Tiểu luậN: ngoại thưƠng việt nam từ NĂM 000 ĐẾn nay nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm Giảng viên hướng dẫn



tải về 379.24 Kb.
trang1/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích379.24 Kb.
#4385
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬTkhung1khung3khung4khung2




TIỂU LUẬN:

NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAYbs00554_

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 1 Giảng viên hướng dẫn:

Hoàng Thị Ngọc K084040539 TS. Hoàng Vĩnh Long

Nguyễn Thị Ngân K084040670

Lê Thị Hiền K084010028

Lương Tiểu Linh K084040523

Tăng Ngọc Phương Linh K084040526

Trần Phong Phú K084040686

Nguyễn Thanh Duy K084040487

Đoàn Quốc Huy K084050936

Nguyễn Võ Trung Hiếu K084040640



TP.HCM, tháng 04/2010khung2khung1

MỤC LỤC

Lời mở đầu 4

Chương 1: Cơ cấu ngoại thương của Việt Nam 5



  1. Những lợi thế của Việt Nam trong thương mại quốc tế 5

    1. Vị trí địa lý 5

    2. Tình hình chính trị - xã hội ổn định 6

    3. Hệ thống giao thông vận tải 6

    4. Nguồn nhân lực dồi dào 8

    5. Nguồn tài nguyên phong phú 9

    6. Tham gia các tổ chức thương mại quốc tế 10

  2. Lợi thế so sánh của Việt Nam 11

  3. Cơ cấu ngoại thương của Việt Nam qua các thời kỳ 14

    1. Thời kì từ 2001 đến trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 14

    2. Thời kì từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay 21

Chương 2: Chiến lược phát triển ngoại thương và chính sách thương mại của Việt Nàm giai đoạn 2001- 2010 29

  1. Mô hình chiến lược phát triển 29

  2. Chiến lược phát triển ngoại thương 2001- 2010 30

    1. Đường lối kinh tế xã hội và quan điểm phát triển của Việt Nam thời kỳ này 30

    2. Chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010 31

  3. Nguyên tắc và chính sách nhập khẩu 33

  4. Phương hướng và chính sách xuất khẩu 33

Chương 3: Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010 48

  1. Kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển xuất khẩu 48

    1. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất khẩu 48

    2. Giá xuất khẩu hàng hóa theo khu vực kinh tế và phân theo nhóm hàng. 51

    3. Trị giá xuất khẩu phân theo khối nước 59

    4. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 64

  2. Kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển nhập khẩu 94

    1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ năm 2000 đến 2009 94

    2. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu 98

    3. Cơ cấu thị trường nhập khẩu 104

    4. Chủ thể tham gia nhập khẩu 106

  3. Những thành tựu và hạn chế 107

    1. Thành tựu 107

    2. Hạn chế 108

Chương 4: Phương hướng, biện pháp thúc đẩy ngoại thương Việt Nam phát triển 125

  1. Vấn đề bảo hộ mậu dịch và phát triển kinh tế đối ngoại 125

  2. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm tiếp cận và mở rộng thị trường 127

  3. Tiếp tục đổi mới các chính sách tiền tệ, tài chính, tín dụng 128

  4. Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý và cải cách thủ tục

hành chính 129

  1. Xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng 131

  2. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam 132

Danh mục tài liệu tham khảo 135

LỜI MỞ ĐẦU

Chúng ta đang sống trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, thế kỷ của sự hội nhập toàn cầu. Thế giới đang từng bước tiến tới sự nhất thể hóa, và sự mở cửa nền kinh tế sẽ làm cho trái đất thực sự trở thành một cộng đồng với đầy ý nghĩa hơn bao giờ hết. Thành viên trong cộng đồng này là các quốc gia chấp nhận sự lệ thuộc và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau vừa công khai vừa vô hình. Quá trình phụ thuộc ngày càng lớn đến mức nếu một quốc gia thành viên bị cô lập với thế giới bên ngoài, chắc chắn nó sẽ bị tụt hậu và suy thoái. Khi hiểu được tính liên kết để tồn tại là một tất yếu, ta sẽ thấy hệ thống kinh tế và các thể chế của nó sẽ là những bước dẫn nhập đầu tiên cho sự hợp nhất này.

Thương mại quốc tế là cầu nối xa xưa nhất giữa các vùng và các nước từ thời cổ đại. Thương mại chính là nhân tố giúp cho thế giới ý thức đươc sự cần có lẫn nhau vì sự tồn tại chung. Cho tới ngày nay, hầu hết mọi người trên thế giới vì tính tất yếu của cuộc sống vẫn luôn phải quan tâm tới không chỉ tình hình trong nước mà cả tình hình kinh tế và thương mại quốc tế. Bởi vì những thay đổi ở ngoài biên giới tưởng chừng không có liên quan, nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống mỗi người. Hiểu biết tốt về kinh tế quốc tế sẽ giúp ích cho cá nhân cộng đồng và các nền kinh tế dễ dàng điều chỉnh để không những thích ứng với mọi hoàn cảnh mới luôn biến đổi trong nền kinh tế mà còn có thể vận dụng một cách có lợi cho sự phát triển khu vực.

Là những sinh viên đang theo khối ngành kinh tế, với mong muốn có thêm kiến thức về kinh tế học quốc tế và tìm hiểu về xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua, chúng em đã quyết định thực hiện đề tài: “Ngoại thương Việt Nam giai đoạn từ 2000 đến nay”

CHƯƠNG I


CƠ CẤU NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM

Việt nam hiện nay là một nước đang phát triển, đang trong tiến trình mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới. Chính sự phát triển của ngoại thương đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới; góp phần tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế nhờ sử dụng hiệu quả lợi thế so sánh trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; nâng cao trình độ công nghệ và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động.



  1. Những lợi thế của Việt Nam trong thương mại quốc tế:

  1. Vị trí địa lý:

Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Campuchia ở phía Tây; và có ba mặt Đông, Nam và Tây-Nam giáp biển với bờ biển dài 3.260 km, từ Móng Cái ở phía Bắc đến Hà Tiên ở phía Tây Nam, phần Biển Đông có thềm lục địa, các đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc. Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, và nằm trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, là một trong những khu vực kinh tế năng động nhất trên thế giới.

Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy, đã tạo điều kiện thúc đẩy việc hợp tác, phát triển hoạt động ngoại thương của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong đó Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và các nước ASEAN là các đối tác quan trọng của Việt Nam trong hoạt động thương mại.

Đường biển dài với sản lượng hải sản dồi dào, cũng góp phần phát triển ngành đánh bắt thủy hải sản và xuất khẩu. Việt Nam hoàn toàn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với các đặc điểm khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa, thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp.


  1. Tình hình chính trị - xã hội ổn định:

Việt nam được đánh giá là nước có môi trường chính trị và xã hội ổn định so với các nước khác trong khu vực. Tổ chức Tư vấn Rủi ro Kinh tế và Chính trị (PERC) 2007 tại Hồng Kông xếp Việt nam ở vị trí thứ nhất về khía cạnh ổn định chính trị và xã hội sau sự kiện 11/9. So với các nước ASEAN khác như Indonexia, Malayxia, Philipin, và Trung quốc, Việt nam có ít các vấn đề liên quan đến tôn giáo và mâu thuẫn sắc tộc hơn. Sau khi đưa ra chính sách “đổi mới”, Việt nam đã và đang đạt được mức tăng trưởng GDP ổn định. Sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô đang được duy trì, đã giúp cho các ngành sản xuất của Việt nam phát triển mạnh mẽ, tổng sản phẩm GDP đều tăng qua mỗi năm, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thương mại quốc tế, và tình hình hoạt động xuất nhập khẩu của Việt nam ngày càng gia tăng cả về số lượng và giá trị.

  1. Hệ thống giao thông vận tải

Hệ thống giao thông vận tải đã được tập trung đầu tư phát triển. Các tuyến giao thông huyết mạch và trọng yếu được nâng cấp mở rộng và làm mới, bảo đảm thông suốt trong cả nước thúc đẩy quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa được thuận lợi.

Đường bộ

Tính đến cuối năm 2005, tổng chiều dài đường quốc lộ trong cả nước vào khoảng 17.300 km. Trục dọc Bắc - Nam gồm hai tuyến: Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh. Đây là các trục đường bộ quan trọng nhất trong hệ thống đường bộ Việt Nam. Việc xây dựng, khôi phục, nâng cấp các tuyến này là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, quốc phòng.



Đường sắt

Mạng lưới Đường sắt Việt Nam với tổng chiều dài 3.400 km nối liền các khu dân cư, trung tâm văn hoá nông nghiệp và công nghiệp, trừ khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Đường sắt Việt Nam nối liền với đường sắt Trung Quốc qua hai hướng:


      • Tới Vân Nam Trung Quốc qua tỉnh Lào Cai.

      • Tới Quảng Tây Trung Quốc qua tỉnh Lạng Sơn.

Đường sắt Việt Nam cũng có tiềm năng nối liền với mạng lưới đường sắt Campuchia, Thái Lan và Malaysia để đến Singapore và tuyến đường sắt của Lào khi được phát triển.

Hàng không

Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (VietnamAirlines) có 17 đường bay quốc tế, và 16 đường bay nội địa. Các sân bay lớn: Nội Bài (Hà Nội), Tân Sơn Nhất (TP.HCM) , Đà Nẵng, Phú Bài (Huế), Cát bi (Hải Phòng), Điện biên (Lai châu), Vinh (Nghệ An), Nha Trang, Cần Thơ...



Cảng biển

Hệ thống cảng biển Việt Nam bảo đảm thông qua toàn bộ lượng hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển theo yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế đất nước, dự kiến đạt khoảng 200 triệu tấn/năm vào năm 2010.

Hệ thống cảng biển Việt Nam được qui hoạch phân bố trên phạm vi cả nước tại những vị trí có điều kiện và nhu cầu xây dựng cảng biển, nhằm khai thác ưu thế thiên nhiên, tận dụng khả năng vận tải biển, phục vụ tốt các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, tiết kiệm chi phí đầu tư và chi phí khai thác cảng.

Một số Cảng biển chính: Hòn Gai, Hải Phòng, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Cam Ranh, Vũng Tàu, Sài Gòn ...Tổng năng lực thông qua cảng biển hiện vào khoảng 73 triệu tấn.



  1. Nguồn nhân lực dồi dào

Dân số

Cả nước năm 2009 là 85.8 triệu người, tăng 9,47 triệu người so với năm 1999, bao gồm 49,5% nam và 50,5% nữ. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm. Tỷ lệ tăng dân số ở khu vực thành thị vẫn ở mức cao do tốc độ đô thị hoá những năm gần đây tăng nhanh, dân số ở thành thị hiện chiếm 29,6% tổng dân số cả nước, tăng bình quân 3,4%/năm; trong khi tỷ lệ tăng dân số ở khu vực nông thôn chỉ là 0,4%/năm.



Nguồn nhân lực

Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế tại thời điểm 1/7/2006 là 43,44 triệu người, tăng 2,1% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ trọng lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tiếp tục giảm từ 57,2% trong năm 2005 xuống 55,7% trong năm 2006 để chuyển dịch sang các khu vực có năng suất lao động cao hơn, phù hợp với chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tương ứng, tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng tiếp tục tăng từ 18,3% lên 19,1% và khu vực dịch vụ từ 24,5% lên 25,2%. Trong các thành phần kinh tế, lao động thuộc khu vực nhà nước vẫn tăng nhẹ so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động khu vực thành thị tiếp tục giảm, đạt 4,4%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp của nam là 4,8%, của nữ là 3,9%.

Tính đến ngày 1/4/2009, cả nước có 43,8 triệu người trong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 51,1% dân số (thành thị có 11,9 triệu người, nông thôn có 31,9 triệu người), lao động nữ chiếm 46,6% tổng lực lượng lao động. Từ số liệu trên cho thấy, Việt nam có nguồn nhân lực rất dổi dào, đầy tiềm năng.



  1. Tài nguyên thiên nhiên phong phú

Tài nguyên đất: Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì cao, thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp. Việt Nam có hệ thực vật phong phú, đa dạng (khoảng 14 600 loài thực vật). Thảm thực vật chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới, gồm các loại cây ưa ánh sáng, nhiệt độ lớn và độ ẩm cao.

Rừng và đất rừng chiếm một diện tích lớn trên lãnh thổ Việt Nam. Các khu rừng quốc gia được nhà nước bảo vệ và có kế hoạch phát triển du lịch sinh thái bền vững: rừng Ba Vì (Hà Tây), rừng Cúc Phương (Ninh Bình), rừng Cát Tiên (Ðồng Nai), rừng Côn Ðảo, rừng ngập nước (Cà Mau) v.v..

Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú. Dưới lòng đất có nhiều khoáng sản quí như: thiếc, kẽm, bạc, vàng, angtimoan, đá quí, than đá. ở thềm lục địa của Việt Nam có nhiều dầu mỏ, khí đốt.

Tài nguyên nước

Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc (2.360 con sông dài trên 10 km). Hai sông lớn nhất là sông Hồng và sông Mê Công tạo nên hai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu. Hệ thống các sông suối hàng năm được bổ sung tới 310 tỷ m3 nước, nguồn suối nước khoáng cũng rất phong phú. Với diện tích mặt nước rộng lớn cả về nước ngọt lẫn nước mặn đã tạo điều kiện cho Việt nam phát triển ngành thủy sản.



Quần thể động vật ở Việt Nam cũng phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều loài thú quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ của thế giới. Hiện nay, đã liệt kê được 275 loài thú có vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng thể, 2.400 loài cá, 5.000 loài sâu bọ.

  1. Tham gia các tổ chức thương mại quốc tế

  • Năm 1993 đã khai thông quan hệ với Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB);

  • Việc đạt được thỏa thuận sớm với EU, một đối tác thương mại lớn có 25 nước thành viên, đã có tác động tích cực đối với quá trình đàm phán của Việt Nam);

  • Ngày 25/7/1995 đã chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN),

  • Tham gia vào AFTA

  • Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT);

  • Tháng 3/1996 tham gia Diễn đàn Á - Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập;

  • 15/6/1996 gửi đơn xin gia nhập APEC; 11/1998 được công nhận là thành viên của APEC;

  • Năm 2000 ký Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ…

  • Tháng 1/1995 gửi đơn xin gia nhập WTO; ngày 11/01/2007 Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tuyên bố Việt Nam sẽ chính thức trở thành thành viên thứ 150.

  • Kể từ khi thực hiện đường lối mở cửa, Việt Nam đã ký các hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại khu vực mậu dịch tự do AFTA của ASEAN (2001), tham gia APEC (1998).

Việt nam tham gia vào các tổ chức thương mại thế giới góp phần tăng cường, mở rộng các mối quan hệ, giao lưu buôn bán với các nước trên thế giới, mở rộng thị trường xuất khẩu và nhập khẩu, tăng số lượng bạn hàng. Đồng thời, cũng tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho hoạt động ngoại thương của Việt nam vào các nước, như việc làm giảm các hàng rào thương mại, tự do thương mại.

  1. Lợi thế so sánh của Việt Nam

Từ những lợi thế trên đã cho thấy được tiềm năng của ngoại thương Việt Nam rất cao. Nguồn lao động dồi dào, giá rẻ và nguồn tài nguyên phong phú là hai lợi thế nổi bật nhất của nền kinh tế Việt nam so với nhiều nước khác. Theo học thuyết về lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế, Việt nam nên xuất khẩu các mặt hàng mà mình có lợi thế, và nhập khẩu các mặt hàng mà mình không có lợi thế, để làm tăng hiệu quả của nền kinh tế khi tận dụng được nguồn lực hạn chế, cũng như mang được lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội cho quốc gia qua hoạt động trao đổi, buôn bán. Và để tận dụng được lợi thế trên, theo mô hình Heckscher-Olin, Việt nam nên tập trung sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng thâm dụng yếu tố mà Việt nam dư thừa (đó là lao động và tài nguyên); và nhập khẩu các mặt hàng có nguồn lực khan hiếm.

Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt nam trong giai đoạn từ năm 2000 - nay:



  • Nhóm nông, lâm, thủy sản: gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, rau quả, chè, đường, gỗ, quế…

  • Nhóm nhiên liệu, khoáng sản: crôm, dầu thô, than đá, thiếc…

  • Nhóm công nghiệp và thủ công mỹ nghệ: hàng dệt may, giày dép; hàng gốm sứ; hàng mây, tre, cói, lá, thảm; hàng thêu…

  • Nhóm hàng khác

Đây đều là các nhóm mặt hàng thâm dụng yếu tố lao động và tài nguyên thiên nhiên, là các yếu tố mà Việt nam đang dư thừa. Ví dụ: gạo, cà phê, cao su (thâm dụng lao động và tài nguyên đất); thủy sản (thâm dụng lao động và tài nguyên nước); hàng dệt may, giày dép (thâm dụng lao động); than đá, dầu thô (thâm dụng tài nguyên khoáng sản)…

Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu:



  • Tư liệu sản xuất:

  • Máy móc, thiết bị: thiết bị, phù tụng ngành dệt, may, ngành da giày, ngành giấy, ngành nhựa; máy và phụ từng sản xuất xi măng; máy móc thiết bị hàng không; linh kiện điện tử…

  • Nguyên, nhiên vật liệu: xăng, dầu các loại; dầu mở nhờn; sắt; thép; phân bón; nhựa đường; bông; thuốc trừ sâu; bột mỳ…

  • Hàng tiêu dùng: máy điều hòa nhiệt độ, xe máy, ôtô, sữa, thuốc…

Các mặt hàng nhập khẩu là các mặt hàng mà Việt nam hiện có nguồn lực khan hiếm(nguồn nhân lực có trình độ cao, tư bản) và chưa đủ điều kiện để sản xuất: (cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ thuật cao), chủ yếu là các mặt hàng thuộc nhóm ngành công nghiệp.

Trong mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đặt ra cho nền kinh tế Việt nam. Nước ta đang dần chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp.

Để dễ phân tích, ta có thể chia các ngành công nghiệp thành năm nhóm:

Nhóm A: Những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động giản đơn, như vải vóc, quần áo, giày dép, dụng cụ lữ hành, dụng cụ du lịch, v.v..

Nhóm B: Những ngành vừa có hàm lượng lao động cao vừa sử dụng nhiều nguyên liệu nông lâm thuỷ sản như thực phẩm gia công các loại, đồ uống, v.v..

Nhóm C: Những ngành có hàm lượng tư bản cao và dựa vào nguồn tài nguyên khoáng sản như thép, hoá dầu.

Nhóm D: Những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động lành nghề, lao động có kỹ năng cao với nhiều trình độ khác nhau, như đồ điện gia dụng, xe máy, máy bom nước và các loại máy móc khác, bộ phận điện tử, linh kiện điện tử, v.v..

Nhóm E: Những ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như máy tính, xe hơi, máy công cụ, các linh kiện, bộ phận điện tử cao cấp, v.v..

Nhóm A và nhóm B là những nhóm ngành mà Việt Nam có lợi thế so sánh. Nhưng trong hai ngành chủ lực là may mặc và giày dép, hiện nay Việt Nam chỉ mới tập trung trong công đoạn gia công và chủ yếu dựa vào lao động giản đơn. Các giai đoạn cao hơn trong chuỗi giá trị hoàn toàn phụ thuộc nước ngoài. Việt Nam cần nỗ lực nội địa hoá các công đoạn có giá trị tính thêm cao. Nhưng dù sao các ngành này vẫn là nhóm thuộc các ngành Việt Nam có lợi thế so sánh tĩnh, nghĩa là những ngành đã và hiện đang có sức cạnh tranh. Lợi thế so sánh tĩnh là lợi thế hiện tại, có ngành đã phát huy được, cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế, nhưng cũng có ngành chưa phát huy được do môi trường hoạt động của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

Vấn đề quan trọng hơn, để chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của Việt nam trong tương lai, cần phải xác định được những lĩnh vực mà nhu cầu thế giới đang tăng, đồng thời Việt Nam phải có lợi thế so sánh động. Lợi thế so sánh động là lợi thế tiềm năng sẽ xuất hiện trong tương lai gần hay xa khi các điều kiện về công nghệ, nguồn nhân lực và khả năng tích luỹ tư bản cho phép. Nếu có chính sách tích cực theo hướng tạo ra nhanh các điều kiện đó, sẽ làm cho lợi thế so sánh động sớm chuyển thành sức cạnh tranh hiện thực.

Vấn đề khẩn cấp đối với Việt Nam hiện nay là xác định được những ngành hội đủ hai điều kiện này, và từ đó đưa ra các chính sách tạo ra các tiền đề, điều kiện để tiềm năng biến thành hiện thực. Trong các nhóm ngành công nghiệp trên, nhóm D và E là nhóm Việt nam có lợi thế so sánh động, vì có đủ hai điều kiện nêu trên: nhu cầu thế giới vẫn đang tăng cao về các mặt hàng trong nhóm đó, và lợi thế so sánh động của Việt nam thể hiện ở chỗ các nước có điều kiện tương đồng với Việt nam đã làm được điều này, và hiện tại Việt nam cũng đang thu hút được đầu tư của các công ty nước ngoài vào việc phát triển các nhóm ngành này.


  1. Cơ cấu ngoại thương của Việt Nam qua các thời kì

    1. Thời kì từ 2001 đến trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO năm 2007

Chính sách đổi mới, mở cửa và công nghiệp hóa 1986 đã mở ra cho Việt Nam những cơ hội mới để phát huy những lợi thế so sánh vốn có về tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, sử dụng những lợi thế đó vào việc phát triển các nguồn hàng xuất khẩu ngày càng lớn, tiêu thụ tại thị trường các nước, mang lại một nguồn thu ngoại tệ ngày càng cao phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa.

Chính sách “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” đã giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với nền kinh tế thế giới và khu vực. Nếu như trước năm 1990, Việt Nam mới có quan hệ thương mại với 40 nước, thì ngày nay nhờ thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, làm bạn, hợp tác với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 170 nước trên thế giới, ký kết các hiệp định thương mại đa phương và song phương với trên 80 quốc gia, thực hiện chế độ tối huệ quốc với trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những nước và khu vực có nguồn vốn lớn, công nghệ cao và thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU và các nền kinh tế mới công nghiệp hóa ở Đông Á.

Trong thời kì đổi mới, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mỗi năm tăng khoảng 20%, nhờ đó đã đưa tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam từ mức khoảng nửa tỷ USD/năm trong những năm trước đổi mới lên 26 tỷ USD năm 2004 và 32,23 tỷ USD năm 2005.

Năm 2001, tăng trưởng xuất nhập khẩu chỉ đạt 3,7% do tình tình kinh tế - chính trị thế giới biến động. Chỉ số này đã được cải thiện vào năm 2002, và bứt phá trong hai năm 2004-2005. Sau khi suy giảm nhẹ vào năm 2005, tốc độ tăng trưởng tiếp tục giữ ở mức cao. Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 20,5%. Kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2006 đã đạt 39,6 tỷ USD, vượt 4,9% so với kế hoạch và tăng 22,1% so với năm 2005.



Hàng xuất khẩu:

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch tiến bộ. Trong giai đoạn 1991-1995, hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm dầu thô, thủy sản, gạo, dệt may, cà phê, lâm sản, cao su, lạc, hạt điều. Đến năm 2005, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử và gạo. Cơ cấu này phản ánh xu hướng gia tăng các chủng loại mặt hàng chế biến, chế tạo, và sự giảm đi về tỷ trọng của các mặt hàng xuất khẩu thô, chủ yếu là các mặt hàng nông, lâm, hải sản và khoáng sản. Dù có sự tiến bộ như vậy, nhưng các mặt hàng xuất khẩu thô của Việt Nam đến nay vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, đòi hỏi một sự nỗ lực lớn hơn nữa để tăng nhanh các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu.



Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:

a. Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu:

Sản lượng xuất khẩu dầu thô và than đá tăng trưởng không ổn định. Khối lượng xuất khẩu dầu thô chỉ tăng nhẹ trong những năm đầu của giai đoạn 2001-2006 rồi giảm dần. Sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khi công tác thăm dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước khác không đạt nhiều tiến triển.

Để tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong những năm tới kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này sẽ giảm dần. Trong đề án xuất khẩu 2006-2010, Bộ thương mại đã điều chỉnh mục tiêu xuất khẩu khoáng sản, nhiên liệu xuống còn 9,6% vào năm 2010, trong đó giá trị xuất khẩu dầu thô còn 6,1 tỷ USD và than đá còn 325 triệu USD.

b. Nhóm hàng nông lâm thủy sản

Trong vòng 6 năm 2001-2006, giá trị xuất khẩu các mặt hàng này đã tăng lên gần gấp 3 lần. Đây là những mặt hàng chịu nhiều tác động của thị trường thế giới. Trong những năm 2001-2003, do ảnh hưởng của kinh tế thế giới suy giảm, nhu cầu về nông sản, thủy sản giảm làm giảm giá hàng loạt mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng rất chậm trong giai đoạn này. Những năm còn lại của giai đoạn 2001-2006, do tình hình kinh tế thế giới phục hồi và chi phí sản xuất gia tăng; giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã tăng nhanh.

Tóm lại, do đã có quá trình phát triển lâu dài, đã khai thác phần lớn tiềm năng nên hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam những năm qua có xu hướng tăng trưởng chậm lại về khối lượng, nhưng vẫn gia tăng nhanh về giá trị do giá cả thế giới có xu hướng tăng lên.

Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trước những thời cơ và thách thức mới. Để các mặt hàng này thực sự trở thành thế mạnh của xuất khẩu Việt Nam, về lâu dài cần phát triển theo hướng: nâng cao dần chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm lượng chế biến, đẩy mạnh hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu, phát triển hạ tầng pháp lý.



c. Nhóm hàng chế biến:

Đây là nhóm hàng gồm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: dệt may, giày dép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹ nghệ… Có thể phân chia các mặt hàng này thành hai nhóm:

+ Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ.

+ Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm.

(1) Dệt may, da giày:

Tình hình xuất khẩu dệt may, da giày của Việt Nam 6 năm qua luôn ổn định. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành dệt may là 23%, da giày là 15,3%. Hai ngành này có chung đặc điểm là sử dụng nhiều lao động, phù hợp với lợi thế lao động giá rẻ ở Việt Nam. Những hạn chế của các ngành này là phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của nước ngoài (60%-70%), hao phí điện năng lớn.

(2) Sản phẩm gỗ

Các sản phẩm gỗ gia tăng giá trị xuất khẩu một cách đều đặn trong giai đoạn 2001-2006. Trong vòng 6 năm, giá trị xuất khẩu tăng gấp 7 lần. Năm 2004 có tốc độ tăng trưởng kỉ lục 81%, qua đó đưa gỗ vào nhóm hàng có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD.

(3) Máy tính và linh kiện điện tử:

Ngành xuất khẩu hàng điện tử và linh kiện máy tính đang ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Nếu như không tính năm 2002 xuất khẩu mặt hàng này giảm đi do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân của mặt hàng này giai đoạn 2003-2006 đạt 29,4%, cao nhất trong số các mặt hàng chủ lực.

Tóm lại, vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến: dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Do vậy, giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu chưa cao, các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trong việc kí kết các hợp đồng. Nhiều sản phẩm chế biến còn mang tính chất gia công. Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu giai đoạn 2001-2006 chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nhìn chung, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp gắn bó, liên kết chặt chẽ với nhau hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn.



tải về 379.24 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương