vượt bậc nên xuất khẩu cả năm đã đạt kết quả như mong muốn.

Năm 2007, có 10 mặt hàng xuất khẩu đạt từ 1 tỉ USD trở lên và đã có sự phân hoá rõ rệt: 4 mặt hàng bứt phá mạnh hơn đạt trên 3 tỉ USD, 2 mặt hàng đạt trên 2 tỉ USD. Việc bãi bỏ hạn ngạch xuất khẩu dệt may vào Hoa Kỳ đầu năm 2007 và các biện pháp điều hành chủ động của nước ta phù hợp với bối cảnh bị Hoa Kỳ áp đặt Chương trình giám sát hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam, đã làm cho các doanh nghiệp trong nước yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất, doanh nghiệp nước ngoài tin tưởng ký hợp đồng, nhờ vậy xuất khẩu dệt may vẫn tăng đều, trong đó riêng vào thị trường Hoa Kỳ tăng 27%. Đây là năm thứ hai liên tiếp, hàng dệt may đứng thứ nhì sau dầu thô, thậm chí đã có lúc “bỏ qua” dầu thô, đứng đầu các mặt hàng xuất khẩu. Cũng nhờ giải quyết được những khó khăn về nguyên liệu, xuất khẩu sản phẩm gỗ vào các thị trường chính như Hoa Kỳ, EU, Nhật đều tăng từ 12 đến 28% so với cùng kỳ năm 2006, đứng thứ 5 trong danh sách các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Đồ gỗ đã có mặt tại các thị trường của 120 nền kinh tế, vượt Thái Lan và In-đô-nê-xia để cùng với Ma-lai-xia đứng đầu về xuất khẩu mặt hàng này ở Đông Nam Á. Xuất khẩu than đá vào các thị trường chính tăng 22%, nổi bật là Trung Quốc (chiếm 80% lượng than xuất khẩu), đây là mặt hàng đầu tiên về đích kế hoạch năm ngay từ 6 tháng đầu năm.

Do mất cân đối gay gắt cung - cầu về gạo trên thị trường thế giới, trong khi chất lượng gạo của ta được cải thiện nhờ tiến bộ trong gieo trồng, bảo quản và xay sát, nên chỉ 11 tháng đầu năm đã đạt mục tiêu xuất khẩu năm. Lần đầu tiên gạo xuất khẩu của Việt Nam vươn lên ngang giá với gạo Thái Lan, thậm chí có chủng loại còn trúng thầu với giá cao hơn. Gạo Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, kể cả EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản - là những thị trường có yêu cầu khắt khe.

Cà phê xuất khẩu cũng gặp thuận lợi về thị trường, giá tăng từ 800 đến 1000 USD/tấn, nên đây là năm đầu tiên kim ngạch cà phê vượt gạo. Dù ảnh hưởng của bão lụt khiến đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại, song trên toàn cục, bức tranh xuất khẩu thuỷ sản vẫn sáng sủa, vì đã tạo được chỗ đứng trên thị trường của EU, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông... , có giá cao và năng lực chế biến tăng. Xuất khẩu hạt điều tiếp tục khẳng định ngôi vị cao nhất, có mặt trên 40 thị trường, trong đó lượng cung vào Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản và Trung Đông đều tăng, riêng thị trường Hoa Kỳ tăng tới 33%, giá cũng tăng hơn khoảng 190 USD/tấn. Từ chỗ chúng ta chỉ chế biến từ hạt điều thô thu gom nội địa, nay phải nhập khẩu thêm hạt điều thô để chế xuất cho đủ công suất các dây chuyền chế biến và còn xuất khẩu cả công nghệ chế biến hạt điều, nên càng làm cho hình ảnh mặt hàng này thêm ấn tượng. Thêm nữa, 100 nghìn tấn hạt tiêu xuất khẩu (chiếm hơn 50% thị phần toàn cầu) đã duy trì vị trí số 1 của Việt Nam về xuất khẩu mặt hàng này.

Năm 2007 là năm đầu tiên khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước có mức tăng trưởng hiếm thấy, tăng 23,1%, vì trước đây, mức tăng trưởng của khối này thường thấp hơn mức tăng trưởng chung và khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy vậy các doanh nghiệp có vốn FDI vẫn chiếm tỷ trọng 58,6% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Nhóm các địa phương là các trung tâm kinh tế lớn vẫn tiếp tục dẫn đầu. Bình Dương vượt qua 5 tỉ USD, tăng 27,5% so với năm 2006. Hà Nội vượt 4 tỉ USD. Hải Phòng trong 11 tháng đã đạt 1 tỉ USD. Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vị trí hàng đầu, với tổng kim ngạch (không kể dầu thô) trên 6 tỉ USD. Cũng có địa phương chưa đạt mục tiêu, song do kim ngạch nhỏ nên không làm ảnh hưởng đến mức tăng trưởng cao của cả nước.

Chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có trị giá lớn, công nghệ cao đang được triển khai với tín hiệu tốt. Lần đầu tiên chúng ta xuất khẩu được thiết bị lò hơi cho Tập đoàn TKZ của Nga để bạn lắp ráp Nhà máy Điện tại Ấn Độ. Công ty dịch vụ cơ khí hàng hải cũng hạ thủy tại cảng Vũng Tầu dàn khoan khai thác dầu khí xuất khẩu sang Ma-lai-xia...

Nhiều hoạt động xúc tiến thương mại được tổ chức: Hàng trăm hội trợ triển lãm với quy mô khác nhau đã diễn ra ở trong và ngoài nước, trong đó có các hội chợ có tiếng về đồ gỗ ở Hoa Kỳ, thủy sản ở châu Âu và hội chợ Trung Quốc - SEAN (CAEXPO) lần thứ 4 tại Nam Ninh, Trung Quốc; nhiều lượt đoàn cán bộ đi khảo sát các thị trường trọng điểm, tiềm năng, thị trường xa, láng giềng, tiếp tục khôi phục thị trường truyền thống Nga, Đông Âu; nhiều doanh nghiệp tháp tùng các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong những chuyến thăm nước ngoài hoặc tham gia hoạt động trong những “Ngày Việt Nam ở nước ngoài” tổ chức tại Pháp, Hàn Quốc, Ấn Độ…đã ký kết được nhiều hợp đồng, bản ghi nhớ trị giá hàng tỉ USD. Các hoạt động đó góp phần quảng bá tiềm năng kinh tế - thương mại Việt Nam; gương mặt mới về xuất khẩu của Việt Nam, nhất là thương hiệu quốc gia; giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực tiếp cận thị trường, nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, trên cơ sở đó tổ chức sản xuất, kinh doanh; giúp các nhà quản lý học tập kinh nghiệm, mở rộng tầm nhìn.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong xuất khẩu vẫn còn bộc lộ một số tồn tại: Hàng da giày, do còn nhiều bất cập từ tổ chức sản xuất đến phương thức xuất khẩu, nhất là khi bị áp mức thuế 10% trong vụ kiện Chống bán phá giá giầy mũ da vào thị trường EU; nhiều doanh nghiệp chưa thực sự linh hoạt trong việc chuyển dịch cơ cấu sản phẩm và thị trường, nên mặt hàng này đạt mục tiêu khá chật vật. Vẫn còn một tỷ lệ khá lớn các mặt hàng xuất khẩu dưới dạng thô, qua trung gian, tỷ lệ gia công cao, đơn hàng trị giá thấp, khiến phần lớn giá trị gia tăng đều rơi vào tay công ty nước ngoài. Hàng thủ công mỹ nghệ sau chuỗi tăng trưởng cao, đến năm nay tình trạng thiếu gay gắt về nguyên liệu đã bắt đầu bộc lộ, từ chỗ 90% dùng nguyên liệu trong nước, nay tỷ lệ nhập khẩu tới 60%. Mẫu mã tự sáng tác còn nghèo nàn, nên phải dùng gần 90% số mẫu do nước ngoài đặt hàng, vì thế chưa tạo được nét bản sắc của Việt Nam trong mỗi sản phẩm. Xe đạp và phụ tùng xe đạp là mặt hàng duy nhất có kim ngạch xuất khẩu bị tụt dốc.

Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng vào các thị trường không đều, trong khi vào thị trường ASEAN, EU, Hoa Kỳ tăng khá cao thì một số thị trường quan trọng khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Ốt-xtrây-lia, Nga … chưa được như kỳ vọng. Thị trường châu Phi – Tây Nam Á, có triển vọng tốt, song kim ngạch vẫn nhỏ chưa thể làm thay đổi cơ cấu thị trường.

Năm 2008, giá trị xuất khẩu hàng hoá ước đạt 65 tỷ USD, tương đương 73% GDP, tăng 33,9% so với năm 2007. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của năm 2008 đạt mức cao gấp nhiều lần so với những năm trước đó. Khu vực doanh nghiệp FDI đạt kim ngạch xuất khẩu 37,3 tỷ USD (kể cả dầu khí), chiếm tỷ trọng 57,4% tổng kim ngạch cả nước và tăng 34,6% so với năm 2007. Doanh nghiệp vốn trong nước chỉ đạt 27,7 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 42,6% tổng kim ngạch cả nước và tăng 36,5% so với năm 2007.

Năm 2007 – 2008, tốc độ xuất khẩu tăng nhanh hơn 2 lần so với tốc độ tăng GDP; tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu cao gấp 1,6 lần so với tổng giá trị GDP. Gia nhập WTO, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Việt Nam duy trì và mở rộng cả thị trường truyền thống và thị trường xuất nhập khẩu lớn của thế giới như Mỹ, EU và Nhật Bản, đến năm 2008 Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 230 nước trên thế giới, trong đó hàng hoá của ta xuất sang 219 nước.

Trong 3 tháng đầu năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng. Một số mặt hàng tăng khá, mặt hàng gạo đạt 1.743 nghìn tấn, tăng 71,3%; Hạt tiêu: 25 nghìn tấn, tăng 64,5%. Chè tăng 10,2% về lượng và đạt 29 triệu ha, tăng 10,5% về kim ngạch. Rau quả đạt 91 triệu USD, tăng 2,6%…





Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và giày dép theo từng  tháng giai đoạn 2007 - 2009

Về nhập khẩu hàng hoá:

Đến nay Việt nam nhập khẩu từ 151 nước trên thế giới. Năm 2007, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là 60,8 tỷ USD, tăng 35,5% so với năm 2006, đứng thứ 41 trên thế giới. Năm 2007 nhập siêu lên trên 13,1 tỷ USD, bằng 27,5% kim ngạh xuất khẩu. Có 3 mặt hàng nhập siêu lớn hơn 2 lần so với năm 2006 là ôtô nguyên chiếc, xe máy nguyên chiếc và dầu mỡ động thực vật, không có mặt hàng nào giảm so với năm 2006 về kim ngạch.

Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 của Việt nam đạt 84 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2007. Trong đó kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 28,5 tỷ USD, chiếm 33,9% tổng kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 55,5 tỷ USD, chiếm 66,1% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước và tăng 35,5% so với năm 2007.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu vẫn là máy móc, thiết bị, phụ tùng, xăng dầu, thép… Thị trường nhập khẩu năm 2008 tập trung chủ yếu vào Châu Á, trong đó nổi bật là các thị trường Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan…

Nhập khẩu quý I/ 2009 giảm mạnh, nhập khẩu tháng 1 đạt 3.344 triệu USD (giảm 55% so với cùng kỳ năm trước), tháng 2 đạt 4.188 triệu USD (giảm 31,9%), tháng 3 ước 4.300 triệu USD (giảm 45%). Một số mặt hàng giảm mạnh như: sữa và sản phẩm sữa (-20%), thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu(-51,9%), xăng dầu (-60,2%), hoá chất ( -31,3%), sản phẩm hoá chất (-28,2%),…

Thời gian qua chúng ta cũng đã thực hiện tích cực các biện pháp kiềm chế nhập khẩu như tăng thuế nhập khẩu với một số mặt hàng như ôtô và linh kiện ôtô, vàng; kiểm soát nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu; tiết giảm tiêu dùng và cắt giảm đầu tư…đã góp phần kiềm chế nhập khẩu và giảm nhập siêu một cách hiệu quả. Tuy việc nhập khẩu và tỷ lệ nhập siêu đang được kiềm chế, nhưng vẫn ở mức cao. Cụ thể mức nhập siêu năm 2007: 14,3 tỷ USD, tăng 2,8 lần năm 2006; 2008: nhập siêu 17,5 tỷ USD.

Theo Bộ Công thương, trong năm 2009, Việt Nam sẽ nhập khẩu hàng hoá trị giá 96,6 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2008, trong đó các doanh nghiệp (DN) trong nước tăng 15,1% và các DN có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,9%. Nhóm mặt hàng máy móc, thiết bị phụ tùng, nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho đầu vào sản xuất xuất khẩu sẽ tiếp tục gia tăng, chiếm tỷ trọng 76% với 74,2 tỷ USD. Nhóm mặt hàng cần kiểm soát nhập khẩu bao gồm giấy, dầu mỡ động thực vật, sản phẩm dầu gốc, gas…, chiếm tỷ trọng 16,7% với 16,3 tỷ USD. Dự kiến nhóm hàng hạn chế nhập khẩu bao gồm nguyên phụ liệu thuốc lá, ô tô và phụ tùng ô tô dưới 12 chỗ ngồi, linh kiện xe gắn máy… sẽ chiếm 7,2%, khoảng 7 tỷ USD. Châu Á vẫn là thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam, với tỷ trọng khoảng 75-85%, tiếp theo là EU và châu Mỹ. Dự kiến trong năm 2009, các biện pháp kiểm soát nhập khẩu thông qua các biện pháp thuế quan và phi thuế quan sẽ được áp dụng mạnh để giảm nhập siêu. Các mặt hàng nhập khẩu: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; xăng dầu; sắt thép; phân bón; chất dẻo nguyên liệu; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện…

CHƯƠNG II

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA



VIỆT NAM 2000 - 2010

  1. Mô hình chiến lược phát triển

  1. Vài nét về chiến lược

Chiến lược thường được hiểu là đường hướng và cách giải quyết nhiệm vụ đặt ra mang tính toàn cục, tổng thể và trong thời gian dài. Chiến lược xác định tầm nhìn của một quá trình phát triển mong muốn, thể hiện sự nhất quán về con đường và các giải pháp cơ bản để thực hiện. Chiến lược là trong thời gian dài, như vậy để thực hiện chiến lược thì trong mỗi giai đoạn cần có chiến thuật riêng. Chiến thuật là đường hướng và cách giải quyết nhiệm vụ mang tính từng mặt, từng thời điểm , từng khu vực nhằm thực hiện chiến lược đặt ra.

  1. Các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình chiến lược

Chế độ chính trị, xã hội và con đường phát triển được lựa chọn có ảnh hưởng quyết định đến nội dung của chiến lược.

Hoàn cảnh lịch sử và trình độ phát triển ở từng giai đoạn của đất nước, gắn với các yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn đó.



  1. Phân loại mô hình

            • Căn cứ vào nguồn lực: Chiến lược dựa vào nguồn lực bên trong và chiến lược dựa vào nguồn lực bên ngoài.

            • Căn cứ vào mô hình cơ cấu kinh tế: Chiến lược lựa chọn các ngành then chốt, chiến lược phát triển ngành mang lại hiệu quả nhanh nhất, chiến lược thay thế nhập khẩu, chiến lược hướng vào xuất khẩu, chiến lược phát triển toàn diện…

            • Căn cứ vào chức năng: Chiến lược tăng trưởng, chiến lược quản lý vầ chiến lược con người.

Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc UNIDO cũng đưa ra các mô hình chiến lược: Tăng trưởng nhanh, dựa vào nguồn lực trong nước, nhằm vào các nhu cầu cơ bản, tập trung vào tạo việc làm.

Nói chung, một quốc gia không thể theo đuổi một mô hình chiến lược riêng biệt nào bởi vì tùng loại hình chiến lược nêu trên chỉ đáp ứng từng mặt trong từng giai đoạn cụ thể mà không đáp ứng được mục tiêu phát triển tổng thể toàn diện. Trong thực tiễn, một chiến lược phù hợp quy luật phát triển phải là chiến lược hỗn hợp, kết hợp các loại hình trên, trên cơ sở xem xét nhiều chính sách và mô hình phát triển khác nhau, nhằm đạt tới sự phát triển đáp ứng được ba yêu cầu: phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.



  1. Chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam thời kỳ 2001-2010





    1. Đường lối kinh tế xã hội và quan điểm phát triển của Việt Nam thời kỳ này

Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định đường lối kinh tế của Việt Nam là: “ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh.”

Mục đích chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010 là đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.

Quan điểm phát triển:


  • Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

  • Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết.

  • Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn lực.

  • Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

  • Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế- xã hội với quốc phòng - an ninh.

    1. Chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010

Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và đảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA, APEC…

Nhà nước có chính sách khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Nâng cao năng lực canh tranh, phát triển mạnh những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế; giảm mạnh xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm chế biến và tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm; nâng dần tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng trí tuệ, hàm lượng công nghiệp cao. Xây dựng các quỹ hỗ trợ xuất khẩu, nhất là đối với hàng nông sản. Khuyến khích sử dụng thiết bị, hàng hóa sản xuất trong nước. Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tiến tới cân bằng xuất nhập. Thực hiện chính sách bảo hộ có lựa chọn, có thời hạn đối với sản phẩm sản xuất trong nước.

Đẩy mạnh các lĩnh vực dịch vụ thu ngoại tệ: du lịch, xuất khẩu lao động, vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính tiền tệ, dịch vụ kỹ thuật, tư vấn, thu hút kiều hối.

Chủ động tích cực thâm nhập vào thị trường quốc tế, chú trọng các thị trường trung tâm kinh tế thế giới, duy trì và mở rộng thị phần trên các thị trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội mở thị trường mới.

Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, xúc tiến thương mại, thông tin thị trường bằng nhiều phương tiện và tổ chức thích hợp, kể cả các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài. Khuyến khích các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước tham gia các hoạt động mô giới, khai thác thị trường quốc tế.

Điểm đáng chú ý trong chiến lược phát triển ngoại thương của nước ta là:



  • Coi xuất nhập khập khẩu cùng các quan hệ kinh tế đối ngoại khác không chỉ là nhân tố hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế quốc dân mà còn là động lực phát triển kinh tế của đất nước.

  • Chủ động cơ hội phát triển, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nhanh chóng hình thành một số tập đoàn kinh tế thương mại.

  • Coi trọng việc xuất khẩu có hàm lượng chế biến, sản phẩm có hàm lượng trí tuệ và công nghệ cao; chú trọng xuất khẩu dịch vụ, tạo đà cho xuất khẩu tăng tốc và đạt hiệu quả.





  1. Nguyên tắc và chính sách nhập khẩu:













    1. Một số nguyên tắc cơ bản trong chính sách nhập khẩu

  • Sử dụng vốn nhập khẩu tiết kiệm, hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao

  • Nhập khẩu thiết bị kỹ thuật tiên tiến hiện đại, phù hợp với điều kiện của Việt Nam

  • Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tăng nhanh xuất khẩu















    1. Chính sách nhập khẩu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2010, tầm nhìn 2020, chính sách nhập khẩu của nhà nước ta trong những năm tới là:

Trước mắt dành một phần ngoại tệ nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước. về lâu dài, một số nguyên liệu có thể tự lực cung cấp bằng nguồn lực trong nước như xăng dầu, phân bón, bông sợi…

Ưu tiên nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ mới phục vụ cho việc thực hiên những mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cho tăng trưởng xuất khẩu. chú ý nhập khẩu dụng cụ phụ tùng thay thế đúng chủng loại.

Tiết kiệm ngoại tệ, chỉ nhập khẩu vật tư phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và sản xuất hàng tiêu dùng để giảm thiểu nhu cầu nhập khẩu, dành một tỷ lệ ngoại tệ thích hợp để nhập khẩu tư liệu tiêu dùng thiết yếu, và bảo hộ chính đáng sản xuất nội địa.



  1. Phương hướng và chính sách phát triển xuất khẩu:









    1. Phương hướng phát triển xuất khẩu:

Để xác định phương hướng xuất khẩu, ta căn cứ vào nguồn lực trong nước (như dân số và lao động, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng…), nhu cầu của thị trường nhập khẩu (các thị trường truyền thống và các thị trường trong khu vực), và hiệu quả kinh tế (tức là lợi thế tương đối của mặt hàng xuất khẩu).

Căn cứ vào nguồn lực trong nước và bối cảnh quốc tế, trong Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2010 do Bộ Thương mại xây dựng đệ trình Chính phủ và năm 2000 có đưa ra kế hoạch đến năm 2010 tổng kim ngạch xuất khẩu dữ đạt 50 tỷ USD. Trong đó, khoáng sản đạt 1,75 tỷ, nông lâm thủy sản đạt 8,6 tỷ, hàng chế biến chính đạt 20,6 tỷ, hàng chế biến cao đạt 7 tỷ, các mặt hàng khác đạt 12,05 tỷ.

Thực tế năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã đạt 32,233 tỷ USD, vượt mức kế hoạch đặt ra là 27 tỷ (bằng 104,9% chỉ tiêu) tăng so với năm 2004 là 21,6%. Do vậy, theo dự đoán của các nhà kinh tế, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2010 sẽ đạt khoảng từ 54 đến 65 tỷ USD theo 2 phương án sau”





Năm

2006

2007

2008

2009

2010

2006-2010

PA thấp (XK tăng 12%/năm)

KN(tr.USD)

35.305

40.600

45.879

50.008

54.174

225.996

Tốc độ tăng (%)

+15

+15

+13

+9

+8.3

+12

PA cao (XK tăng 16%/năm)

KN(tr.USD)

36.273

42.802

49.65

56.601

64.3564

249.89

Tốc độ tăng (%)

+18

+18

+16

+14

+14

+16

Nguồn: Đề tài khoa học – Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Thương mại – Mã số: 2004-78-23

Để đạt được mục tiêu trên, phương hướng xuất khẩu của Việt Nam cần nhắm tới



  • Tăng nhanh và vững chắc tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.

  • Chuyển dịch mạnh cơ cấu sản xuất, xuất khẩu đảm bảo cán cân thương mại ở mức hợp lý.

  • Mở rộng, đa dạng hóa thị trường và phương thức kinh doanh. Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

  • Đa dạng, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng các mặt hàng xuất khẩu.















    1. Chính sách phát triển xuất khẩu













      1. Chính sách chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu

  1. Chính sách hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng xuất khẩu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 có đưa ra định hướng về việc phát triển các vùng: “các vùng, khu vực đều phát huy lợi thế để phát triển, tạo thêm thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu trong nước và ngoài nước”.

Vùng

Nông nghiệp

Công nghiệp, dịch vụ

Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm

Phát triển cây lương thực gắn với các vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, mở rộng nuôi trồng thủy sản.

Chú trọng phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, công nghiệp xuất khẩu, điện tử, thông tin và một số cơ sở cơ khí đóng tàu, luyện kim, phân bón.

Các dịch vụ có hàm lượng tri thức cao, đào tạo, khoa học công nghệ, thương mại, y tế, văn hóa, du lịch.



Miền Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm

Cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi công nghiệp, đại gia súc, hình thành các vùng chuyên canh tập trung gắn với công nghiệp chế biến.

Hình thành và phát huy vai trò của các trung tâm thương mại, xuất khẩu, viễn thông, du lịch, tài chính ngân hàng, khoa học, công nghệ và văn hóa của cả nước.Đẩy mạnh công nghiệp khai thác dầu khí, sản xuất điện, phân bón và hóa chất từ dầu khí.

Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Tăng nhanh sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, kết hợp với công nghiệp chế biến, đẩy mạnh trồng rừng, khai thác có hiệu quả nguồn lợi thủy sản, phát huy hợp tác với nước bạn Lào.

Hình thành các khu công nghiệp ven biển, khu công nghiệp-thương mại tổng hợp trên các cửa khẩu và hành lang các tuyến đường. Chú trọng phát triển cá ngành công nghiệp chủ đạo: lọc, hóa dầu, chế biến, chế tạo và các loại hình dịch vụ khác như du lịch, cảng biển.

Trung du và miền núi Bắc Bộ

Phát triển mạnh cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu. cây đặc sản, chăn nuôi đại gia súc gắn với chế biến.

Chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng: thủy điện, đường liên tỉnh, tập trung các khu vực chế biến nông lâm sản xuất khẩu. Phát triển du lịch sinh thái, đẩy mạnh phát triển các đô thị trung tâm, nâng cấp các cửa khẩu biên giới và phát triển kinh tế thương mại với Trung Quốc.

Tây Nguyên

Thâm canh cây công nghiệp, kết hợp trồng và bảo vệ rừng, phát triển chăn nuôi đại gia súc gắn với công nghiệp chế biến.

Chú trọng phát triển công nghiệp khai khoáng, năng lượng và chế biến. Đẩy mạnh hoạt động kinh tế thương mại, dịch vụ với 2 nước láng giềng Lào và Campuchia.

Đồng bằng sông Cửu Long

Tập trung đầu tư phát triển các vùng sản xuất lúa gạo, thủy sản, cây ăn quả với các trường, viện nghiên cứu nông nghiệp và các khu công nghiệp chế biến.

Đẩy mạnh công nghiệp cơ khí, chế biến nông nghiệp, kết hợp với thương mại dịch vụ, chú trọng phát triển du lịch sinh thái. Phát triển hợp tác kinh tế với Campuchia.






  1. Chính sách phát triển các ngành hàng sản xuất và xuất khẩu

Các ngành kinh tế trọng điểm, bao gồm các ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn và tăng trưởng tương đối nhanh, được định hướng xuất khẩu trở thành ngành có vị trí chi phối đối với nhiều ngành khác, có tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và xuất khẩu, được tập trung đầu tư vốn và nhân lực ở mức tối đa.

Ngành kinh tế mũi nhọn định hướng xuất khẩu là ngành có triển vọng xuất khẩu lớn trong tương lai. Sản phẩm trong ngành đáp ứng được như cầu lớn và ngày càng tăng, đồng thời khai thác được lợi thế trong nước.

Trong toàn bộ nền kinh tế: cần chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp xây dựng và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng cao. Trong từng ngành, việc xây dựng chiến lược phát triển phải dựa trên nhu cầu và khuynh hướng tiêu dùng của thị trường thế giới.

1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương