Tiểu luậN: ngoại thưƠng việt nam từ NĂM 000 ĐẾn nay nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm Giảng viên hướng dẫn


Mục tiêu của chính sách tiền tệ là nhằm trợ giúp vốn đồng thời hỗ trợ rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu



tải về 379.24 Kb.
trang10/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích379.24 Kb.
#4385
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Mục tiêu của chính sách tiền tệ là nhằm trợ giúp vốn đồng thời hỗ trợ rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Sự hỗ trợ trong việc đảm bảo tài chính tín dụng được thể hiện qua các hình thức:

  • Thực hiện biện pháp cấp tín dụng xuất khẩu: Vốn bỏ ra cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu thường rất lớn. Người xuất khẩu phải có vốn trước và sau khi giao hàng để thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Nhiều khi người xuất khẩu cần phải có vốn để kéo dài khoản tín dụng ngắn hạn dành cho khách hàng. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vấn đề vốn đang là vấn đề rất khó khăn nên cần có sự cung cấp tín dụng của nhà nước với lãi suất ưu đãi. Cấp tín dụng trực tiếp cho SME không chỉ đơn thuần là trợ giúp để thực hiện xuất khẩu mà còn giúp đỡ doanh nghiệp giảm chi phí về vốn cho hàng xuất khẩu và giảm giá thành xuất khẩu

  • Biện pháp bảo lãnh tín dụng: Trong điều kiện cho phép, để chiếm lĩnh thị trường một số doanh nghiệp đã thực hiện bán chịu - trả chậm cho nước ngoài. Việc bán chịu như vậy thường có rủi ro dẫn đến mất vốn. Trong trường hợp này, để hỗ trợ xuất khẩu, Nhà nước cần phải phát huy cao hơn hiệu quả của dịch vụ bảo hiểm xuất khẩu nhằm thực hiện đền bù vốn đã mất của doanh để họ yên tâm hoạt động và giảm được rủi ro.

Mục tiêu chính của chính sách tỷ giá ở nước ta là điều hành tỷ giá một cách linh hoạt theo tình hình trong nước và quốc tế nhằm khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và tăng dự trữ ngoại tệ. Từ 1997 đến nay là giai đoạn Nhà nước điều hành tỷ giá linh hoạt có sự điêu tiết của nhà nước.

Tuy nhiên,có một số yếu tố tác động không có lợi cho hoạt động xuất khẩu vẫn tiếp tục tồn tại là:



  • Cung cấp tín dụng cho xuất khẩu là một trong các yếu tố quyết định sự thành công của xuất khẩu, thế nhưng ở nước ta việc cung cấp các tín dụng này, đặc biệt là cung cấp vốn lưu động cho các nhà xuất khẩu gặp nhiều trở ngại. Những trở ngại này liên quan tới những thủ tục vay vốn phiền hà, những quy chế phức tạp về thế chấp, nhất là trong điều kiện thị trường bất động sản hoạt động rất kém, sự phân biệt đối xử đối với các loại hình doanh nghiệp, và chưa có cơ chế tái chiết khấu các thương phiếu...

  • Còn có một số nước chúng ta chưa ký hiệp định về công nhận thanh toán hoặc đồng tiền của nước nhập khẩu chưa chuyển đổi được nên doanh nghiệp phải nhập khẩu hàng hóa theo phương thức hàng đổi hàng hoặc phải quy đổi ra ngoại tệ mạnh.

  • Lãi suất trần đối với vốn lưu động do ngân hàng nhà nước quy định còn cao hơn so với các nước khác.

  • Nhìn chung ngân hàng Nhà nước chỉ chấp thuận cho các doanh nghiệp nhà nước vay.

  • Việc quy định bắt buộc doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải bán ngoại tệ cho ngân hàng Nhà nước trong điều kiện tỷ giá hối đoái biến động đã không kích thích được doanh nghiệp.

  • Tỷ giá giữa đồng VN với USD và các đồng tiền khác tuy đã được nhiều lần điều chỉnh kể từ 1996, nhưng hiện vẫn còn cao. Theo một số chuyên gia nước ngoài, mức cao này khoảng trên 10%, và đã tác động tiêu cực đến hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường ASEAN, Nhật Bản và Liên minh châu Âu, trừ Trung Quốc và Mỹ. Đồng tiền Việt Nam cho đến nay, chưa có thể chuyển đổi tự do. Trong khi tổng giá trị xuất nhập khẩu của nước ta đã bằng 160% GDP (số liệu 2008), thì đây là một vấn đề rất bất lợi. Buôn bán quốc tế lớn đến thế, mà đồng tiền không chuyển đổi tự do được, có nghĩa là các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu của ta phải chịu các chi phí chuyển đổi tiền với thủ tục phiền hà và tốn kém thời gian. Đã thế họ còn phải chịu thiệt do quy định về kết hối ngoại tệ, tiền của họ thu được do xuất khẩu, khi nhập khẩu cần ngoại tệ lại phải xin phép ngân hàng cấp…

  • Về cơ sở hạ tầng và thủ tục hải quan:

  • Cơ sở hạ tầng:

Các cơ sở hạ tầng cần cho hoạt động kinh tế đối ngoại là các cảng biển, đặc biệt là cảng trung chuyển quốc tế, sân bay quốc tế, các đường cao tốc nối từ các trung tâm kinh tế đến sân bay và cảng biển, hệ thống liên lạc, viễn thông, cung cấp điện,...

 Về cảng biển, theo các chuyên gia nước ngoài, hiệu suất cảng biển Việt Nam được xếp thứ bảy trong số 9 nước Đông Á mà họ đánh giá, Việt Nam xếp sau Xingapo, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, chỉ xếp trên Trung Quốc và Inđônêxia. Phải nói thêm là phần lớn hàng xuất khẩu của Trung Quốc đều qua cảng Hồng Kông, nên Việt Nam chỉ hơn Inđônêxia. Các hãng vận tải biển nước ngoài xếp cảng Việt Nam vào nhóm độc quyền kiểu "Cácten" vì tất cả các cảng do nhà nước sở hữu và vận hành. Nước ta chưa có cảng trung chuyển quốc tế, nên hàng xuất khẩu của ta phải trung chuyển qua các cảng Hồng Kông, Xingapo, làm tăng thêm chi phí khoảng 20 - 30%. Phí cảng của ta do Ban vật giá chính phủ định hiện là rất cao, trong khi công nghệ bốc dỡ kém, quản lý lạc hậu, thời gian giải phóng tàu lâu, càng làm tăng thêm chi phí cho người xuất khẩu.

 Về hàng không, ta có 2 sân bay quốc tế ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nhưng đều kém các sân bay quốc tế trong khu vực. Theo quy định hiện nay các hãng hàng không nước ngoài không được phép có "quyền tự do thứ năm" trong việc mang hàng vào và ra khỏi Việt Nam từ các điểm trung chuyển như Băng Cốc, Hồng Kông, do vậy công suất đều thừa, không sử dụng hết. Giá vé máy bay của ta hiện còn cao so với khu vực, cùng với tình trạng luôn phải chậm giờ bay, hoãn chuyến càng làm giảm sức hấp dẫn của hàng không Việt Nam.

 Về đường cao tốc, nước ta mới có được vài trăm km đường cao tốc - một con số quá bé nhỏ so với các quốc gia trong khu vực. Số lượng đường cao tốc ít ỏi đã làm cho hàng hoá chậm đến cảng và sân bay quốc tế, làm tăng thêm chi phí và thời gian.



Về cung cấp điện, tiêu dùng điện theo đầu người ở nước ta hiện vào khoảng 232 Kwh, dưới mức trung bình của các nước có thu nhập thấp 363 Kwh, dưới xa mức trung bình của các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương - 787 Kwh. Tình trạng bị cắt điện và tăng giảm điện áp đã gây thiệt hại đáng kể cho các nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu. Giá điện của Việt Nam bán cho các nhà sản xuất được xếp vào loại cao so với khu vực.

Về liên lạc, viễn thông, tuy đã có nhiều tiến bộ, nhưng còn những hạn chế sau: giá dịch vụ viễn thông đắt so với khu vực; giá thuê bao đường truyền được quốc tế đánh giá là cao với nhiều thủ tục phiền hà; tốc độ truy cập Internet còn chậm; thương mại điện tử không phát triển. Gần đây các yếu tố trên đã dần được cải thiện.

Mặc dù Nhà nước đã đầu tư nhiều cho phát triển cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ cho tập trung kinh tế và hoạt động xuất khẩu nhưng cơ sở hạ tầng của nước ta còn kém, chỉ ở mức trung bình của các nước có thu nhập thấp. Trong một cuộc điều tra, có tới 87,8% doanh nghiệp nước ngoài và 83% doanh nghiệp trong nước được hỏi cho rằng chất lượng cơ sở hạ tầng là kém và rất kém. Cơ sở hạ tầng yếu kém làm chi phí vận chuyển hàng hóa tăng cao gây khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu.



  • Thủ tục hải quan:

Một số vấn đề tồn tại liên quan đến công tác hải quan tại cửa khẩu như sau:

  • Biểu thuế hàng hóa xuất nhập khẩu của nước ta còn quy định chưa rõ ràng nên hải quan còn chi phí nhiều thời gian để xem xét và áp mã thuế.

  • Quy định giá tối thiểu để làm cơ sở cho việc áp mức thuế không phù hợp với thông lệ quốc tế và không phù hợp với giá trị trong hợp đồng.

  • Cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, ở nhiều cửa khẩu chưa được nối mạng máy tính với Tổng cục Hải quan, thiếu các phương tiện hiện đại để kiểm tra nên phải sử dụng lao động thủ công làm kéo dài thời gian và tăng chi phí cho doanh nghiệp.

  • Các dịch vụ khai thuê Hải quan chưa phát triển.

  • Chi phí lưu kho, bãi để làm thủ tục hải quan còn cao.

Để xuất một container hàng, doanh nghiệp phải có sáu loại hồ sơ, mất 24 ngày và tốn 669 USD. Trong khi đó, Trung Quốc chi phí thời gian không thấp hơn Việt Nam là 21 ngày nhưng chi phí tiền bạc lại thấp hơn đáng kể, chỉ 390 USD. Tương tự để nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có 8 loại hồ sơ, mất 23 ngày và 881 USD.

Việc phải chịu chi phí cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực đang gây ảnh hưởng không nhỏ cho tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.



  1. Những hạn chế từ khả năng cạnh tranh của các Doanh nghiệp:

Khả năng cạnh tranh(competitiveness) là thuật ngữ được dùng để nói đến các đặc tính cho phép một hãng cạnh tranh một cách có hiệu quả với các hãng khác nhờ có chi phí thấp hoặc sự vượt trội về công nghệ và kỹ thuật trong so sánh quốc tế. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.

Tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam đang diễn ra một cách nhanh chóng. Hội nhập và toàn cầu hoá đã và đang mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên nó cũng mang đến nhiều đe doạ và thách thức.

Các doanh nghiệp của Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và yếu kém:


  • Thứ nhất: Chất lượng và khả năng cạnh tranh về mặt quản lý còn yếu kém so với Thế giới.

Đội ngũ chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý doanh nghiệp còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý. Một bộ phận lớn chủ DN và giám đốc DN tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là yếu về năng lực kinh doanh quốc tế. Từ đó, khuynh hướng phổ biến là các DN hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức trên các phương diện: Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát triển thương hiệu, sử dụng máy tính và công nghệ thông tin. Một số chủ DN mở công ty chỉ vì có sẵn tiền vốn và thích kinh doanh, trong khi đó thiếu kiến thức và kỹ năng về kinh doanh, vì vậy đã dẫn đến rủi ro và thất bại.

  • Thứ hai:  Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao làm yếu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

Nhiều ý kiến cho rằng, lao động là một lợi thế cạnh tranh của Việt Nam bởi chi phí lao động rẻ, trình độ dân trí của lao động Việt Nam cao, có truyền thống lao động cần cù, ham học hỏi, khéo tay, nhanh trí... Nhưng chúng ta phải nhìn nhận rằng chi phí lao động tuy rẻ nhưng năng suất lao động chỉ ở mức trung bình và thấp (trên 60%), chủ yếu lại là lao động thủ công, tác phong lao động công nghiệp còn kém. Do đó nếu so sánh lao động Việt Nam với lao động các nước trong khu vực thì có thể nói đây là điểm yếu của Việt Nam.

Nếu xét chi phí lao động thì chi phí lao động của Việt Nam cao hơn nhiều so với Inđônêxia, nếu xét tới lao động có trình độ kỹ thuật và có năng suất cao thì lao động Việt Nam lại không thể so sánh với Thái Lan, Malaixia, Singapo. Thêm nữa, phần lớn các doanh nghiệp phải tự đào tạo tay nghề cho người lao động (chiếm 85,06%), chứ không phải lao động được đào tạo qua hệ thống trường dạy nghề tập trung, điều này dẫn đến chi phí đào tạo cho lao động cao, nhưng trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật của lao động thấp. Trong một khảo sát về lĩnh vực này, tỷ lệ đào tạo giữa Đại học, Trung cấp, Công nhân kỹ thuật là 110,8310,6. Một vấn đề thuộc chiến lược giai đoạn - đào tạo quốc gia được đặt ra là sớm khắc phục mô hình "hình tháp lộn ngược" này để lao động Việt Nam được đào tạo lành nghề, có năng suất cao chứ không phải chỉ vì "giá rẻ", thực sự trở thành một lợi thế cạnh tranh so với các nước trong khu vực.



  • Thứ ba: Năng lực cạnh tranh về tài chính vẫn còn rất yếu kém.

Quy mô vốn và năng lực tài chính (kể cả vốn của chủ sở hữu và tổng nguồn vốn) của nhiều DN còn rất nhỏ bé, vừa kém hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến ngày 01/01/2004, cả nước có 72.012 doanh nghiệp thực tế hoạt động với tổng số vốn là 1.724.558 tỷ đồng (nếu quy đổi ra đô la Mỹ (thời điểm năm 2003) thì quy mô vốn của các doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ tương đương với một tập đoàn đa quốc gia cỡ trung bình trên thế giới). Trong đó doanh nghiệp Nhà nước chiếm 59,0/% tổng vấn của doanh nghiệp cả nước (1.018.615 tỷ đồng), doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 19,55% (337.155 tỷ đồng), doanh nghiệp có vấn đầu tư nước ngoài chiếm 21,44% tổng vốn các doanh nghiệp cả nước (868.788 tỷ đồng). Xét riêng đối với mỗi doanh nghiệp, vốn của từng doanh nghiệp rất nhỏ (năm 2004, bình quân mỗi doanh nghiệp là 23,95 tỷ đồng), trong đó số doanh nghiệp có quy mô dưới 0,5 tỷ đồng có 18.790 doanh nghiệp (chiếm 26,09% tổng số doanh nghiệp), doanh nghiệp có quy mô vốn từ 0,5 đến 1 tỷ đồng là 12.954 doanh nghiệp (chiếm 17,99%), số doanh nghiệp có vốn từ 1 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng là 24.737 doanh nghiệp (chiếm 34,35%), số doanh nghiệp có vốn từ 5 đến 10 tỷ đồng là 5.496 doanh nghiệp (chiếm 7,63%), số doanh nghiệp có số vốn từ 10 đến 50 tỷ là 6.648 doanh nghiệp (chiếm 9,23%), số doanh nghiệp có số vốn từ 50 đến 200 tỷ đồng là 2.491 doanh nghiệp (chiếm 8,46%), số doanh nghiệp có vốn từ 200 đến 500 tỷ đồng là 586 doanh nghiệp (chiếm O,81%), số doanh nghiệp cọ vốn trên 500 tỷ đồng là 310 doanh nghiệp (chiếm 0,48% tổng số).

Như vậy, có thể thấy đại đa số các doanh nghiệp đang hoạt động trong tình trạng không đủ vốn cần thiết, đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. Đây là điều đáng lo khi các chính sách - bảo hộ của Nhà nước đến năm 2010 hầu như không còn nữa vì theo lịch trình giảm thuế quan cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN – AFTA và tổ chức thương mại Thế giới WTO. Khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ dễ dàng bị các tập đoàn lớn đánh bại.



  • Thứ tư: sự yếu kém trong công tác nghiên cứu và lựa chọn thị trường xuất khẩu mục tiêu:

Về hoạt động nghiên cứu thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp: theo một điều tra với 175 doanh nghiệp, có 16% số doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu thị trường một cách thường xuyên, 84% số doanh nghiệp còn lại cho rằng công tác nghiên cứu thị trường không nhất thiết phải làm thường xuyên, họ chỉ tiến hành nghiên cứu trước khi có ý định xâm nhập thị trường. Một số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, chỉ chưa đầy 10% số doanh nghiệp là thường xuyên thăm thị trường nước ngoài, chủ yếu là những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp Nhà nước, 42% số doanh nghiệp thỉnh thoảng mới có cuộc đì thăm thị trường nước ngoài, và khoảng 20% không một lần đặt chân lên thị trường ngoài nước. Các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp tư nhân thì khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài hầu như không có.

Về việc xác định thị trường mục tiêu: các doanh nghiệp thường lựa chọn thị trường mục tiêu theo cách phản ứng lại với thị trường, thấy cơ hội của đoạn thị trường nào hấp dẫn thì tập trung vào đoạn thị trường đó. Chẳng hạn, khi hạn hán mất mùa ở Inđônêxia làm xuất hiện nhu cầu nhập khẩu gạo thì họ tập trung vào đó. Cũng tương tự như với thị trường Irắc về đổi lương thực lấy dầu và trả nợ thì các doanh nghiệp lại tập trung vào đoạn thị trường này. Tình trạng phổ biến diễn ra là các doanh nghiệp không chủ động tiếp cận với thị trường để chọn ra cho mình một thị trường mục tiêu, để từ đó có kế hoạch thâm nhập, giữ vững hay mở rộng thị trường.

Sự hiểu biết về thị trường ngoài còn hạn chế. Đa phần các doanh nghiệp xuất khẩu đều phải tự tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Trong khi đó, Nhà nước chưa cung cấp được thông tin đầy đủ cho các doanh nghiệp. Bộ thương mại mới bắt đầu hình thành một hệ thống xúc tiến thương mại hoàn chỉnh, mang tính quốc gia để hỗ trợ doanh nghiệp từ khâu nghiên cứu phong tục, tập quán kinh doanh đến việc xúc tiến bán hàng tại các thị trường trên thế giới. Hệ thống chuyên cung cấp thông tin về thị trường trong và ngoài nước phục vụ cho các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu do Nhà nước cung cấp hiện nay còn mang tính chất rời rạc, không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu


  • Thứ năm: Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp còn quá phụ thuộc.

Phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chưa xây dựng được chiến lược phát triển kinh doanh, cách ứng xử trong kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp chủ yếu nhằm vào các mục tiêu ngắn hạn, trước mắt. Đặc biệt chiến lược kinh doanh còn quá phụ thuộc vào thị trương đầu vào cũng như đầu ra.

  • Yếu tố đầu vào:

Tuy tốc độ gia tăng thương mại là khá cao nhưng tỷ trọng hàng thô và sơ chế biến trong khâu xuất khẩu còn khá cao. Ngay cả các sản phẩm xuất khẩu có sự tăng trưởng cao trong nhiều năm qua như: hàng dệt may, da giày, chế biến thực phẩm và đồ uống, sản phẩm thép và kim loại màu... cũng phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu, bán thành phẩm nhập khẩu. Tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trí tuệ cao còn rất nhỏ. Ví dụ về tỷ lệ gia công của hàng dệt may: Hàng dệt may luôn nằm trong nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nhưng giá trị mang lại rất thấp, chỉ chiếm khoảng 35% so với kim ngạch xuất khẩu. Theo số liệu "ước đoán", hàng FOB xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 20% - 30%, còn lại là gia công. Ngành dệt may VN hiện đứng vị trí thứ 9 trong top 10 nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới, nhưng so với nhiều nước ở châu Á, tốc độ tăng trưởng của hàng dệt may VN vẫn còn thấp, chỉ khoảng 20% - 30%. Trong khi đó, Trung Quốc đạt tăng trưởng 80%, Indonesia 48%… Nguyên nhân là do gia công còn chiếm tỷ lệ lớn (70% - 80%).

  • Thị trường đầu ra:

Như ở trên đã chỉ ra, các doanh nghiệp của Việt Nam không tiến hành tổ chức nghiên cứu tìm hiểu thị trường một cách kỹ lưỡng. Vì vậy, các mặt hàng xuất khẩu của ta thường chú trọng vào những thị trường xuất khẩu nổi trội: Mỹ, Nhật Bản, EU,… Tuy nhiên, các thị trường này thường có những hàng rào thương mại tương đối nghiêm ngặt. Ví dụ ở Mỹ có đến 37 tiêu chí để áp dụng rào cản thương mại, rất nhiều trong số đó các doanh nghiệp VN không đáp ứng được như: an toàn thực phẩm, môi trường, bán phá giá… Chỉ cần bị rào cản thương mại và mất thị trương thì ngay lập tức, các doanh nghiệp rơi vào tình trạng lúng túng vì năng lực cạnh tranh yếu kém không thể đáp ứng mà lại không có nhiều thị trường để phân tán rủi ro.

Tóm lại, vì năng lực cạnh tranh còn quá yếu, nên các doanh nghiệp rất dễ bị tổn thương khi có một sự kiện ảnh hưởng mà cụ thể là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008. Gần như tất cả các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta đều giảm cả về số lượng và giá trị trong năm 2009.



CHƯƠNG IV

PHƯƠNG HƯỚNG, BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM PHÁT TRIỂN



      1. Vấn đề bảo hộ mậu dịch và phát triển kinh tế đối ngoại

Có quan điểm cho rằng có thể thực thi chính sách bảo hộ mậu dịch, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút các nguồn vốn nước ngoài. Thực tế thế giới hiện nay không cho phép các quốc gia thực hiện chính sách này. Một nguyên tắc gần như phổ biến trong các quan hệ quốc tế hiện nay là: một quốc gia muốn mở cửa thị trường nước khác thì đồng thời phải mở cửa thị trường nước mình. Các nước phát triển đến cuối thập kỷ 1990 đã mở cửa nền kinh tế của họ ở mức rất cao: thuế quan trung bình chỉ còn khoảng 2 - 4%, hàng rào phi thuế quan bị bãi bỏ về cơ bản. Nếu một nước nào đó muốn đặt mức thuế quan cao cho một sản phẩm nhập khẩu, lập tức sẽ bị các nước đối tác kiện ra WTO và có thể bị trả đũa. Việc Mỹ năm 2002 đơn phương tăng thuế nhập khẩu thép lên 30% là một ví dụ.

Bảo hộ mậu dịch trên thực tế đã có hại cho sự phát triển kinh tế đối ngoại: việc tăng giá các sản phẩm trong nước đã làm tăng chi phí đối với cả sản xuất xuất khẩu cũng như phục vụ nhu cầu trong nước; che chở cho các doanh nghiệp trong nước sản xuất kém hiệu quả mở rộng sản xuất - chống lại các giải pháp hội nhập quốc tế; khuyến khích xu hướng thay thế nhập khẩu - giảm thiểu cơ hội mở rộng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài...

 Song có quan điểm cho rằng các nước kém phát triển cần một lộ trình bảo hộ mậu dịch để tham gia có hiệu quả vào hội nhập quốc tế; lộ trình này càng dài càng tốt, vì các doanh nghiệp trong nước càng có nhiều thời gian trưởng thành để đua tranh trên thương trường quốc tế. Đúng là các nước kém phát triển cần có một lộ trình hội nhập quốc tế, nhưng lộ trình này không phải là một lộ trình gia tăng chính sách bảo hộ mậu dịch để rồi xoá bỏ nó, mà là một lộ trình bãi bỏ dần các hàng rào bảo hộ.

 Thường lộ trình này kéo dài 2 - 5 năm, tuỳ theo từng ngành kinh tế kỹ thuật. Xét về hiệu quả kinh tế thuần tuý, thì không cần đến lộ trình này, lý thuyết kinh tế học hiện đại và thực tế hàng chục năm qua đã chứng minh cho luận điểm này. Nhưng xét về mặt chính trị và xã hội, thì lại cần có một lộ trình như vậy để đổi mới cơ cấu sản xuất, giải quyết tình trạng thất nghiệp, đào tạo lại nghề nghiệp, giữ ổn định xã hội... Một nhà nước càng có năng lực giải quyết tốt các vấn đề trên, thì lộ trình hội nhập quốc tế càng được rút ngắn và ngược lại.

Dựa vào những phân tích trên đây, nước ta cần có một lộ trình hội nhập quốc tế chủ động và tích cực phù hợp với thực tế. Lộ trình này một mặt tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tự vươn lên, mặt khác dùng sức ép của việc giảm dần hàng rào bảo hộ để buộc các doanh nghiệp phải vươn lên, nếu không sẽ bị đào thải. Thực tế lịch sử cho thấy các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp tư nhân, không mấy khi tự đổi mới để vươn lên, mà thường chỉ đổi mới khi có sức ép bên ngoài đặt họ trước sự lựa chọn - hoặc phải phá sản hoặc phải đổi mới. Một lộ trình hội nhập quốc tế tích cực, giảm hàng rào bảo hộ chính là sức ép cần thiết bên ngoài đó.

Khuyến khích xuất khẩu trực tiếp và khuyến khích đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu mới chỉ nhìn đến các doanh nghiệp có sản xuất trực tiếp hàng xuất khẩu. Trong thực tế, có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ làm nhiệm vụ cung ứng nguyên phụ liệu đầu vào hoặc bán thành phẩm và các cơ sở này cũng cần được hưởng ưu đãi về thuế và vốn đầu tư để góp phần làm hạ giá thành sản phẩm xuất khẩu. Việc tạo điều kiện cho phát triển của một ngành hàng xuất khẩu nào đó sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều ngành khác theo hướng vừa đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm có trị giá gia tăng (không phải nhập nguyên liệu, xuất thành phẩm theo kiểu gia công), vừa tạo điều kiện thu hút được các nguồn nhân lực và vật lực của đất nước vào lĩnh vực kinh tế có hiệu quả.



      1. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm tiếp cận và mở rộng thị trường.

Đàm phán thương mại (song phương và đa phương) bao gồm đàm phán mở cửa thị trường mới, đàm phán để tiến tới thương mại cân bằng với những thị trường mà ta thường xuyên nhập siêu, đàm phán để thống nhất hoá các tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn kỹ thuật và đàm phán để nới lỏng các hàng rào phi quan thuế là sự hỗ trợ rất quan trọng của Nhà nước đối với doanh nghiệp.

Trong thời gian tới cần tổ chức lại hệ thống thông tin về thị trường thế giới có ở nhiều Bộ, ngành. Tăng cường mạnh mẽ công tác thu thập và phổ biến thông tin về thị trường ngoài, từ tình hình chung cho tới các cơ chế chính sách của các nước, dự báo các chiều hướng cung - cầu hàng hoá và dịch vụ … Để thông tin có thể đến với mọi doanh nghiệp quan tâm theo con đường ngắn nhất, tiết kiệm nhất, Bộ Thương mại cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và trang chủ (trang Web) của Bộ, tăng cường phát hành các tài liệu theo chuyên đề.

Khi đã có sản phẩm hàng hoá, thì việc tổ chức thị trường và hoạt động xúc tiến cụ thể là rất quan trọng. Thông qua hai khâu này sản phẩm xuất khẩu mới đến được thị trường nhập khẩu, đến với người tiêu dùng. Vì vậy, tổ chức thị trường và xúc tiến thương mại phải trở thành một chức năng quan trọng của Bộ Thương mại và tham tán thương mại. Tại thị trường ngoài, các tham tán phải là tác nhân gắn kết doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp trên thị trường mà tham tán hoạt động.

Nhà nước có thể hỗ trợ việc thâm nhập và mở rộng thị trường thông qua việc khuyến khích thu hút đầu tư của các tập đoàn xuyên quốc gia và của các nhà sản xuất "chìa khoá trao tay". Đây là một giải pháp cần chú trọng bởi lẽ các tập đoàn xuyên quốc gia là những người đi đầu trong lĩnh vực chuyên môn hoá và hợp tác hoá. Các sản phẩm sản xuất ra tại một nước thường nằm trong một dây chuyển sản xuất, tiêu thụ mang tính toàn cầu. Vì vậy, thông qua thu hút đầu tư của các tập đoàn này sẽ đảm bảo được thị trường xuất khẩu qua hệ thống phân phối toàn cầu. Ngoài ra, cần tăng cường thu hút đầu tư của các nhà sản xuất "chìa khoá trao tay" (đặc biệt là trong lĩnh vực điện tử và công nghệ thông tin) để góp phần chuẩn bị tiền đề cho thời kỳ sau là thời kỳ đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng chất xám và hàm lượng công nghệ cao.



      1. Tiếp tục đổi mới các chính sách tiền tệ, tài chính, tín dụng.

  • Một trong những biện pháp có tác động trực tiếp và nhanh chóng đối với hoạt động xuất khẩu là chính sách tỷ giá hối đoái giữa VND và USD. Các nước trong khu vực và nhiều nước trên thế giới đã chủ động thay đổi tỷ giá giữa đồng nội tệ với ngoại tệ mạnh như USD. Vì vậy, Nhà nước cần áp dụng chế độ giá linh hoạt hơn với mục tiêu thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trên cơ sở nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam.

  • Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng với mục đích trợ giúp các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển xuất khẩu nhưng không có điều kiện tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng do không có tài sản thế chấp. Quỹ sẽ đứng ra bảo lãnh các khoản vay, cùng chia sẻ thành công với doanh nghiệp và rủi ro với ngân hàng. Các khoản mục sau đây có thể đưa vào danh mục bảo lãnh:

  • Bảo lãnh tiền vay mua máy móc, vật tư phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.

  • Bảo lãnh nộp thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể rút hàng về ngay khi hàng về đến cảng để triển khai sản xuất.

  • Đảm bảo việc thực hiện hợp đồng (trong trường hợp khách hàng nước ngoài yêu cầu mở Performance Bond thì quỹ sẽ đứng ra bảo lãnh). Nguồn để thành lập quỹ này có thể một phần từ Ngân sách nhà nước, nguồn thu từ đấu thầu hạn ngạch dệt may, phí thành lập văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam.

  • Khuyến khích các hiệp hội ngành hàng thành lập các quỹ bảo hiểm phòng ngừa rủi ro xuất khẩu cho ngành mình, nhất là trong những ngành quan trọng, có khối lượng xuất khẩu tương đối lớn như gạo, cà phê, cao su… Quỹ bảo hiểm có nhiệm vụ trợ giúp các thành viên hiệp hội khi giá cả thị trường biến động thất thường. Cơ chế hoạt động sẽ do từng hiệp hội tự xác định nhưng nhìn chung nên đặt ra một mức giá bảo hiểm đảm bảo cho người sản xuất thu hồi được vốn đầu tư, trang trải được chi phí và có lợi nhuận thỏa đáng. Khi thị trường thế giới thuận lợi, có thể xuất khẩu với giá cao hơn mức bảo hiểm thì hiệp hội áp dụng biện pháp thu một phần chênh lệch đưa vào quỹ bảo hiểm (chênh lệch giữa giá xuất khẩu và giá bảo hiểm); ngược lại khi thị trường thế giới biến động không thuận lợi, giá xuất khẩu thấp hơn giá bảo hiểm thì trích quỹ để hỗ trợ lại cho các thành viên.

  • Về tín dụng: xoá bỏ cơ chế kết hối ngoại tệ, áp dụng tỷ giá thanh toán cho hàng xuất khẩu phù hợp với biến động thực tế trên thị trường. Thực hiện chế độ quản lý ngoại hối chặt chẽ, nhưng thủ tục hành chính phải thuận lợi và nhanh chóng, không gây phiền hà cho xuất khẩu.

      1. Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý và cải cách thủ tục hành chính.

  • Hiện nay các doanh nghiệp rất thiếu thông tin về các quy định của nhà nước liên quan đến công việc kinh doanh của họ, kể cả các định chế trong nước cũng như các định chế của nước ngoài. Bộ thương mại, ngoài việc công khai hoá các văn bản pháp quy có liên quan đến hoạt động xuất khẩu còn có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn toàn bộ các doanh nghiệp thực hiện các quy định của pháp luật (trừ những trường hợp không thể công khai hoá). Những thông tin về chính sách và văn bản pháp luật (đặc biệt là văn bản hướng dẫn thực hiện của các Bộ, ngành) cần phải được công khai hóa trên các phương tiện thông tin đại chúng. Mặt khác, cần khai thác mạng thông tin Internet, cho phép các doanh nghiệp được kết nối với mạng thông tin này để tìm hiểu các văn bản pháp quy và thông tin về thị trường. Từng bước thừa nhận các văn bản báo cáo và các thông tin lấy từ mạng cũng có tính pháp lý như những văn bản thông thường khác. Cải cách thủ tục hải quan, chấp nhận quy chế của WTO về giá tính thuế theo hợp đồng thương mại, đơn giản hoá thủ tục hải quan, giảm chi phí về thời gian và tiền bạc cho doanh nghiệp xuất và nhập khẩu hàng hóa, tập trung giải quyết khâu kiểm hoá và tính thuế hải quan.

  • Đối với kiểm hoá, Tổng cục hải quan cần rà soát các cơ quan đã được cấp phép, lựa chọn những cơ quan không có sai sót trong việc cấp giấy chứng nhận đê ban hành danh mục các cơ quan kiểm hoá được thừa nhận đảm bảo chất lượng. Khi đã có xác nhận của cơ quan thuộc danh mục này thì hải quan cửa khẩu chấp nhận để hoàn thành thủ tục, tránh tình trạng doanh nghiệp phải đưa đi nhiều nơi để kiểm hoá. Những kết luận sai của Hải quan gây ách tắc cho khâu thông quan và tăng chi phí của doanh nghiệp thì Hải quan phải có trách nhiệm bồi thường.

  • Đối với những mặt hàng xuất khẩu yêu cầu phải có giấy chứng nhận xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế của nước nhập khẩu như may mặc, giầy dép.. thì cần xem xét rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận xuất xứ và mức phí thích hợp. Xây dựng và áp dụng nguyên tắc xuất xứ đối với hàng nhập khẩu từ những nước được hưởng ưu đãi thuế quan.

  • So với các nước trong khu vực (ví dụ Thái Lan) thủ tục xuất nhập cảnh còn chưa thuận tiện. Bộ công an và các Bộ ngành, địa phương cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh mà vẫn đảm bảo yếu cầu về an ninh. Việc đơn giản hoá thủ tục và phân cấp hợp lý việc cấp Visa sẽ làm giảm chi phí thực tế về Visa.

  • Từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý kinh tế của nước ta cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tương thích với thông lệ quốc tế. Đồng thời tiếp tục thực hiện chủ trương của Nhà nước về Cải cách hành chính nhằm tạo ra bộ máy quản lý Nhà nước gọn nhẹ và có hiệu quả, giảm bớt các khâu phiền hà và giảm chi phí về thời gian và vật chất cho doanh nghiệp. Quản lý hành chính phải chuyển sang và tập trung chủ yếu vào các khâu định hướng và hướng dẫn cho doanh nghiệp là chính, khâu kiểm tra và xử lý vi phạm là cần thiết nhưng không thể xem đó là nhiệm vụ chính của quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung và về hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng.

      1. Xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng 

Hệ thống cơ sở hạ tầng của kinh tế đối ngoại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia. Người ta đã tính rằng có đến trên 70% những khác biệt về giá trị xuất khẩu trên đầu người là phụ thuộc vào trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng. Nếu không có đủ cảng, sân bay quốc tế, điện, đường... thì có nghĩa là chỉ có một bộ phận dân cư tham gia kinh tế đối ngoại. 

Những yếu tố của cơ sở hạ tầng không những phải được xây dựng hiện đại mà còn phải đồng bộ, và trong một thời hạn càng ngắn càng tốt. Chỉ cần một trong các yếu tố trên khiếm khuyết cũng đủ gây tổn hại cho các hoạt động kinh tế đối ngoại. Và nếu chúng được xây dựng với một thời hạn quá dài hàng chục năm, trong khi các cam kết hội nhập quốc tế của ta có thời hạn ngắn hơn, thì như vậy chúng ta sẽ bỏ lỡ thời cơ tận dụng những lợi thế do các cam kết quốc tế mang lại. 

Do vậy, trong thời gian trước mắt, ta phải tập trung đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết cho kinh tế đối ngoại như: phát triển hệ thống thông tin liên lạc, hiện đại hoá các sân bay quốc tế; mở rộng các đường cao tốc ở các vùng trọng điểm; tăng cường việc xây dựng các nhà máy điện và hiện đại hoá hệ thống truyền dẫn, giảm tiêu hao thất thoát điện; gia tăng các cơ sở sản xuất nước và hiện đại hoá hệ thống cung cấp nước...

Cần phải có hàng chục tỷ USD để xây dựng những cơ sở hạ tầng trên đây. Vốn ngân sách nhà nước, kể cả nguồn vốn ODA cũng không thể đủ đáp ứng các nhu cầu to lớn này. Do vậy cần phải có quy hoạch tổng thể về cơ sở hạ tầng, nhà nước có thể tạm thời chuyển vốn đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất công nghiệp sang xây dựng cơ sở hạ tầng. Mở rộng các hình thức huy động vốn đa dạng, cần có chính sách để mọi thành phần kinh tế có thể tham gia kinh doanh cơ sở hạ tầng. Ngay những nước giàu như Mỹ, Nhật, nhà nước cũng không đủ tiền xây dựng các cơ sở hạ tầng, mà phải huy động các thành phần kinh tế khác. Nước ta nghèo hơn nên càng phải sử dụng các thành phần ngoài nhà nước.

 Kinh doanh cơ sở hạ tầng trong nhiều năm trước đây thường do các công ty nhà nước độc quyền đảm nhận, kể cả ở các nước phương Tây. Nhưng thực tế cho thấy tình trạng độc quyền của các công ty nhà nước đã dẫn tới những hậu quả tiêu cực - chi phí cao, phiền hà, lãng phí, tham nhũng... Do vậy trong những năm gần đây, xu hướng cho phép khu vực tư nhân tham gia kinh doanh hạ tầng cơ sở đã ngày càng phổ biến ở nhiều nước. Và nước ta cũng không thể tránh được xu hướng này.



      1. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam:


  1. tải về 379.24 Kb.

    Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương